BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
HÀ VĂN CẢNH
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI DÂN
TỈNH SƠN LA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
HÀ VĂN CẢNH
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI DÂN
TỈNH SƠN LA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài............................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 4
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ....................................................... 5
5. Giả thuyết khoa học ............................................................................... 5
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 5
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
8. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 5
9. Kết cấu của luận văn .............................................................................. 6
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn .................... 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ QUÁ
TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở SƠN LA ................ 7
1.1. Khái quát về Nhân sinh quan Phật giáo ................................................ 7
1.1.1. Nhân sinh quan và nhân sinh quan Phật giáo .................................. 7
1.1.2. Nội dung nhân sinh quan trong Phật giáo ..................................... 11
1.2. Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở tỉnh Sơn La .......... 24
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng tôn
giáo của tỉnh Sơn La .................................................................... 24
1.2.2. Quá trình du nhập và phát triển và hoạt động của Phật giáo ở
tỉnh Sơn La .................................................................................. 35
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam cách đây khoảng 2000 năm. Trải qua
nhiều thời kỳ biến động thịnh suy, thăng trầm của lịch sử, Phật giáo đã ảnh
hưởng sâu đậm đến đến đời sống tinh thần của người Việt.
Sơn La là một tỉnh nằm phía Tây Bắc của nước Việt Nam, trước năm
1960 gần như cư dân đều là người dân tộc thiểu số. Nhưng từ các chủ trương
đi xây dựng và phát triển các vùng kinh tế mới của Đảng, khoảng những năm
cuối của thập niên 50 của thế kỷ XX đồng bào người Kinh Việt mới lên định
cư ở khu vực này; theo đó mà Đạo Phật được hồi sinh ở Sơn La từ những
năm 1960, 1970, 1980...
Trong khoảng một thập niên trở lại đây Phật giáo Sơn La đang có
những thay đổi để "thích nghi" điều kiện phát triển mới của xã hội. Xu hướng
thế tục hóa ngày càng rõ nét ảnh hưởng nhất định tới đời sống của nhân dân.
Những tư tưởng trong Đạo Phật mang tính nhân văn sâu sắc, có nhiều điều
phù hợp với công cuộc xây dựng cuộc sống văn hóa mới, đã có tác dụng tích
cực đối với đời sống xã hội. Mặt khác, trong lịch sử đấu tranh giai cấp, tôn
giáo luôn được các giai cấp sử dụng như một vũ khí hữu hiệu nhất để cai trị
xã hội và tập hợp lực lượng. Phật giáo đang trở thành vấn đề rất nhạy cảm,
luôn bị các thế lực thù địch phản động lợi dụng, chống phá sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, trong đó nổi bật nhất vẫn là lĩnh vực
tư tưởng văn hóa, một trong những mục tiêu trọng điểm của chúng.
Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những giá trị và hạn chế của Phật giáo và
tác động, ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người dân, nhất là vùng có
đặc thù quốc phòng an ninh là một trong những vấn đề cần được làm sáng tỏ.
Từ thực tế tình hình trên, chúng tôi chọn đề tài: “Ảnh hưởng của nhân
sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần người dân tỉnh Sơn La hiện
nay”, để làm luận văn tốt nghiệp.
2
Cổ thuộc Pháp, tập 32 [28]; Nguyễn Thị Huệ (2015): Đạo làm người trong
triết lí Nhân sinh quan của Phật giáo [34]; Vũ Ngọc Khánh (1986): Phật giáo
và văn hóa dân gian Việt Nam - Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng
Việt Nam, Viện triết học, Hà Nội [36]; Nguyễn Tương Lai (1999): Phật giáo
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và phát triển, [39]; Quế Lai (1991): “Sự
tiếp nhận các quy phạm đạo đức của Phật giáo ở Việt Nam và Thái Lan”, Nội
san nghiên cứu Phật học [40]; Thích Mật Thể: Việt Nam Phật giáo sử lược,
Phật học viện Trung phần [65]; Nguyễn Đăng Thục (1974): Phật giáo Việt
Nam [73]; Nguyễn Tài Thư (1988): Lịch sử Phật giáo Việt Nam...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề liên
quan đến lịch sử, về Đức Phật, quá trình đi tìm chân lý giải thoát và những nội
dung cơ bản trong giáo lý của Đạo Phật. Sự biến đổi của Phật giáo ở Việt
Nam trong giai đoạn mới và những vấn đề đặt ra.
2.2. Các công trình nghiên cứu về các giá trị, vai trò tác động của
Phật Giáo
Tác giả Trần Văn Giàu với một loạt các công trình như: Giá trị tinh
thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Đạo đức Phật giáo trong thời hiện
đại và Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến cách mạng
tháng Tám” (3 tập) [29]. Các công trình trên tác giả đã đề cập đến những giá
trị đạo đức Phật giáo, đề cập đến những đóng góp của Phật giáo trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam.
Nguyễn Tài Thư chủ biên (1997): Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và
tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Các tác giả đã đề cập đến vai
trò của Phật giáo trên một số lĩnh vực như: ảnh hưởng của Phật giáo đối với
hệ tư tưởng, đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Thị Bảy (1997) với công trình Văn hóa Phật giáo và lối sống
của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ đã bàn về văn hóa và lối sống
Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội.
5
mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo, góp phần xây dựng đời sống
người dân tỉnh Sơn La ngày càng phong phú, lành mạnh theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần người
dân Sơn La hiện nay
5. Giả thuyết khoa học
- Câu hỏi nghiên cứu: Nhân sinh quan Phật giáo ảnh hưởng đến đời
sống tinh thần người dân Sơn La hiện nay như thế nào?
- Giả thuyết khoa học: Nhân sinh quan Phật giáo ảnh hưởng ngày càng
lớn đến đời sống tinh thần người dân Sơn La hiện nay trên các lĩnh vực: đạo
đức, lối sống, giá trị văn hóa, nghệ thuật, thẩm mỹ…
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát nhân sinh quan Phật giáo và quá trình Phật giáo du nhập
vào Sơn La.
- Phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời
sống tinh thần người dân tỉnh Sơn La.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát huy ảnh
hưởng tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo ở tỉnh Sơn La hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ ảnh hưởng của nhân sinh
quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của người dân tỉnh Sơn La hiện nay.
8. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở SƠN LA
1.1. Khái quát về Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1. Nhân sinh quan và nhân sinh quan Phật giáo
* Nhân sinh quan
Có nhiều cách nhìn nhận về nhân sinh quan theo những góc nhìn khác
nhau. Theo nghĩa hẹp “Nhân” là người, “Sinh” là sống, “Quan” là quan điểm,
quan niệm, nhìn nhận. Vậy nhân sinh quan gồm những quan niệm về cuộc
sống của con người đề cập đến lẽ sống của con người là gì ?. Mục đích, ý
nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng
đáng. Con người ở trong thế giới như thế nào, vai trò và vị trí của con người
đối với thế giới ra sao?
Theo một số tài liệu Triết học có mặt tại Việt Nam vào những năm
2000-2012 đã đưa ra những khái niệm cơ bản về tư tưởng nhân sinh quan dựa
trên những tài liệu nghiên cứu về Triết học qua nhiều thời kỳ khác nhau trong
lịch sử Triết học, cụ thể như sau:
“Thế giới quan là những quan điểm, quan niệm của con người về thế
giới xung quanh, về bản thân và về cuộc sống của con người, về vị trí của con
người trong thế giới đó. Thế giới quan bao hàm nhân sinh quan, tức là toàn
bộ những quan niệm về cuộc sống của con người” [27, tr.11].
“Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử
triết học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất
con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thế làm gì
để giải phóng mình, đạt tới tự do?...Đây cũng chính là nội dung cơ bản của
nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới trong triết học” [26, tr. 201].
8
tìm con đường giải thoát cho chúng sinh. Năm 19 tuổi Phật có ý định từ bỏ
cuộc sống giàu sang để đi tìm đạo lý cứu đời trở thành một ẩn tu. Năm 29
tuổi, nhân lúc vua cha, vợ con đang ngủ say, Tất Đạt Đa rời bỏ Hoàng cung ra
đi trở thành người tu tập thiền định và bắt đầu cuộc sống khổ hạnh. Qua một
thời gian học đạo, Phật nhận thấy, cuộc sống giàu sang về vật chất, thỏa mãn
dục vọng và cả cuộc sống tu hành khổ hạnh ép xác đều là con đường sai lầm.
Người cho rằng chỉ có con đường trung đạo mới là con đường đúng đắn. Người
từng bảo: Ta tu khổ hạnh mà như thế này, mà không thấy rõ đạo thì cái tu của
ta vẫn chưa phải. Ta nên theo con đường giữa, cứ ăn uống như thường, không
say mê việc đời nào vẫn không khắc khổ hại thân rồi mới thành đạo được.
Qua nhiều lần tu tập trải qua cuộc chiến đấu kỳ diệu, phi thường kéo
dài suốt 6 năm đằng đẵng, không có một sự hỗ trợ từ bên ngoài, không một sự
hướng dẫn từ lực lượng siêu phàm, một mình cô độc, sau 49 ngày ngồi thiền
định dưới gốc cây bồ đề, với những suy tư sâu thẳm, Người đã giác ngộ được
chân lý. Tất Đạt Đa đã lý giải được nguồn gốc nỗi khổ của con người, cũng
như phương pháp giải thoát diệt khổ. Là một tôn giáo, Phật giáo ra đời nhằm
xoa dịu nỗi khổ xóa bỏ những tín ngưỡng lỗi thời và những quan điểm triết
học thịnh hành của xã hội Ấn Độ cổ trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp
khắc nghiệt.
Dù phải đối phó nhiều trở ngại trong suốt cuộc đời hoằng hóa, nhưng
Đức Phật cũng giữ một phong thái an nhiên tự tại. Sau khi Đức Phật nhập Niết
bàn, các đệ tử đã tập hợp, phát triển tư tưởng của người để xây dựng một học
thuyết tôn giáo hoàn chỉnh (kinh, luật và luận tạng). Về sau Phật giáo chia
thành Tiểu thừa và Đại thừa với nhiều tông phái khác nhau, du nhập và phát
triển ra nhiều nước trên thế giới. Tiểu thừa chỉ chủ trương giữ y nguyên theo
đúng lời dạy của Phật ở trong các kinh nhất thiết không được thay đổi còn Đại
thừa chủ trương chỉ cần theo đúng cái tinh thần trong lời Phật dạy mà tiến hóa.
10
13
Địa
: Nghĩa là đất, xương thịt.
Thủy : Nước, máu, chất lỏng.
Hỏa
: Lửa, nhiệt, khí.
Phong : Gió, hô hấp
Không : Các lỗ trống trong cơ thể
Thức : Ý thức tinh thần.
Trong sáu yếu tố này thì năm yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ có yếu
tố cuối cùng thuộc về tinh thần.
Thứ ba, Thuyết Ngũ uẩn: Xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố.
Sắc
: Vật chất bao gồm địa, thủy, hỏa, phong.
Thụ
: Tình cảm, cảm giác con người.
Tưởng : Tưởng tượng, tri giác, ký ức.
Hành
: Ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động.
Thức
con người chỉ là giả hợp của Ngũ uẩn tùy duyên giả hợp mà thành. Đủ nhân
duyên hợp lại thì gọi là sống, hết nhân duyên tan ra gọi là chết. Sống, chết là
giả hợp tan của Ngũ uẩn. Do mê lầm, mà vô thường con người tưởng là
thường, vô ngã mà tưởng có ngã. Thân xác con người là nguồn gốc của mọi
khổ đau. Mọi đau khổ như đói, khát, sinh, lão, bệnh, tử, nóng, giận, dâm
dục... đều có gốc từ con người mà ra.
Theo Phật giáo, kết thúc của cái này là điều kiện để sinh mới sắp tới.
Phật giáo giải thích sự chết của con người bằng thuyết luân hồi nghiệp báo…
Khi con người hình thành thì mọi suy nghĩ, hành động được ghi lại ở một nơi
là Alaya, cứ thế tích tụ thành Karma - Luật vô hình đặc trưng của người. Khi
con người chết luật vô hình quay lại gặp điều kiện thuận lợi tạo thành sinh
linh mới chịu quả ở kiếp trước và nhân ở kiếp sau cứ thế luân hồi.
Phật giáo quan niệm, con người gieo nhân nào hưởng quả ấy, ở hiền
gặp lành, gieo gió gặt bão. Tuy nhiên kết quả báo của nghiệp không mang
tính cố định, bất biến, mà chịu sự chi phối tác động ảnh hưởng từ các yếu tố
duyên hay khuynh hướng nỗ lực tạo tác của con người. Nói cách khác con
người hoàn toàn có khả năng tác động đến kết quả của nghiệp. Chẳng hạn như
một người trước đây từng là kẻ vướng nhiều sai lầm nếu do nỗ lực làm các
việc thiện và thanh lọc tâm ý, anh ta hoàn toàn có khả năng tránh được hậu
quả của nghiệp.
15
Đức Phật có nói: Những kẻ tạo nghiệp ác dù có lên trời, xuống biển hay
vào hang núi cũng không nơi nào có thể trốn thoát.
Có thể nói rằng, Phật giáo quan niệm mối quan hệ nhân quả là mối quan
hệ phổ biến và chi phối tất cả. Phật giáo nguyên thủy cho thế giới này không có
nguyên nhân đầu tiên cũng như cuối cùng, thế giới không do một đấng tối cao
nào sáng tạo ra; từ đó đi đến bác bỏ mọi quan niệm cho rằng Thượng đế hay
linh hồn là lực lượng đầu tiên sáng tạo ra muôn vật thể hiện một vũ trụ quan
sinh - tử; tử - sinh, Đức Phật nêu ra Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Tứ
diệu đế Tứ diệu đế là Hán dịch từ chữ Phạn Catvary Aryasatyani. Arya là
Diệu, cao quý, mầu nhiệm; Satya là Đế, là sự thật, là chân lý. Tứ diệu đế còn
được gọi là Tứ chân đế, Tứ thánh đế, Bốn chân lý mầu nhiệm.
Bốn chân lý của Tứ diệu đế mà mọi người đều phải nhận thức được là:
Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế .
Thứ nhất, Khổ đế (Dukkha)
Đau khổ là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ
cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con người luôn
có xu hướng vượt thoát khỏi khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không
hiểu bản chất, nguyên nhân của khổ đau nên không tìm được lối thoát thực sự;
đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc càng vướng vào khổ đau. Theo
triết lý nhân sinh Phật giáo, bản chất cuộc đời con người là khổ: “Đời là bể
khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước
mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh
mặn hơn nước biển” [31, tr.12].
Nỗi khổ của cuộc sống thế gian là khôn cùng, song có thể chia làm ba
loại khổ hay tám thứ khổ.
Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
17
Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ. Mỗi chúng
sinh là nạn nhân của bao cái khổ. Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnh tật
hiểm nghèo… lại có cái khổ khác bên ngoài thể xác như thiên tai, chiến
tranh... Tất cả những cái khổ đó liên tiếp dồn dập đến với con người.
Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không
thường còn. Từ con người cho đến vạn vật thế gian đều không thể nằm ngoài
quy luật chung đó.
của ta mà phải xa rời là khổ, cái gì không ưa thích mà phải hợp là khổ, cái gì
muốn mà không được là khổ. Tóm lại là triền miên trong ngũ trọc giả hợp.
Đức Phật muốn chúng sinh biết hết mọi nỗi khổ ở bể đời để khi gặp
phải không làm cho tinh thần hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy xét tìm
cách giải khổ, làm chủ được bản thân, vượt lên trên số phận. Điều này cho
thấy, Phật giáo không hề trốn tránh cuộc sống trần gian, cũng như không tô
hồng nó, mà đã dũng cảm nhìn vào hiện thực cuộc đời con người.
Tóm lại, theo Phật "Đời là bể khổ", con người sinh ra đã khổ tức ngũ
thụ uẩn khổ, sinh, lão, bệnh, tử khổ; mong muốn không đạt được, nỗi đau ly
biệt và cảm giác phải chung sống với cái mình ghét bỏ là khổ.
Tập đế (Samudaya)
Tập là tích tập các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau
đây cũng là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, là nguồn gốc của các khổ. Khi
nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng ta mới có thể đi vào tận
con đường khổ đau.
Phật cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó được đưa ra
trong thập nhị nhân duyên. Đó là lòng tham sống mà luân hồi sinh tử: càng
tham, càng muốn, càng được lại càng tham. Con người tham sống, tham sướng,
tham mạnh v.v... Nguyên nhân của lòng tham là vô minh, nghĩa là u tối, ngu
muội không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật
19
đều là ảo giả, mà cứ cho là thực; không nhận thức được ngay chính bản thân
mình, cả thế giới khách quan lẫn bản thể chủ quan đều chỉ là vô ngã vô
thường trong vòng luân hồi trôi chảy bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham
sống ở trong con người. Phật giáo nói đến đau khổ chủ yếu là chỉ tinh thần
bức bách.
Nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người xuất phát từ
nguồn gốc của ba thứ là : tham, sân, si.