Ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng Sông Hồng hiện nay - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------***-----------

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN
PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------***-----------

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN
PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐẾN
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN
NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ................................................................... 29
2.1. Nhân sinh quan Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo vùng đồng bằng sông
Hồng.......................................................................................................................... 29
2.1.1. Nhân sinh quan Phật giáo ...............................................................29
2.1.2. Nhân sinh quan Phật giáo vùng đồng bằng sông Hồng ..................42
2.2. Đời sống tinh thần và những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của
cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay................................................................... 55
2.2.1. Đời sống tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay .....55
2.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần cư dân đồng
bằng sông Hồng hiện nay ..........................................................................71
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................76


Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐẾN
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN
NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ................................. 77
3.1. Thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần
cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay................................................................... 77
3.1.1. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức của cư dân
đồng bằng sông Hồng hiện nay .................................................................77
3.1.2. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến lối sống của cư dân
đồng bằng sông Hồng hiện nay .................................................................91
3.1.3. Thực trạng ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến văn hóa nghệ
thuật của cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay ...................................104
3.2. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo
đến đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay .................................................... 113
Tiểu kết chương 3................................................................................................. 117
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM

ĐẾN LUẬN ÁN..............................................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................152
PHỤ LỤC .......................................................................................................165


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Đồng bằng sông Hồng:

ĐBSH

Giáo hội Phật giáo Việt Nam:

GHPGVN

Chủ nghĩa xã hội:

CNXH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

CNH, HĐH

Nhà xuất bản:

Nxb

Trước công nguyên:

TCN

đời sống tâm linh của quần chúng, trở thành một thứ đạo đức ứng xử của nhân dân.
Trong môi trường thuận lợi này, Phật giáo đã hòa quyện với tín ngưỡng dân gian, làm
biến dạng không chỉ các tín ngưỡng dân gian, mà ngay với bản thân Phật giáo, tạo

1


nên một thứ tôn giáo - tín ngưỡng độc đáo, đó là Phật giáo dân gian. Dù cho lịch sử
với những thăng trầm của các triều đại nhưng đồng bằng sông Hồng vẫn là trung tâm
Phật giáo lớn, có ảnh hưởng rộng khắp cả nước. Hiện nay, những ảnh hưởng của Phật
giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng vẫn tiếp tục, đan xen, sâu sắc,
phong phú đến đời sống tinh thần cư dân nơi đây trên cả hai bình diện tích cực và tiêu
cực. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải dùng quan điểm khoa học để nghiên cứu một cách
toàn diện ảnh hưởng của Phật giáo - đặc biệt là nhân sinh quan Phật giáo, từ đó có cơ
sở khoa học rút ra những quan điểm, biện pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực,
hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư
dân ĐBSH hiện nay là việc làm rất cần thiết.
Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường, vùng
ĐBSH hiện nay đang có bước chuyển mình quan trọng, đã đạt được những thành
tựu to lớn về kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống tinh thần cho người
dân. Người dân được thụ hưởng nhiều mô hình, hình thức giải trí thông qua các
phương tiện truyền thông như internet, điện thoại, truyền hình… Đi cùng với những
giá trị tích cực của nền kinh tế thị trường, mặt trái cũng đã bắt đầu lộ rõ. Cư dân
ĐBSH hiện nay đang phải đối mặt với một thực trạng đáng lo ngại về mặt đạo đức
xã hội. Con người bị cuốn vào vòng xoáy của lợi nhuận. Lối sống nhanh, sống gấp
trở nên phổ biến. Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cư dân ĐBSH hun
đúc hàng ngàn năm bị xem nhẹ, thậm chí bị bỏ qua. Con người lao vào kiếm tiền để
rồi đôi khi bị chính đồng tiền chi phối, điều khiển. Tất cả mọi thứ đều có thể đem ra
cân, đong, đo, đếm, kể cả nhân cách của con người. Tỷ lệ những vụ trọng án như
giết người cướp của, tham ô, tham nhũng,… ngày một gia tăng. Mặt trái của nền

- Làm rõ nội dung của nhân sinh quan Phật giáo nói chung và nhân sinh quan
Phật giáo vùng ĐBSH nói riêng, cùng với đời sống tinh thần của cư dân ĐBSH hiện nay.
- Phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống
tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng
tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống
tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân
ĐBSH hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến
một số lĩnh vực của đời sống tinh thần, cụ thể là đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ

3


thuật qua một số tỉnh thành đông dân, có nhiều hoạt động Phật giáo ở ĐBSH hiện
nay, gồm các tỉnh: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định.
- Về thời gian: đề tài giới hạn từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, đặc biệt là
từ năm 1990, Bộ Chính trị ra nghị quyết “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình
hình mới” (gọi tắt là Nghị quyết số 24). Nghị quyết này đề ra những quan điểm về
công tác tôn giáo phù hợp với tình hình đất nước đang bước vào giai đoạn đầu của
công cuộc đổi mới.
- Về đối tượng khảo sát: Bao gồm 02 nhóm đối tượng đang sinh sống, học
tập và làm việc trên địa bàn 05 tỉnh: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam
Định thuộc vùng ĐBSH hiện nay: Một là, những người không phải là nhà tu hành
Phật giáo (lựa chọn theo nghề nghiệp và độ tuổi, gồm cả tín đồ Phật giáo (Phật tử)
và những người không phải tín đồ Phật giáo); Hai là, những nhà tu hành Phật giáo.

khối ngành khoa học xã hội và nhân văn.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa
học của tác giả liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của
luận án gồm 4 chương, 10 tiết.

5


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo
Các công trình thuộc hướng nghiên cứu này được một số nhà nghiên cứu
Phật giáo có tên tuổi trong nước cũng như nước ngoài công bố, đã có nhiều đóng
góp quan trọng trong việc phân tích, trình bày những nội dung cơ bản của nhân sinh
quan Phật giáo, đồng thời nhấn mạnh những yếu tố tích cực và ý nghĩa của nhân
sinh quan trong triết học Phật giáo.
Phan Văn Hùm viết cuốn Phật giáo Triết học [65] năm 1943, Nhà xuất bản
Tân Việt ấn hành, dưới góc độ tiếp cận triết học, tác giả tập trung phân tích nguyên
lý của Phật giáo nguyên thủy: vấn đề tâm và vật, Ngũ uẩn, Nghiệp, Thiền định. Tác
giả cho rằng, “cả triết học Phật giáo gom lại chỉ quanh quẩn giải quyết thập nhị nhân
duyên và tứ diệu đế” [65, 81-82]. Trên cơ sở đó, tác giả bàn đến sự phát triển của triết
học Phật giáo sau khi đức Phật nhập diệt, chỉ ra sự khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại
thừa trong quan niệm về vũ trụ luận, nhận thức luận, giải thoát luận và luân lý. Theo
tác giả, mặc dù Phật giáo chịu ảnh hưởng nhiều của nhận thức luận nhưng vẫn không
xa rời giải thoát luận và luân lý. Bởi vì, xét đến cùng quan niệm về nhân sinh vẫn là
cốt lõi trong triết học Phật giáo. Vì tiếp cận dưới góc độ triết học, nên cuốn sách chủ
yếu đưa ra những nhận định chung nhất về bản thể luận, nhận thức luận của triết học
Phật giáo. Nhiều nội dung trong nhân sinh quan của Phật giáo cần phải luận giải một
cách đầy đủ, cụ thể và chi tiết, tác giả chưa đề cập đến.

Độ với hàng loạt tác phẩm nổi tiếng như Lịch sử tôn giáo và triết học Ấn Độ, Sáu
Phái triết học Ấn Độ, Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận, Tiểu thừa Phật giáo tư
tưởng luận, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận… Trong tác phẩm Đại thừa Phật
giáo tư tưởng luận [121], do Thích Quảng Độ dịch, Nhà xuất bản Khuông Việt – Sài
Gòn ấn hành năm 1969, Kimura Taiken đi vào nghiên cứu giai đoạn Phật giáo chia
thành các tông phái và quá trình hình thành tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Tuy nhiên,
để đưa ra được những kết luận về sự xuất hiện và phát triển của Phật giáo Đại thừa,
Kimura Taiken đã phải tham chiếu với Nguyên thủy Phật giáo về các vấn đề thế giới
quan và nhân sinh quan, giải thích đặc tính của tư tưởng Phật giáo, giá trị của cuộc đời,
ý nghĩa của đạo đức trong Phật giáo... Theo Kimura Taiken, điểm then chốt trong triết
học Phật giáo là việc giải quyết vấn đề nhân sinh, tìm ra chỗ quy hướng của kiếp người,
tìm thấy một phương châm thực tiễn để quyết định cho lẽ sống của con người. Ông cho
rằng, “Dù Phật giáo có cho nhân sinh là thống khổ thật, nhưng đứng trên lập trường
giải thoát thì Phật giáo lại cho nhân sinh có một giá trị cao quý. Bởi thế nếu đem so
sánh Phật giáo với bất cứ giáo phái nào ở Ấn Độ, ta có thể nói Phật giáo là nhân sinh
khẳng định luận. Song điều đó hoàn toàn lấy tâm làm tiêu chuẩn nên mới có một kết
luận trung đạo để phê phán giá trị nhân sinh...” [121, 30]. Thông qua Đại thừa Phật
giáo tư tưởng luận, KimuraTaiken đã có nhiều đánh giá sâu sắc, khách quan, toàn diện
về những tư tưởng của triết học Phật giáo, đặc biệt là nhân sinh quan, rất hữu ích cho
tác giả của luận án trong quá trình nghiên cứu.
7


Tư tưởng Phật học (con đường thoát khổ) [112] của Walpola Rahula, do
Thích nữ Trí Hải dịch, Nhà xuất bản Tu thư Đại học Vạn Hạnh ấn hành năm 1971,
là một cuốn sách tóm lược những tư tưởng căn bản của giáo lý Phật giáo. Trong
cuốn sách, Walpola Rahula đã có cái nhìn sâu sắc quan niệm về nhân sinh của Phật
giáo, chỉ ra được tinh thần của đức Phật: người là nơi nương tựa của chính mình,
còn ai khác nữa có thể làm nơi nương tựa. Khi trình bày về Tứ diệu đế, Rahula đã
chỉ ra được sự ưu việt trong quan niệm của đức Phật về cuộc đời, “Phật giáo không

lập, tự chủ cho con người. Ông cho rằng, “nhân sinh quan Phật giáo dùng nhãn quan
chính trị quét sạch mọi nghi hoặc, sầu muộn và hiểu sai về cuộc đời, nhận thức một cách
chính xác chân tướng của cuộc đời, nắm chắc trong tay định hướng của cuộc đời” [95,
85]. Tuy công trình của Lâm Thế Mẫn không đi sâu vào nghiên cứu giáo lý của Phật
giáo, nhưng cuốn sách vẫn là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án trong việc
đánh giá ưu điểm và hạn chế quan niệm nhân sinh của Phật giáo.
Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo [132] của Thích Tâm Thiện được Nhà xuất
bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1998, là một cuốn sách có tính chất nhập
môn, trong tầm với của những độc giả ít biết, chưa biết gì về Phật học. Tuy nhiên, cuốn
sách vẫn cung cấp cho độc giả những kiến thức cơ bản về nhân sinh quan Phật giáo
đúng như tiêu đề của nó. Tác giả lấy Duyên sinh - Vô ngã làm điểm trung tâm để
nghiên cứu và cho rằng, đó chính là vấn đề mấu chốt, cốt lõi, điểm kết tụ những tinh
hoa của Phật giáo. Thích Tâm Thiện đã đưa ra 10 kết luận về giáo lý Duyên Sinh Vô
Ngã trong thời kỳ nguyên thủy Phật giáo, trong đó có kết luận thứ 4, 5 là rất xác đáng: “
4. Nguyên lý Duyên sinh khởi theo chiều thuận (sinh) thì gọi là tà đạo, sanh tử khổ đau,
khởi theo chiều nghịch (diệt) thì gọi là chánh đạo, niết bàn giải thoát; 5. Chặt đứt vòng
nhân duyên của khổ đau đồng nghĩa với ái diệt và vô minh diệt” [132, 110-111]. Tuy
nhiên, trong phần trình bày về nhân sinh quan Phật giáo, tác giả Thích Thiện Tâm mới
chỉ dừng lại ở mức độ cơ bản, bước đầu, vấn đề này cần nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa.
Năm 2002, cuốn Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam - Từ khởi nguyên
đến thế kỷ XIV [54] của Nguyễn Hùng Hậu được Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà
Nội ấn hành. Trong cuốn sách, tác giả chủ yếu bàn đến thế giới quan và nhân sinh
quan của triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV. Tuy nhiên, để
có những kết luận đúng đắn về triết học Phật giáo Việt Nam, tác giả quay trở về
nghiên cứu thế giới quan và nhân sinh quan triết học Phật giáo nói chung. Tác giả đã
có những phân tích khá rõ ràng quan niệm của Phật giáo về con người (cấu tạo, thân
thể, sự xuất hiện của con người), về cuộc đời con người với cơ sở, nền tảng là thuyết
Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Đạo đế và Diệt đế). Trong khi có nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng, đức Phật quan niệm đời là khổ, tồn tại là khổ là một quan niệm bi quan,
yếm thế thì trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Hùng Hậu thể hiện quan điểm không

về nhân sinh mà còn chỉ ra những nét đặc sắc của Phật giáo so với những học thuyết
cùng thời, giúp cho tác giả của luận án có những kiến giải khách quan về quan niệm
nhân sinh của Phật giáo.
Tiếp cận dưới góc độ sử học Phật giáo, trong cuốn Ẩn Độ Phật giáo sử luận
[152] Nhà xuất bản Phương Đông, Hà Nội ấn hành năm 2006, Viên Trí đã bàn về
giáo lý căn bản, về quan niệm nhân sinh của Phật giáo, cụ thể là Tứ Diệu Đế, Duyên
Khởi, Ngũ uẩn, Nghiệp. Tác giả đã đưa ra đánh giá, “Phật giáo là tôn giáo duy nhất
trong lịch sử tư tưởng tôn giáo nhân loại phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn, ngã
hay những khái niệm tương tự. Vô ngã hay thực tướng của các pháp là chân lý do
đức Phật Thích Ca Mầu Ni giác ngộ, chứng đắc và tuyên thuyết đã làm chấn động
10


tâm tư loài người đang lang thang trong thế giới khái niệm tiểu ngã, đại ngã, linh
hồn, tôi, ta... Khám phá vĩ đại này của Đức Phật không chỉ đóng góp cho nền triết
học của Ấn Độ trên bình diện luận lý, mà còn là tư tưởng chủ đạo trong việc giải
quyết những khủng hoảng thật sự của con người thời bấy giờ trong các lãnh vực tôn
giáo, chính trị, xã hội, v.v...” [152, 87]. Đây là một công trình tiếp cận theo hướng
sử học Phật giáo, do đó các phần luận giải trong Tứ Diệu Đế, Duyên Khởi, Ngũ
uẩn, Nghiệp mới chỉ dừng ở mức độ khái quát chứ chưa đi vào cụ thể, chi tiết. Tuy
nhiên, tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo dưới góc độ sử học Phật giáo cũng sẽ giúp
cho tác giả của luận án có cái nhìn đa chiều để đánh giá, luận giải đúng tư tưởng
nhân sinh của Phật giáo.
Junjiro Takakusu với cuốn Tinh hoa triết học Phật giáo [123], do Tuệ Sỹ
dịch được Nhà xuất bản Phương Đông, Hà Nội ấn hành năm 2007. Trong công trình
của mình, ông đã chỉ ra 6 nguyên lý căn bản trong triết học Phật giáo: Nguyên lý
duyên khởi; nguyên lý tất định và bất định; nguyên lý tương dung; nguyên lý như
thực; nguyên lý viên dung; nguyên lý Niết bàn hay giải thoát viên mãn. Trong những
nguyên lý này có những nội dung đã biểu đạt được nội hàm của nhân sinh quan Phật
giáo và chỉ ra được cốt lõi của quan niệm về nhân sinh của Đức Phật. Ông cho rằng,

trí tuệ để nhập Niết bàn - một trạng thái tâm linh thanh tịnh, an lạc, bất sinh, bất diệt, tự
do, tự tại. Chính vì vậy, cuốn sách chỉ rõ những hạn chế, để dần khắc phục, xóa bỏ,
cũng như nhận ra những giá trị tích cực cần duy trì, phát triển trong giáo lý của đạo
Phật nói chung, trong giải thoát luận nói riêng. Tác giả dành chương I để phân tích
quan niệm về giải thoát trong triết học Phật giáo và cho rằng vấn đề này tập trung trong
thuyết Tứ điệu đế. Vì vậy, tác giả đã luận giải một cách có hệ thống, sâu sắc, cụ thể bốn
chân lý nhiệm màu của đức Phật, chỉ ra được tư tưởng của Phật giáo nguyên thủy và
những phát triển, bổ sung giáo lý nguyên thủy của Đại thừa và Tiểu thừa. Mặc dù, tiếp
cận dưới góc độ giải thoát nhưng thực ra chương I cũng đã nói được quan niệm của
Phật giáo về nhân sinh. Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích giúp tác giả luận án
tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề này.
Ngoài những công trình nghiên cứu như phân tích ở trên, trong những
năm gần đây trên các tạp chí có một số bài viết đề cập đến vấn đề nhân sinh quan
Phật giáo nói chung.
Hoàng Thị Thơ với bài viết Vấn đề Đại thừa - Tiểu thừa trong Phật giáo
[135] đăng trong tạp chí Triết học, số 4 năm 1993 đã đề cập đến những tương đồng
và khác biệt căn bản giữa tư tưởng của Đại thừa và Tiểu thừa về Tứ diệu đế. Tác giả
nhận định rằng “Tứ diệu đế là bốn nguyên lý về nhân sinh mà cả Đại thừa và Tiểu
thừa đều bảo tồn, song Tiểu thừa phân Tứ đế ra thành hai cấp độ: sự thực “hiện
hữu” cần phải khắc phục là Khổ đế và Tập đế; Lý tưởng tương lai cần đạt tới là Diệt
đế và Đạo đế. Đại thừa, đặc biệt là Thiền tông, ngược lại chủ chấp nhận tính tương
đối của Tứ đế, như là cơ sở khái niệm đầu tiên chuẩn bị cần thiết cho hành trình tới

12


giải thoát, và cho rằng chỉ khi vứt bỏ khái niệm, siêu vượt ý thức để đạt tới chân
không diện hữu mới thực sự là giải thoát viên mãn” [135, 51-54].
Trong bài Bước đầu tìm hiểu giá trị nhân sinh của Phật giáo [110] của Lê
Văn Quán đăng trong tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2 năm 1998, cũng đã trình

13


Phật giáo - đường về xứ Phật của Thích Thông Lạc; Vì sao tin Phật của K. Sri
Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch; Đại cương lịch sử Phật giáo thế giới của
AndrewSkilton, Nguyễn Văn Sáu dịch; Nhân quả Triết lý trung tâm của Phật giáo
của D.J. Kalupahana, Đồng Loại và Trần Nguyên Trung dịch...
Như vậy, ở hướng nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo được nhiều tác giả quan
tâm. Mặc dù, bàn nhiều đến nhân sinh quan Phật giáo nhưng lại thiếu những công trình
nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ, toàn diện. Vì thế, với tham vọng tìm tòi và hoàn thiện, tác
giả luận án tiếp tục nghiên cứu để lấp đi chỗ trống trong các công trình nghiên cứu này.
1.2. Các công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần và ảnh hưởng của nhân
sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần ở Việt Nam
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần
Trong toàn bộ đời sống xã hội nói chung, đời sống tinh thần có một vị trí đặc
biệt quan trọng, cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của nó ngày càng gia tăng
và thể hiện rõ nét. Đặc biệt, khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, định hướng lên CNXH, mở cửa hội nhập với thế giới trong bối cảnh
quốc tế có nhiều biến động phức tạp, đặt ra hàng loạt vấn đề cho việc xây dựng,
quản lý đời sống tinh thần của xã hội, đòi hỏi các nhà nghiên cứu trong nước đi sâu
tìm hiểu lý luận cơ bản về lĩnh vực đời sống tinh thần. Do đó, ở nước ta trong
những thập niên gần đây, việc nghiên cứu đời sống tinh thần của xã hội trở nên khá
sâu rộng, đạt được nhiều thành tựu.
Năm 1997, Phùng Đông viết bài Vị trí, ý nghĩa của phạm trù đời sống tinh thần
xã hội trong chủ nghĩa duy vật lịch sử [40], đăng trên tạp chí Triết học số 6. Trên cơ sở
so sánh phạm trù đời sống tinh thần với phạm trù ý thức xã hội, văn hóa tinh thần và
kiến trúc thượng tầng, tác giả cho rằng, cấp độ chung nhất trong sự nghiên cứu của chủ
nghĩa duy vật lịch sử về đời sống tinh thần xã hội cần có sự kết hợp cả ba góc độ là
nhận thức luận, bản thể luận và xã hội học. Bởi “chỉ có sự kết hợp như vậy thì mới hiểu

Công trình nghiên cứu này của Trần Khắc Việt rất hữu ích cho tác giả luận án
trong hướng nghiên cứu về đời sống tinh thần xã hội.
Cũng trong năm 1999, Đào Duy Thanh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
Thẩm mỹ học Mác - Lênin với đề tài Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh
thần của con người [125]. Tác giả cho rằng, để đi đến một định nghĩa có tính khoa
học về đời sống tinh thần xã hội, cần phải xác định những dấu hiệu cơ bản (tức nội
dung) của nó. Đó là việc xác định tính đặc trưng và bản chất của đời sống tinh
thần, bao gồm cả mối tương quan với ý thức xã hội, với văn hóa tinh thần trong sự
thống nhất của các hoạt động và quan hệ tinh thần. Từ đó, tác giả đi đến kết luận,
“đời sống tinh thần của con người dù được xem xét dưới góc độ cá nhân, hay xã
hội thì nội dung cơ bản của nó cũng là tổng hợp tất cả những giá trị tinh thần của
con người; nó có quan hệ với ý thức xã hội và ý thức cá nhân, với các hoạt động
tinh thần và quan hệ tinh thần; là sự phản ánh đời sống vật chất trong những giai
đoạn lịch sử nhất định” [125, 22]. Mặc dù là một luận án Thẩm mỹ học Mác 15


Lênin, nhưng tác giả Đào Duy Thanh đã phác thảo rõ nét về đời sống tinh thần
con người, xã hội và cá nhân, đồng thời, tác giả cũng xác định được đặc trưng
của đời sống tinh thần. Đây là điểm mới của tác giả Đào Duy Thanh so với các
công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần nói chung, rất hữu ích cho tác giả
luận án trong hướng nghiên cứu này.
Năm 2001, Trần Thanh Nam bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Triết học với
đề tài Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong
công cuộc đổi mới hiện nay [98]. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả
Trần Thanh Nam đã phân tích được khái niệm và chỉ ra cấu trúc của đời sống tinh
thần. Tuy nhiên, khi xét đời sống tinh thần ở góc độ là một hệ thống đang vận động
và biến đổi, tác giả cho rằng lối sống cũng thuộc lĩnh vực của đời sống tinh thần,
nhưng chưa có được sự khoanh vùng phạm vi hoạt động của lối sống. Mặc dù vậy,
công trình nghiên cứu của Trần Thanh Nam là cơ sở lý luận cho tác giả của luận án
khi nghiên cứu đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay.

thần ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ rất lâu trong lịch sử. Trong những thập niên
gần đây, việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh
thần ở Việt Nam trở nên khá sâu rộng, đạt được nhiều thành tựu với cách tiếp cận
đa chiều, dưới nhiều góc độ như sử học, tôn giáo, văn hóa, triết học...
Năm 1988, cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam [142], do Nguyễn Tài Thư chủ
biên, được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội ấn hành. Trong công trình nghiên
cứu này, Nguyễn Tài Thư đã vẽ ra một bức tranh tổng thể về những đóng góp của
Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đối với công cuộc dựng
nước, giữ nước, quá trình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời góp
phần xây dựng một đời sống văn hóa tinh thần phong phú cho người dân Đại Việt
trải dài từ những thế kỷ đầu công nguyên cho đến thế kỷ XX. Tác giả cho rằng,
“Nhiều người Việt Nam đã tự nguyện đến với đạo Phật, đã lấy các nguyên lý từ bi,
luân hồi, quả báo của Phật để tu luyện mình và giúp đỡ người. Có người đã lấy danh
nghĩa phật tử (như Lý Phật Tử) để tập hợp quần chúng chống sự thống trị của
phương Bắc. Càng về sau thì Phật giáo Việt Nam càng đi vào lòng người. Đến cuối
thời kỳ Bắc thuộc thì Phật giáo đã là một xã hội phổ biến. Lúc này phật tử, ý thức
dân tộc và ý thức đạo gắn bó với nhau và trở thành một trong những tiền đề cho sự
trỗi dậy mạnh mẽ của dân tộc ở thế kỷ thứ X. Đồng thời tạo cơ sở cho Phật giáo trở
thành quốc giáo khi nước nhà giành được độc lập” [142, 125]. Đây là công trình
khai thác Phật giáo Việt Nam dưới góc độ lịch sử tư tưởng, cho nên tác giả mới chỉ
dừng lại ở góc độ khái quát chứ chưa khu biệt ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo đến đời sống tinh thần xã hội Việt Nam, vấn đề này cần phải nghiên cứu cụ
thể, chuyên sâu hơn nữa.
Năm 1995, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia thực hiện đề
tài cấp nhà nước KX 07 - 03 “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với
con người Việt Nam hiện nay” [153] do Nguyễn Tài Thư làm chủ nhiệm. Trong đó
một nhánh của đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với con người Việt Nam hiện
17



người bể khổ, con người tu hành thoát khổ) phù hợp với hiện thực cuộc sống của
cư dân nông nghiệp lúa nước định cư ổn định, mong trời yên biển lặng, yêu hòa
bình, trọng yên tĩnh. Vì vậy, Phật giáo đã góp phần vào nuôi dưỡng tinh thần bình
đẳng, mở mang bờ cõi, hoàn thiện đạo đức của người dân, chỗ dựa cho người dân
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status