Ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đến đạo đức con người việt nam hiện nay - Pdf 57

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

TẠ THỊ HỒNG THANH

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

TẠ THỊ HỒNG THANH

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học

Th.S Nguyễn Thị Giang


trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người thực hiện

Tạ Thị Hồng Thanh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:................................................................ 6
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
6. Ý nghĩa của khóa luận................................................................................... 7
7. Kết cấu của khóa luận ................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN SINH
QUAN PHẬT GIÁO......................................................................................... 8
1.1. Khái quát về sự ra đời Phật giáo ................................................................ 8
1.1.1. Sự hình thành và phát triển Phật giáo ..................................................... 8
1.1.2. Quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam .............................. 9
1.2. Nhân sinh quan Phật giáo......................................................................... 13
1.2.1. Nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật giáo ............... 13
1.2.2. Khái niệm nhân sinh quan, nhân sinh quan Phật giáo .......................... 15
1.2.3. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo ...................................................... 17
1.3. Đạo đức và kết cấu của đạo đức............................................................... 23
1.3.1. Khái niệm đạo đức trong lịch sử triết học............................................. 23
1.3.2. Khái niệm đạo đức theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin................. 24
1.3.3. Kết cấu của đạo đức .............................................................................. 26
CHƯƠNG 2. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT

du nhập cho đến nay, Phật giáo đã sớm khẳng định được mình và tìm được
một chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn hóa xã hội của con người Việt
Nam .
Phật giáo có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội ở
Việt Nam. Bên cạnh việc lựa chọn đúng được con đường, cách thức truyền bá
phù hợp với tâm lý, truyền thống văn hóa thì nội dung giáo lý của nhà Phật
gần gũi với đời sống tinh thần của người Việt. Với tinh thần từ, bi, hỉ, xả của
mình trong nhân sinh quan, Phật giáo đã có sự khác biệt với những hệ tư
tưởng cùng thời được du nhập truyền bá vào Việt Nam và được con người
Việt Nam đón nhận một cách rất tự nhiên như “nước ngấm vào lòng đất” và
đã len lỏi vào trong đời sống của từng cá nhân, từng cộng đồng người Việt
sinh sống. Nếu như Nho giáo phải mất một thời gian khá dài khi mà xã hội
Việt Nam đã tương đối phát triển mới được nhân dân trọng dụng, bên cạnh đó
Phật giáo ngay từ buổi đầu du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng được hòa
mình vào cùng với nền văn hóa của người bản địa bằng chính những câu
chuyện thần thoại mang đến cho con người sự thoải mái trong tâm lý và đầy
tính nhân văn cao cả (Hình ảnh ông Bụt hiện lên giúp đỡ con người khi gặp
khó khăn, hoạn nạn,…). Điều này, đã được minh chứng trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Người Việt tiếp thu Phật giáo và đã
có những vận dụng những giáo lý này phù hợp với đời sống xã hội và hoàn
cảnh lịch sử của dân tộc mình. Phật giáo ở Việt Nam mang một nét rất riêng,
khác hẳn với Phật giáo ở các quốc gia khác như: Trung Quốc, Thái Lan, Lào..
Người Việt đã biết rằng Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo với hệ
thống thần linh và những nghi lễ thờ cúng của mình, mà nó còn là một học
thuyết triết học tương đối thâm sâu. Trong những tư tưởng triết học đó, ngoài
sự lí giải về quan niệm sống của con người thì Phật giáo đã dành nhiều những

1



dân tộc thì sẽ không bị hòa tan với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì

2


vậy với chức năng truyền đạo của mình với nội dung triết lí nhân sinh quan
của Phật giáo đã có những đóng góp không nhỏ trong công cuộc xây dựng đất
nước ta trong giai đoạn đổi mới hiện nay . Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực
tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo
đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhân sinh quan Phật giáo là một trong những đề tài đã được rất nhiều
nhà khoa học, Phật tử nghiên cứu, đặc biệt trong thời gian gần đây khi nền
kinh tế ngày càng phát triển và rất nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết, cụ
thể là:
Tác giả Peter D.Santina (1984), viết cuốn sách“Fundamentals of
Buddhism" ( Nền tảng của đạo Phật). Cuốn sách này được Thích Tâm Quang
dịch sang tiếng Việt năm 1996. Trong cuốn sách này tác gỉa đã trình bày
mười hai bài giảng về lịch sử ra đời của đạo Phật và những giáo lý của đạo
Phật như: Tứ diệu đế, triết lý nhân duyên, nghiệp,… Tác giả đã xuất phát từ
quan điểm của một Phật tử phương Tây, có hiểu biết sâu sắc phần giáo lý nên
khi trình bày đã làm rõ nội dung trong quan niệm nhân sinh của đạo Phật. Qua
cuốn sách này đã giúp cho em có hiểu biết thêm về cách nhìn của người
phương Tây đối với nhân sinh quan Phật giáo, từ đó có thể thấy được sự khác
biệt giữa nhân sinh quan Phật giáo ở Việt Nam với nhân sinh quan Phật giáo
nguyên thuỷ và nhân sinh quan Phật giáo được truyền bá và vận dụng trong
đời sống tinh thần của một số quốc gia khác .
Năm 1984, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học xuất
bản cuốn “Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập hợp 25

quá trình làm khoá luận có một cách nhìn toàn diện và phong phú trong quá
trình nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức
con người. Thấy được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực từ những ảnh
hưởng trên .
Nhà tu hành Thích Chân Quang với tác phẩm “Luận về nhân quả”
(2005), Nxb Tôn giáo. Trong cuốn sách này, tác giả Thích Chân Quang
cho rằng đối với đạo Phật, chúng sinh có ba mục đích cần nhắm đến:
“Một là, sống trong luân hồi bớt đau khổ, có phước bão cõi trời cõi người;
Hai là, thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sinh tử, có được niết bàn an vui ;
Ba là giáo hóa cho chúng sinh cùng được thành tựu trí tuệ giải thoát,
gọi là hạnh đạo Bồ tát”.

4


Đây cũng là cách nhìn của những người tu hành về nhân sinh quan
Phật giáo, khi nghiên cứu cũng giúp cho em có sự so sánh giữa những nhà
nghiên cứu về Phật giáo không phải là nhà tu hành và những nhà nghiên cứu
Phật giáo là nhà tu hành để thấy rõ sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống
tinh thần của người Việt hiện nay .
Ngoài những tác phẩm trên còn có ra còn một số công trình khác (sách
tham khảo, bài đăng trên các tạp chí khoa học,…) cũng có ít nhiều đề cập đến
nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo như: Lê
Hữu Tuấn “Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn
hóa tinh thần ở Việt Nam” (1988), Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Tài Thư (chủ biên),“Ảnh hưởng của các
hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” (1997), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đăng Duy (1999), “Phật giáo với văn
hóa Việt Nam”, Nxb Hà Nội; Nguyễn Hùng Hậu (2002), “Đại cương triết học
Phật giáo Việt Nam”, tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Thị Bảy

của người Việt Nam hiện nay; từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát
huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân
sinh quan Phật giáo đến đạo đức của người Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên khóa luận có nhiệm vụ:
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về Phật giáo và nhân sinh quan
Phật giáo.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức
của người Việt trên các lĩnh vực: Ý thức đạo đức; hành vi đạo đức; quan hệ
đạo đức.
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức con
người Việt Nam hiện nay .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức trong
xã hội Việt Nam hiện nay.

6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay..
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Khóa luận sử dụng phương pháp luận chung của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác
- Lênin. Đồng thời, khoá luận còn sử dụng các phương pháp: logic - lịch sử,
phương pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, so sánh,…
6. Ý nghĩa của khóa luận
- Khoá luận có thể làm tài liệu cho các bạn sinh viên và nhà nghiên cứu

sinh ra là một vị hoàng tử của vương quốc Thích-ca (Sakya) tại vùng chân
núi Hy mã lạp sơn, nay thuộc nước Nepal. Ngài sống cuộc sống trong nhung
lụa, có một thời niên thiếu cao sang và đã kết hôn với công chúa Da-du-đàla (Yasodhara), và có một người con trai tên là La-hầu-la (Rahula). Nhưng,
bản thân Đức Phật lại không hề muốn sống cuộc sống cuộc sống nhung lụa kế
vị vua cha mà ngược lại, ngài rời bỏ hoàng cung theo các nhà tư tưởng học
tập, cuối cùng Thích Ca tự mình sáng lập học thuyết và đã được truyền bá
khắp nơi sau đó được phát triển thành một tôn giáo lớn trên thế giới .
Một ngày nọ Ngài đánh xe ngựa dạo chơi trên đường phố, Ngài đã
nhìn thấy những cảnh vật làm thay đổi cách suy nghĩ của Ngài. Ngài thấy
một cụ già run rẩy, một người bệnh rên siết và một tử thi sình thối. Những
cảnh tượng này đã khiến chô Đức Phật phải suy nghĩ rất nhiều và quyết tâm
tìm ra được cách để giúp cho toàn nhân loại thoát khỏi những khổ đau của đời
sống đem lại, để con người thoát khỏi hoạn khổ đau .
Lúc 29 tuổi, Sĩ-đạt-đa rời hoàng cung, rời xa gia đình và vợ con, bỏ lại
cả vương quốc của mình để gia nhập sống đời sống của một đạo sĩ khất thực
trong 6 năm, để đi tìm con đường diệt khổ cho cuộc đời con người. Vào đêm
trăng rằm tháng Tư, khi ngồi thiền dưới cội cây Bồ đề ở Gaya, Ngài tìm được
lời giải đáp và giác ngộ. Lúc đó, Ngài được 35 tuổi. Đấng Giác Ngộ giờ đây
được gọi là Đức Phật .
Trong cả cuộc đời hoằng hóa, dù phải đối phó với bao nhiêu trở ngại,
Đức Phật lúc nào cũng giữ một phong thái an nhiên tự tại, và ngay cả trong
giờ phút lâm chung, Ngài vẫn bình thản cho dù thân xác đã suy kiệt. Ngay
trong giờ phút cuối cùng đó, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy và khuyên bảo các


đệ tử để họ tiếp tục tu tập theo giáo pháp của Ngài: “Nầy các tỳ kheo, Như Lai
khuyên quý vị rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường, quý vị hãy tinh tấn với
chánh niệm”. Đó là những lời cuối cùng của đức Phật, và Ngài nhập diệt vào
năm 80 tuổi, trong năm 543 trước Công Nguyên .
Sự ra đời của Phật giáo cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm là

chủ.
Đến thế kỷ X, khi nước ta đã giành được quyền tự chủ, trong thời kỳ
này Phật giáo bắt đầu phát triển hưng thịnh và có những đóng góp tích cực
cho sự phát triển đất nước. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định ra phẩm trật
tăng già và ban chức cho tăng sĩ. Vua Đại Hành sau khi hòa với nhà Tống đã
sai sứ sang triều cống Trung Hoa và xin thỉnh kinh Phật đem về truyền bá.
Nhiều thiền sư như Thiền sư Pháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh đã được vua Lê
Đại Hành mời tham gia vào chính sự, góp phần to lớn vào sự hưng thịnh của
đất nước.
Triều Lý, triều đại được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên trong các
triều đại phong kiến Việt Nam. Lý Thái Tổ vị vua đầu tiên sáng lập nên nhà
Lý là người xuất thân từ cửa Phật, được nuôi dưỡng và trưởng thành ở chốn
thiền môn. Mọi công việc lớn nhỏ của nhà nước trong giai đoạn này đều có sự
đóng gớp ý tưởng của các vị thiền sư. Triều đình lúc này đã cử sứ thần sang
Trung Quốc thỉnh kinh và khuyến khích việc xuất gia tu hành . Phật giáo
được trọng dụng nên phát triển rất nhanh, chùa Phật được xây dựng ở hầu
khắp các làng xã và trở thành trung tâm tôn giáo lớn nhất ở nông thôn miền
Bắc lúc bấy giờ. Có thể nói, hơn 200 năm dưới triều đại nhà Lý Phật giáo đã
chiếm vị trí độc tôn và có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi phương diện
của đời sống xã hội Đại Việt.
Sang đến thời nhà Trần, bộ máy hành chính nhà nước đã dần được xây
dựng và hoàn chỉnh hơn. Nho giáo lúc này dần chiếm vị trí quan trọng trong
đời sống tinh thần và tổ chức xã hội. Nhưng Phật giáo thời Trần đến giữa thế
kỷ XIV vẫn giữ được sự hưng thịnh của nó. Các vua đời nhà Trần ý thức
được rõ vai trò của Nho giáo và Phật giáo đối với xã hội. Trải qua quá trình
du nhập và phát triển đến thời Trần, Phật giáo ở Việt Nam đã có sự góp mặt
của ba thiền phái từ Ấn Độ và Trung Quốc là Tỳ Ni Đa Lưu chi, Vô Ngôn
Thông và Thảo Đường. Các tăng sĩ đời Trần đã không còn trực tiếp đóng góp
vào sự nghiệp chính trị như trước nữa, nhưng Phật giáo vẫn là một yếu tố
quan trọng để liên kết nhân tâm và cố kết cộng đồng. Ở thời kỳ này rất nhiều

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hòa bình, hai miền Bắc
Nam thu về một mối đã tạo điều kiện cho các hệ phái Phật giáo thống nhất.
Tháng 11/1981, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại Hà
Nội. Đại hội đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam thông qua hiến chương,
chương trình hành động và bầu ra cơ quan lãnh đạo. Đến nay, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam đã trải qua sáu kỳ Đại hội và không ngừng trưởng thành và
phát triển.


Đánh giá khái quát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt
Nam chúng ta có thể rút ra được một số nhận xét sau:
Thứ nhất, Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường dân dã và mang tính
tự phát thông qua các thương nhân Ấn Độ và các nhà truyền giáo Trung
Quốc. Khác với đạo Công giáo, Phật giáo vào Việt Nam hoàn toàn mang tính
tự phát. Công lao đầu tiên của việc Phật giáo du nhập vào Việt Nam phải kể
đến vai trò của các thương nhân Ấn Độ. Từ những năm đầu công nguyên
người Ấn Độ đã đi buôn bán với nhiều nước trong vùng Địa Trung Hải,
Trung Đông, Đế quốc La Mã. Họ đi nhiều nơi để tìm nguồn nguyên liệu và
hàng hóa, chính trong quá trình đó họ đã tới Đông Nam Á trong đó có Việt
Nam. Họ đến Việt Nam mang theo: y thuật, phong tục tập quán và sinh hoạt
tôn giáo của người Ấn Độ. Những đặc điểm văn hóa này đã có những ảnh
hưởng đến đời sống của người dân bản địa Việt Nam. Họ đã đem Phật giáo
đến Việt Nam một cách tự phát và không có chủ đích.
Thứ hai, Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường hòa bình và
ít gây ra xung đột với văn hóa bản địa. Phật giáo xâm nhập vào cuộc sống tinh
thần người Việt Nam một cách rất tự nhiên. Ngay từ buổi đầu mới du nhập,
Phật giáo đã nhanh chóng được người Việt Nam đón nhận mà hầu như không
gặp phải bất kỳ một trở ngại nào. Nó còn được tiếp nhận một cách nhanh
chóng vì bản thân nó có rất nhiều điểm phù hợp với hệ thống tín ngưỡng dân
gian của người Việt. Người Việt thời kỳ này tin tưởng có ông trời trên cao

phải kể đến Phật giáo thời Lý, Trần trong lịch sử Việt Nam.
1.2. Nhân sinh quan Phật giáo
1.2.1. Nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật giáo
Ph.Ăngghen đã nói: “Nhưng tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự
phản ảnh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở
bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó
những lực lương ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần
thế”[17, tr 176]. Đây có nghĩa là, tôn giáo do con người sáng tạo ra và tôn
giáo không sáng tạo ra con người song bên cạnh đó nó lại có những ảnh
hưởng rất lớn đến rất nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống con người.
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, đã được truyền
bá và ảnh hưởng tới rất nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới như: Xiry, Ai
Cập, Thái Lan, Việt nam, Trung Quốc, Mianma và một phần các quốc gia
Anh, Đức, Pháp,…và nó đã nhanh chóng trở thành tôn giáo có tính ảnh hưởng
lớn trên thế giới.


Đức Phật đã được chứng kiến những nỗi khổ cực của cuộc sống con
người trong xã hội. Qua thời gian học đạo, Đức Phật đã nhìn thấy những con
đường sai lầm của cuộc sống vật chất con người. Đức Phật cho rằng, cuộc
sống dù giàu sang đến đâu cũng chỉ là tầm thường, còn cuộc đời tu hành khổ
hạnh thì tăm tối, mà chỉ có con đường trung đạo thì mới là con đường đúng
đắn cho con người. Từ đó, với những suy tư sâu thẳm, Đức Phật đã giác ngộ
được chân lý. Người đã chỉ ra được nguồn gốc sinh ra nỗi khổ của con người và
những để giúp con người giải thoát khỏi nỗi đau khổ đó. Với tư cách là
một tôn giáo, Phật giáo đã xoa dịu đi những nỗi khổ đau của con người phải
gánh chịu trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp vô cùng khắc nghiệt như ở
Ấn Độ cổ đại và cả các quốc gia khác trên thế giới. Bao trùm lên đó, là nhân
sinh quan từ bi của đạo Phật .
Giáo lý của đạo Phật là hệ thống các quan niệm về nhận thức luận, thế

tượng nghiên cứu chủ yếu của Phật giáo là con người, là giá trị nhân sinh.
Qua việc phải chứng kiến nỗi khổ của con người ở đời sống trần thế mà Thích
Ca Mâu Ni đã xây dựng học thuyết mang đậm giá trị nhân sinh để giải thoát,
cứu khổ cho con người khỏi khổ nạn. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Ấn Độ,
với sự thống trị của tư tưởng duy tâm tôn giáo Bà la môn và chế độ phân biệt
đẳng cấp khắt khe, Phật giáo ra đời là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận uy
thế của kinh Vêđa và đạo Bà la môn, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do
tư tưởng và sự bình đẳng xã hội, xóa bỏ nỗi khổ trong đời sống của người dân
Ấn Độ. Đây là sự thể hiện tinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân đối
với chế độ xã hội đương thời. Đức Phật tuyên bố: Không có đẳng cấp trong
dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, con
người sinh ra không phải đã mang sẵn trong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu
tin ca (dấu hiệu quý phái của dòng Bà la môn) trên trán. Qua đó thể hiện mặt
tích cực của nhân sinh quan Phật giáo trong lĩnh vực sinh hoạt xã hội. Nguyện
vọng cứu khổ của Đức Phật mang tính nhân văn sâu sắc, còn có cứu được khổ
hay không lại là chuyện khác. Do vậy, Phật giáo rất gần gũi với con người .
1.2.2. Khái niệm nhân sinh quan, nhân sinh quan Phật giáo
Từ lâu trong triêt học, khái niệm “nhân sinh quan” thường được các
học giả bàn đến và được sử dụng trong sự tương quan so sánh trong mối quan
hệ với thế giới quan. Vì vậy, khi nhắc đến nhân sinh quan, trước hết chúng ta
xem xét đến khái niệm “thế giới quan”.
Khái niệm thế giới quan: Có rất nhiều những nhận định của các tác giả,
các nhà triết học về khái niệm thế giới quan khác nhau. Trong cuốn giáo trình
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đưa ra khái niệm về
thế giới quan:“Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của


con người về thế giới, về bản thân con người, về bản thân con người , về cuộc
sống và vị trí của con người trong thế giới đó”[17, tr33]. Theo ý nghĩa trên, ta
thấy được thế giới quan đóng vai trò định hướng giúp con người xác định



bản chất con người, thái độ và hành vi tu tập của con người nhằm mục đích
giải thoát”.
1.2.3. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo
Những triết lý nhân sinh của đạo Phật được bắt nguồn chính từ thế giới
quan, do thế giới quan của Phật giáo chi phối.
Vì khuôn khổ của khóa luận có hạn, nên em chỉ nghiên cứu ảnh hưởng
của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay
trong thuyết “Tứ diệu đế” của nhân sinh quan Phật giáo. Đây là một hệ thống
gồm các quan niệm về con người và cuộc đời của con người.
1.2.3.1. Học thuyết về cấu tạo con người
Phật giáo tập trung vào nghiên cứu về sự xuất hiện và tái sinh của con
người và những học thuyết về cấu tạo con người. Đạo Phật cho rằng bản thân
con người được cấu tạo từ những yếu tố thể hiện trong thuyết Danh sắc và
thuyết Lục đại .
Thuyết Danh sắc: Học thuyết này cho rằng con người được cấu tạo từ
hai yếu tố chính là vật chất và tinh thần .
Thuyết Lục đại: Học thuyết này cho rằng con người được cấu tạo từ
sáu yếu tố là: Địa; Thủy; Hỏa; Phong; Không và Thức. Trong 6 yếu tố này thì
5 yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ có một yếu tố cuối cùng là thuộc về tinh
thần .
Thuyết Ngũ uẩn: Nhìn nhận con người được cấu tạo từ năm yếu tố
gồm: Sắc; Thụ; Tưởng; Hành; Thức .
Các học thuyết về cấu tạo con người của Phật giáo, chúng ta thấy rằng
thuyết Ngũ uẩn là phổ biến hơn cả. Như vậy, Phật giáo cho rằng, con người
không có thực thể là "không", gọi là "nhân vô ngã" (nhân không). Con người
được tạo thành từ Ngũ uẩn cho nên không có chủ thể hằng thường tự tại. Theo
Phật giáo, có hai loại vô thường, đó là: sát na vô thường và tương tục vô
thường. Trong đó, sát na vô thường chỉ sự biến hóa trong khoảng thời gian

Đức Phật trình bày trong thuyết “Tứ diệu đế” của nhân sinh quan Phật giáo.
Gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Theo lời Đức Phật bàn về cuộc
đời con người đã xuất phát từ: Khổ đế, “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay.
Ta chỉ nói lên khổ và sự diệt khổ”. Phật giáo quan niệm cuộc đời của con
người là khổ đau, khổ đau là điều tất yếu và là chân lý. Đức Phật đã hết sức
rung động trước những khổ đau của loài người và cho rằng: “Đời là bể khổ,
đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt
chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh
mặn hơn nước biển”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status