BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC NIÊM YẾT
CỔ PHIẾU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
THƢƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 11
1.1.2.1. NHU CẦU NIÊM YẾT CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 11
1.1.2.2. TIÊU CHUẨN ĐỂ NIÊM YẾT CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG 16
1.1.2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CÁC
NGÂN HÀNG 19
1.2 TRÌNH TỰ CỦA VIỆC NIÊM YẾT CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG: 22
1.2.1 PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN LẦN ĐẦU (IPO) 22
1.2.2 ĐĂNG KÝ NIÊM YẾT 24
1.2.3 NIÊM YẾT 25
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NIÊM YẾT CỔ PHIẾU ĐẾN CÁC NHTM 27
1.3.1 GIÁ TRỊ CỦA NGÂN HÀNG 27
1.3.2 NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN 28
1.3.3 NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG : 29 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM 31
2.1 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN
QUA 31
2.1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
TM VN 31
2.1.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 32
2.1.2.1. SỐ LƢỢNG NGÂN HÀNG VÀ CHI NHÁNH 32
2.1.2.2. TỔNG TÀI SẢN CÓ 32
2.1.1.3. VỐN TỰ CÓ 33
2.1.2.4. VỐN HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY 34
2.1.2.5. NỢ XẤU: 36
2.1.2.6. KẾT QUẢ KINH DOANH 37
Error! Bookmark not defined.
3.1.2 DỰ KIẾN KẾ HOẠCH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
CỦA CÁC NHTM TRONG THỜI GIAN TỚI 48
3.1.2.1. DỰ KIẾN KẾ HOẠCH CỔ PHẦN HÓA VÀ NIÊM YẾT CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI NHÀ NƢỚC 49
3.1.2.2. KẾ HOẠCH NIÊM YẾT CỦA CÁC NHTMCP 54
3.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC NIÊM YẾT CỔ PHIẾU
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 82
3.2.1 ĐỐI VỚI ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƢỚCError! Bookmark not
defined.
3.2.1.1. NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN: 82
3.2.1.2. TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THAM GIA THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 83
3.2.1.3. KHUYẾCH TRƢƠNG NHỮNG KẾT QUẢ THU ĐƢỢC CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI ĐÃ NIÊM YẾT 84
3.2.1.4. CỔ PHẦN HOÁ GẮN VỚI NIÊM YẾT CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN: 84
3.2.2 ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC 85 3.2.2.1. TẠO MÔI TRƢỜNG CẠNH TRANH BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI (ĐẶC BIỆT LÀ GIỮA NHTMNN VÀ NHTMCP) 85
3.2.2.2. XÂY DỰNG CƠ CHẾ CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH HOÁ CÁC THÔNG
TIN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 86
3.2.2.3 KHUYẾN KHÍCH VÀ TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 86
3.2.2.4 TĂNG CƢỜNG THANH TRA, GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG 87
Bảng 2.9: Một số chỉ số về vốn của các NHTMNN 38
Bảng 2.10: Tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng giai đoạn 2000-2004 39
Bảng 2.11: Chất lượng tín dụng của các NHTM quý II/2005 40
Bảng 2.12: Độ sâu tài chính của Việt nam và một số nước (M2/GDP) 42
Bảng 2.13: So sánh quy mô tài sản của Sacombank năm 2006 với các năm 2000-
2005 49
Bảng 2.14: So sánh nguồn vốn huy động và cho vay của Sacombank năm 2006 với
các năm 2003-2005 50
Bảng 2.15: So sánh kết quả kinh doanh của Sacombank năm 2006 với các năm
2000-2005 51
Bảng 2.16: So sánh Quy mô vốn của ACB năm 2006 với các năm 2004 và 2005 55
Bảng 2.17: So sánh nguồn vốn huy động và cho vay của ACB năm 2006 với các
năm 2004 và 2005 56
Bảng 2.18: So sánh kết quả kinh doanh của ACB năm 2006 với các năm 2004 và
2005 57
Bảng 2.19: So sánh kết quả kinh doanh 2006 của các NHTM đã niêm yết và chưa
niêm yết 59
Bảng 2.20: So sánh một số chỉ tiêu của các NHTM đã niêm yết so với khối NHTM
năm 2006 (%) 60
Bảng 3.1: Dự kiến kế hoạch cổ phần hóa và niêm yết trên TTCK của các NHTM . 69 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các tài liệu trích dẫn theo các nguồn công bố. Kết quả nêu trong Luận văn là
trung thực và nội dung của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình khoa học nào.
Tác giả
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt nam đang đứng trước yêu cầu cấp
bách phải nâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và
quốc tế. Theo cam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), từ 1/4/2007, các TCTD nước ngoài sẽ được
phép thành lập các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt nam. Niêm yết
các cổ phiếu của các NHTM sẽ mở ra giải pháp cho việc tăng cường năng lực
tài chính của các NHTM VN, tạo tiền đề cho việc cơ cấu lại tổ chức hoạt
động của toàn bộ hệ thống ngân hàng VN theo hướng minh bạch, công khai
và tiếp cận dần các chuẩn mực quốc tế. Việc niêm yết cổ phiếu của các
NHTMCP cùng với việc cổ phần hoá các NHTM nhà nước được xem là một
cuộc cách mạng kế tiếp trong quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng ở nước
ta sau một thời gian củng cố, chấn chỉnh và sắp xếp lại ngành ngân hàng. Do
đó, đây là một mục tiêu quan trọng của lộ trình hội nhập quốc tế, cũng là điều
kiện tiền đề nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM và thúc đẩy thị trường
chứng khoán phát triển.
Thị trường chứng khoán Việt nam tuy đã có bước phát triển mạnh mẽ
trong năm vừa qua nhưng cũng bộc lộ những hạn chế như quan hệ cung cầu
mất cân đối, quy mô thị trường còn nhỏ bé, chưa trở thành phong vũ biểu cho
nền kinh tế. Lý do là vì hiện nay những doanh nghiệp có những đặc điểm
thích hợp cho thị trường chứng khoán như có quy mô lớn, được thành lập
dưới dạng công ty cổ phần, có quá trình kinh doanh lâu dài, có cơ chế quản trị
minh bạch còn rất ít. Do đặc thù của ngành, các ngân hàng thương mại cổ
phần và sắp tới đây là các ngân hàng quốc doanh được cổ phần hoá lại có đủ
những yếu tố này và là những doanh nghiệp lý tưởng nhất cho thị trường 2
chứng khoán hiện tại cũng như tương lai những năm sắp đến. Việc các
NHTM tham gia niêm yết sẽ giúp thị trường thoát khỏi tình trạng thiếu hàng
hiện nay và nhờ đó hoạt động của thị trường chứng khoán sẽ có vai trò lớn
quan tâm đến sự phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Tuy nhiên,
cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu hay một đề tài luận văn có tính
cơ bản, hệ thống nào được thực hiện.
Một số đề tài nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo chuyên ngành tiếp
cận vấn đề này trên góc độ đánh giá chung, có tính chất giới thiệu chủ trương,
đường lối cải cách, củng cố hệ thống ngân hàng và nhận xét, kiến nghị các
giải pháp chấn chỉnh đối với hệ thống ngân hàng. Nhiều bài viết này mới chỉ
dừng lại ở việc đề cập đến sự cần thiết của việc các ngân hàng niêm yết trên
thị trường chứng khoán mà chưa đưa ra giải pháp để đẩy nhanh quá trình lên
sàn của các ngân hàng.
3. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ nhu cầu của việc niêm yết cổ phiếu các NHTM trong tiến trình
hội nhập quốc tế, tìm hiểu những tiêu chuẩn và trình tự để các ngân hàng
niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng như những tác động của quá trình
này.
- Góp phần đánh giá về thực trạng niêm yết cổ phiếu của các NHTM trên
thị trường chứng khoán hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh việc niêm yết cổ phiếu của
các NHTM trên thị trường chứng khoán Việt nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về niêm yết cổ phiếu của ngân
hàng thương mại
- Phân tích thực trạng niêm yết cổ phiếu các ngân hàng thương mại ở
Việt nam trong bối cảnh hiện nay của TTCK Việt Nam. 4
- Phân tích những nguyên nhân hạn chế việc niêm yết của các ngân hàng
thương mại trên thị trường chứng khoán Việt nam. Từ đó, đề xuất các giải
pháp nhằm đẩy mạnh niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại trên
gia kinh tế, các thầy cô và bạn đọc để luận văn có điều kiện được bổ sung và
hoàn thiện hơn. 6
CHƢƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ VIỆC NIÊM YẾT CỔ PHIẾU
CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về niêm yết cổ phiếu các ngân hàng thƣơng
mại trên thị trƣờng chứng khoán Việt nam
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về niêm yết chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm niêm yết chứng khoán :
Niêm yết chứng khoán là thủ tục cho phép một chứng khoán nhất định
được phép giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Cụ thể, đây là quá trình
Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận cho công ty phát hành có chứng khoán
được phép niêm yết và giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán nếu công ty
đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về định lượng cũng như định tính mà Sở
giao dịch chứng khoán đề ra. Niêm yết chứng khoán thường bao hàm việc yết
tên tổ chức phát hành và giá chứng khoán. [11, tr. 188]
1.1.1.2. Mục đích của niêm yết chứng khoán :
Đối với mỗi thành viên của thị trường, việc niêm yết chứng khoán có
những mục đích khác nhau:
- Đối với tổ chức niêm yết:
+ Dễ dàng huy động vốn: Niêm yết nhằm mục đích huy động vốn thông
qua phát hành chứng khoán. Công ty được niêm yết có thể thu hút vốn dài hạn
thông qua phát hành chứng khoán với chi phí thấp.
+ Tác động đến công chúng: Niêm yết tô vẽ thêm hình ảnh của công ty
trong các nhà đầu tư, các chủ nợ, người cung ứng, các khách hàng và những
người làm công, nhờ vậy công ty được niêm yết có thể đón nhận sự thân thiện
Niêm yết bổ sung là quá trình chấp thuận của Sở giao dịch chứng 8
khoán cho một công ty niêm yết các cổ phiếu mới phát hành với mục đích
tăng vốn hay vì các mục đích khác như sáp nhập, chi trả cổ tức, thực hiện các
trái quyền hoặc thực hiện các trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu v v.
*Thay đổi niêm yết (Change Listing):
Thay đổi niêm yết phát sinh khi công ty niêm yết thay đổi tên chứng
khoán giao dịch, khối lượng, mệnh giá hoặc tổng giá trị chứng khoán được
niêm yết của mình.
* Niêm yết lại (Relisting):
Là việc cho phép một công ty phát hành được tiếp tục niêm yết trở lại
các chứng khoán trước đây đã bị huỷ bỏ niêm yết vì các lý do không đáp ứng
được các tiêu chuẩn duy trì niêm yết.
* Niêm yết cửa sau (Back door Listing):
Là trường hợp một tổ chức niêm yết chính thức sáp nhập, liên kết hoặc
tham gia vào hiệp hội với một tổ chức, nhóm không niêm yết và kết quả là
các tổ chức không niêm yết đó lấy được quyền kiểm soát tổ chức niêm yết.
* Niêm yết toàn phần và niêm yết từng phần (Dual Listing and Partial
Listing):
Niêm yết toàn phần là việc niêm yết tất cả các cổ phiếu sau khi đã phát hành
ra công chúng trên một Sở giao dịch chứng khoán trong nước hoặc nước ngoài.
Niêm yết từng phần là việc niêm yết một phần trong tổng số chứng khoán
đã phát hành ra công chúng của lần phát hành đó, phần còn lại không hoặc
chưa được niêm yết. Niêm yết từng phần thường diễn ra ở các công ty lớn do
Chính phủ kiểm soát, phần chứng khoán phát hành ra thị trường do các nhà đầu
tư cá nhân nắm giữ được niêm yết, còn phần nắm giữ của Chính phủ hoặc tổ
chức đại diện cho Chính phủ nắm giữ không được niêm yết. [11, tr. 191-192]
1.1.1.4 Tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán :
đông sáng lập và cổ đông ngoài công chúng nắm giữ mức tối thiểu. 10
* Tiêu chuẩn định tính:
- Triển vọng của công ty: Một công ty có tiềm năng phát triển sẽ thu hút
sự quan tâm của công chúng và các nhà đầu tư. Đồng thời, đây cũng là điều
kiện cần để công ty tồn tại và cạnh tranh được trên thị trường.
- Phương án khả thi về sử dụng vốn của đợt phát hành: Vốn của đợt phát
hành sẽ được sử dụng cho những mục đích kinh doanh và kế hoạch phát triển
của công ty. Hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đó được thể hiện trong
phương án sử dụng vốn.
- Ý kiến kiểm toán về các báo cáo tài chính: Trách nhiệm của kiểm toán
là phải đưa ra được báo cáo tài chính đầy đủ, trung thực và cung cấp được cho
các cổ đông những thông tin xác thực nhất về tình hình tài chính của công ty
niêm yết. Ý kiến của kiểm toán viên không chỉ có giá trị về mặt pháp lý mà
còn tạo cơ sở cho các nhà đầu tư và công chúng trong quá trình thu thập thông
tin ra quyết định đầu tư.
- Cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty (HĐQT và BGĐ điều hành) : Cơ
cấu tổ chức hiệu quả, hợp lý sẽ tiết kiệm chi phí quản lý, đồng thời tăng hiệu
quả hoạt động, đem lại lợi nhuận cao.
- Mẫu chứng chỉ chứng khoán
- Lợi ích mang lại đối với ngành, nghề trong nền kinh tế quốc dân: Lợi
ích mang lại càng lớn thì càng được khuyến khích phát triển và do đó công ty
cũng sẽ nhận được nhiều sự quan tâm và ưu đãi hơn về mặt tài chính cũng
như về các thủ tục hành chính .v v.
- Tổ chức công bố thông tin : Nếu thông tin cung cấp thông tin cho các
nhà đầu tư càng nhiều và càng chính xác thì họ càng có thể đưa ra các quyết
định phù hợp hơn, và họ sẽ đầu tư nhiều hơn.
Ngoài ra, còn có quy định niêm yết trong những trường
biệt, thậm chí có nguy cơ phá sản gây mất lòng tin với dân chúng và tác động
xấu tới nền kinh tế. Một chương trình cải cách toàn diện khu vực tài chính, 12
đặc biệt là các ngân hàng TM đã được thực hiện dựa trên cơ sở các đề án củng
cố, chấn chỉnh các NHTMCP (năm 1998) và đề án cơ cấu lại các NHTMNN
(năm 2001). Nội dung chủ yếu của các đề án này bao gồm: i) Cơ cấu lại tổ
chức bộ máy, ii) Cơ cấu lại hoạt động, iii) Cơ cấu lại tài chính (tăng vốn tự có
và xử lý nợ xấu). Do đó, việc các NHTM đáp ứng đầy đủ các điều kiện và
tham gia niêm yết trên TTCK là vấn đề được đặt ra phù hợp với thực tiễn hiện
nay, xuất phát từ nhu cầu cải cách hệ thống ngân hàng đang được thực hiện.
Hơn thế nữa, hệ thống ngân hàng Việt nam đang đứng
trước yêu cầu cấp bách phải nâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội
nhập khu vực và quốc tế, cải cách ngân hàng càng trở nên cấp thiết. Theo cam
kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), từ 1/4/2007, các TCTD nước ngoài sẽ được phép thành lập các ngân
hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt nam. Lĩnh vực ngân hàng, giống như bảo
hiểm và các dịch vụ tài chính khác, được dự báo sẽ là điểm nóng trong thời kỳ
hậu WTO về phát triển và cạnh tranh. Trong khi đó, những nhược điểm được
xem là có tính quyết định đến khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong
tiến trình hội nhập đó là năng lực tài chính còn yếu, vốn tự có chưa đáp ứng
được hệ số an toàn theo thông lệ quốc tế, năng lực và trình độ quản trị ngân
hàng còn yếu, sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng, thiếu chiến lược cụ thể, công
nghệ thông tin vận hành chưa đồng bộ. Việc tham gia niêm yết trên thị trường
chứng khoán sẽ giúp các giải quyết được những vấn đề này. Bởi vì, khi lên
sàn, các ngân hàng sẽ có cơ hội huy động vốn tập trung, khối lượng lớn phục
vụ cho quá trình phát triển từ đó mở rộng quy mô kinh doanh, hiện đại hoá và
đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu về an toàn hoạt động.
Ngoài ra, khi niêm yết cổ phiếu, các ngân hàng sẽ phải
* Nhu cầu từ sự phát triển thị trƣờng chứng khoán:
Thị trường chứng khoán Việt nam sau 6 năm hoạt động đã có những 14
bước phát triển đáng kể. Năm 2006 được coi là một năm khởi sắc đối với sự
phát triển của thị trường chứng khoán Việt nam, thị trường tương đối ổn định
và đã đạt được sự tăng trưởng nhất định về giao dịch và đầu tư chứng khoán
niêm yết. Tính đến 31/12/2006 đã có 193 công ty niêm yết, tổng giá trị vốn
hóa thị trường cổ phiếu đạt 221.156 tỷ đồng (tương đương 14 tỷ USD), chiếm
22,7% GDP 2006, số tài khoản giao dịch của nhà đầu tư vào khoảng 100.000,
nhà đầu tư nước ngoài có khoảng 1700 tài khoản và hiện nắm giữ khoảng 25-
30% số lượng cổ phiếu của các công ty niêm yết. Tuy nhiên, theo đánh giá
của UBCKNN, năm 2006 thị trường chứng khoán Việt nam phát triển mạnh
nhưng cũng bộc lộ những hạn chế như quan hệ cung cầu mất cân đối, quy mô
thị trường còn nhỏ bé. Một trong những giải pháp cho TTCK năm 2007 và
những năm tiếp theo vẫn là tăng cường số lượng và chất lượng cung cầu cho
thị trường. Trong đó, sự tham gia của cổ phiếu ngân hàng được đánh giá là rất
quan trọng trong việc tạo ra những nguồn hàng chất lượng, hấp dẫn cũng như
tạo thêm cơ hội cho nhà đầu tư.
1
Thực tế, thị trường đã có sự chào đón khá đặc biệt đối với cổ phiếu của
Sacombank và ACB. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 2 ngân hàng trên tổng số gần
200 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán là một con số quá
ít ỏi (ở TTCK thế giới cổ phiếu ngân hàng chiếm khoảng 30% tỷ lệ cổ phiếu
niêm yết). Trong khi đó, theo khảo sát 3948 độc giả của Thời báo kinh tế Việt
nam về triển vọng hấp dẫn đầu tư cổ phiếu các ngành hàng đã cho kết quả cổ
phiếu ngành Ngân hàng – Tài chính đứng ở vị trí đầu bảng với 36,5% bạn đọc
Singapore mua cổ phần của NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Điều này lại càng làm nên sức hút của cổ phiếu ngân hàng. Chính vì vậy, khi
các NHTMCP niêm yết cổ phiếu trên TTCK chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm
của các nhà đầu tư và tạo ra sự sôi động mới cho TTCK VN.
Mặt khác, trên thực tế, trên thị trường chứng khoán phi chính thức OTC,
cổ phiếu ngân hàng được xem là loại hàng được nhà đầu tư săn lùng nhiều 16
nhất và giá cả tiếp tục leo thang
2
. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư vẫn quyết định
bỏ vốn vào lĩnh vực ngân hàng với kỳ vọng khi gia nhập WTO, các NHTM
Việt nam buộc phải tự đổi mới, phải cải cách mới có thể cạnh tranh được với
các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chính vì thế, các nhà đầu tư đánh giá
khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng vẫn cao hơn các lĩnh vực khác. Nhiều
nhà đầu tư thậm chí còn mạo hiểm mua đón đầu cổ phiếu ngân hàng của
những ngân hàng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc mua cả quyền
mua cổ phiếu của những ngân hàng chưa được cấp giấp phép thành lập. Trước
tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã phải đưa ra những khuyến cáo đối với
các nhà đầu tư. Điều này một mặt cũng cho thấy sức hút mạnh mẽ của cổ
phiếu ngân hàng mặt khác cũng cho thấy sự cần thiết phải đưa cổ phiếu của
NHTMCP lên niêm yết trên thị trường chứng khoán chính thức để bảo vệ
quyền lợi của các nhà đầu tư, góp phần lành mạnh hóa hoạt động của
TTCKVN. Như vậy có thể nói các nhà đầu tư cũng đang rất nóng lòng chờ
đợi cổ phiếu của các NHTMCP sẽ sớm được niêm yết trên thị trường chứng
khoán chính thức.
1.1.2.2. Tiêu chuẩn để niêm yết cổ phiếu ngân hàng
* Quan điểm xác định tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu ngân hàng thƣơng
mại Việt Nam:
3. Tỷ lệ nợ xấu (bao gồm: các khoản nợ quá hạn, nợ chờ xử lý, nợ cho
vay được khoanh được thể hiện trên Bảng cân đối kế toán hàng tháng, nợ
chuyển cho Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để xử lý thu hồi vốn cho
tổ chức tín dụng cổ phần) so với tổng dư nợ cho vay liên tục trong 02 năm
gần nhất dưới 3%.
4. Không vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và
các quy định khác của pháp luật, không bị xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với mức xử phạt trên 1.000.000 đồng
(một triệu đồng) trong thời gian ít nhất 01 năm tính đến thời điểm xin đăng ký
niêm yết cổ phiếu.
5. Tuân thủ giới hạn sở hữu cổ phần theo quy định của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước.