mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
ở Việt Nam những tư tưởng triết học Phật giáo, đặc biệt nhân sinh
quan Phật giáo, là một trong những nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc
cũng như nhân cách, đạo đức của mỗi người dân. Từ khi du nhập vào Việt
Nam, Phật giáo luôn tỏ rõ vai trò quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng và
toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam.
Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải
qua những bước thăng trầm trong lịch sử. Đặc biệt, từ khi công cuộc đổi
mới chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên đất nước ta, thì sự biến đổi
của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con
người Việt Nam càng diễn ra khá rõ nét và có những biểu hiện mới.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, xu hướng biến đổi ảnh
hưởng của nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Cần đánh
giá những biến đổi đó theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực? Những nhân
tố nào cần phát huy trong điều kiện mới và bằng cách nào để có thể phát
huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của
nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam
là vấn đề đang đặt ra và cần làm sáng tỏ.
2. Tình hình nghiên liên quan đến cứu đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của
con người Việt Nam là đề tài rộng lớn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu
và đạt được những kết quả đáng trân trọng. Có thể kể ra một số công trình
sau đây:
1
Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam của Viện Triết
học, Hà Nội, 1986; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của PGS Nguyễn Tài Thư
(chủ biên), Viện Triết học, Hà Nội, 1991; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I
của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 1993 ; Thiền học
Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Văn hóa Thông tin, 1996;
hiện nay thì hãy còn chưa nhiều. Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là: trên cơ
sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của những công trình đi
trước để khảo sát đánh giá sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật
giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục đích
Luận văn làm rõ sự biến đổi ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Nêu ra một số giải pháp
nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực
của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay.
b) Nhiệm vụ
Một là, khái quát nội dung nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng
của nó đối với đời sống tinh thần truyền thống của con người Việt Nam.
Hai là, tìm hiểu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật
giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Phân tích
những nhân tố tác động đến sự biến đổi đó; nêu lên một số xu hướng biến
đổi của nhân sinh quan Phật giáo.
Ba là, đề ra một số phương hướng, giải pháp phát huy ảnh hưởng
tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong
quá trình đổi mới.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng
- ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của
người dân Việt Nam
b) Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh
quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
a) Cơ sở lý luận
Phật giáo
Ph.Ăngghen đã nói: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản
ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài
chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế" [17, tr.
73].
Điều đó có nghĩa là, tôn giáo do con người sáng tạo ra, tôn giáo không
sáng tạo ra con người song lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người
trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Phật giáo - một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới - ra đời đã hơn
2500 năm nay, đã được truyền bá và ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới
như: Xrilanca, Xiry, Ai Cập, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc và
một phần Anh, Đức, Pháp … và nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính
thế giới. Trong quá trình du nhập trải qua các thời kỳ lịch sử, Phật giáo lại
phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà đã biến đổi ít
nhiều. Sự ảnh hưởng của phật giáo đến ngoại bang diễn ra rất sớm và rất
nhanh chóng. Ngày nay trên phạm vi quốc tế, Phật giáo đang chiếm vị trí
sâu rộng trong đời sống tinh thần của con người, trong đó có Việt Nam.
Người sáng lập ra Phật giáo là Hoàng tử Tất Đạt Đa - con vua Tịnh
Phạn. Ông sinh năm 563 mất năm 483 trước công nguyên ở ấn Độ. Sau khi
6
tu hành đắc đạo có danh hiệu Thích Ca Mâu Ni. Tương truyền, Hoàng tử
Tất Đạt Đa từ khi mới sinh ra đã được vua cha hết đỗi chiều chuộng, "nâng
như nâng trứng, hứng như hứng hoa". Hoàng tử, vốn là con độc nhất, được
sống trong nhung lụa, được chăm sóc, giáo dục rất đầy đủ, toàn diện.
Chẳng bao lâu Hoàng tử đã trở thành người văn võ song toàn. Hoàng tử
được vua cha cưới vợ năm 17 tuổi, về sau có một người con trai tên là La
Hầu La. Vua không muốn cho Hoàng tử phải chứng kiến quy luật của cuộc
sống là sinh - lão - bệnh - tử. Mặc dù vậy, sau những lần dạo chơi ở cổng
thành Hoàng tử đã chứng kiến nỗi khổ của con người về sinh - lão - bệnh -
khổ của con người trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của
xã hội ấn Độ cổ đại.
Sinh thời, Đức Phật không viết sách, mà chỉ thuyết giảng cho các
học trò của mình bằng lời nói. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, các đệ tử
đã tập hợp, phát triển tư tưởng của người để xây dựng một học thuyết tôn
giáo hoàn chỉnh (kinh, luật và luận tạng). Về sau Phật giáo chia thành Tiểu
thừa và Đại thừa với nhiều tông phái khác nhau, du nhập và phát triển ra
nhiều nước trên thế giới. Dù đã trải qua lịch sử thăng trầm hơn 2500 năm,
với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà
trước hết là triết lý nhân sinh của nó giàu lòng vị tha, thương người, rất gần
gũi với con người và mang nặng tính nhân sinh hơn các tôn giáo khác.
Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận,
thế giới quan và nhân sinh quan có kết cấu chặt chẽ. Mỗi yếu tố chứa đựng
những nội dung với chức năng riêng là tiền đề và hệ quả của nhau. Nhân
sinh quan Phật giáo được bắt nguồn từ thế giới quan. Tuy nhiên, mục đích
chủ yếu của Phật giáo là thoát khổ, là giải phóng con người, mang giá trị
8
nhân sinh sâu sắc. Thích Ca Mâu Ni đã nhìn thấy rõ sự đau khổ ở đời sống
con người mà sáng lập ra Phật giáo để giải thoát con người khỏi nỗi khổ đau.
Triết học phương Đông nghiêng về việc nghiên cứu, tìm hiểu những
vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, đặc biệt là vấn đề con người hơn
là việc tìm hiểu giới tự nhiên. Triết học phương Đông nghiên cứu thế giới
để làm sáng tỏ con người, vạch ra nguyên tắc ứng xử, giải quyết các mối
quan hệ giữa người với người, chú ý đến đời sống tâm linh mà ít quan tâm
đến mặt sinh vật của con người. Mục đích nhận thức thế giới của triết học
đều nhằm phục vụ cho đời sống của con người và xã hội. Còn triết học
phương Tây chú trọng nghiên cứu thế giới, tìm hiểu giới tự nhiên, xây dựng
nên các học thuyết, các phạm trù v.v Cũng như nhiều trào lưu tư tưởng
triết học phương Đông, Phật giáo đề cao và nhấn mạnh vấn đề nhân sinh.
Đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản khác biệt của triết học
phủ nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bà la môn, tố cáo chế độ xã hội bất
công, đòi tự do tư tưởng và sự bình đẳng xã hội, xóa bỏ nỗi khổ trong đời
sống của người dân ấn Độ. Đây là sự thể hiện tinh thần phản kháng của
quần chúng nhân dân đối với chế độ xã hội đương thời: Đức Phật tuyên bố:
Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt
nước mắt cùng mặn, con người sinh ra không phải đã mang sẵn trong bào
thai dây chuyền ở cổ hay dấu tin ca (dấu hiệu quý phái của dòng Bà la
môn) trên trán. Qua đó thể hiện mặt tích cực của nhân sinh quan Phật giáo
trong lĩnh vực sinh hoạt xã hội. Nguyện vọng cứu khổ của Đức Phật mang
tính nhân văn sâu sắc, còn có cứu được khổ hay không lại là chuyện khác.
Do vậy, Phật giáo rất gần gũi với con người. ở Việt Nam, từ thuở xa xưa,
10
Phật chính là "Bụt". Bụt ở đây là cách dịch âm khác của "Buddha" có nghĩa
là Phật, là giác ngộ. Hình ảnh ông Bụt hiện lên trong nhiều câu chuyện cổ
tích như truyện Tấm Cám… luôn là người đem lại niềm vui, hạnh phúc cho
những người tốt bụng mà gặp điều không may, đồng thời Bụt cũng là người
trừng phạt cái xấu, kẻ ác.
1.1.2. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo
Triết lý nhân sinh Phật giáo bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới
quan Phật giáo chi phối. Mặt khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã
hội, nhân sinh quan Phật giáo chịu sự qui định của tồn tại xã hội và tác
động của các hình thái ý thức xã hội khác. Điều này giải thích tại sao trong
lịch sử tồn tại và phát triển, nhân sinh quan Phật giáo có sự biến đổi, không
còn giữ nguyên như ở Phật giáo nguyên thủy. Nghiên cứu chi tiết, cho thấy
các phái Phật giáo có những quan niệm khác nhau về nhân sinh. Phật giáo
Tiểu thừa coi trọng "xuất gia khổ hạnh", chủ trương "ngã không pháp hữu",
đề cao sự giải thoát chính mình với mục đích cuối cùng là chứng đắc La
Hán. Tư tưởng chủ yếu của Phật giáo Tiểu thừa là "tịnh độ" và "xuất thế
gian", nhấn mạnh cuộc đời là bể khổ mà nguyên nhân là do "Thập nhị nhân
duyên". Mục đích thoát khổ là phải xuất thế gian, xa rời cuộc sống phàm tục,
Phong : Gió, hô hấp
Không : Các lỗ trống trong cơ thể
Thức : ý thức tinh thần.
Trong 6 yếu tố này thì 5 yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ có yếu tố
cuối cùng thuộc về tinh thần. So với thuyết Danh sắc thì thuyết lục đại xét
12
cấu tạo con người nghiêng nặng về vật chất còn thuyết kia gần như có sự
cân bằng, hài hòa về hai lĩnh vực vật chất, tinh thần.
Thuyết Ngũ ẩn : Xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố.
Sắc : Vật chất bao gồm địa, thủy, hỏa, phong.
Thụ : Tình cảm, cảm giác con người.
Tưởng : Tưởng tượng, tri giác, ký ức.
Hành : ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động.
Thức : ý thức theo nghĩa rộng gồm cả thụ, tưởng, hành.
Trong các thuyết về cấu tạo con người của Phật giáo, thì thuyết Ngũ
uẩn là phổ biến hơn cả. Như vậy, Phật giáo cho rằng, con người không có
thực thể là "không", gọi là "nhân vô ngã" (nhân không). Con người được
tạo thành từ Ngũ uẩn cho nên không có chủ thể hằng thường tự tại. Con
người là sản vật, tự nhiên không có hình thái cố định của tính vật chất
nhưng vì đã ăn vật chất trên thế giới nên dần hình thành khối vật chất thô
kệch có sự phân biệt tính cách, màu da. Có bốn loại thực:
Đoạn thực : Thức ăn là động, thực vật, thức ăn vật chất, là cơm ăn
nước uống hàng ngày.
Xúc thực : Thức ăn là những cảm xúc, cảm giác.
Tư thực : Thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi.
Thức thực : Thức ăn là tinh thần, là thức ăn ở cõi vô sắc, sống bằng
tinh thần thanh cao.
Phật giáo quan niệm sự vật đều luôn vận động biến đổi, không có
cái gì là thường hằng, bất biến. Xuất phát từ duyên khởi luận, Phật giáo cho
rằng thế gian hết thảy đều biến hóa, vô ngã, vô thường. Theo Phật giáo, có
14
Đời này ra sức học tập thì đời sau thông minh sáng suốt; đời này
lười biếng thì đời sau ngu đần dốt nát; đời này sát sinh thì đời sau chết yểu;
đời này phóng sinh thì đời sau sống lâu; đời này làm khổ chúng sinh thì đời
sau đau khổ; đời này có tâm vỗ về an ủi người khác thì đời sau hạnh phúc;
đời này giận dữ cáu kỉnh thì đời sau tướng mạo xấu xí Đức Phật có nói:
"Những kẻ tạo nghiệp ác dù có lên trời, xuống biển hay vào hang núi cũng
không nơi nào có thể trốn thoát" [12, tr. 275].
Có thể nói, Phật giáo quan niệm mối quan hệ nhân quả là mối quan
hệ phổ biến và chi phối tất cả. Phật giáo nguyên thủy cho thế giới này
không có nguyên nhân đầu tiên cũng như cuối cùng, thế giới không do một
đấng tối cao nào sáng tạo ra; từ đó đi đến bác bỏ mọi quan niệm cho rằng
Thượng đế hay linh hồn là lực lượng đầu tiên sáng tạo ra muôn vật. Tuy
nhiên, quan niệm về mối liên hệ nhân quả mà Phật giáo đề cập và nhấn
mạnh thuộc lĩnh vực đạo đức, tinh thần, tâm lý cá nhân.
Theo quan niệm của Phật giáo, xét đến cùng muôn vật trong vũ trụ
là hệ thống nhân duyên của nhau, cứ thế sinh sinh diệt diệt mãi nối tiếp
nhau vô cùng tận; thế giới là vô thủy vô chung, không có cái gì là trường
tồn bất biến. Mọi cái đều biến đổi vận động không ngừng, không có cái
vĩnh hằng; mọi vật đều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt. Con người
cũng thuộc về thế giới hiện tượng. Thân xác con người được đề cập trong
các thuyết Danh sắc, thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn của Phật giáo. Theo
luật nhân quả của Phật giáo, những việc làm của con người là nguyên nhân
tạo ra sự ngũ uẩn tiếp theo. Bản thân nghiệp này do kiếp trước quy định; cứ
thế con người ở trong vòng luân hồi sinh tử không ngừng từ đời này sang
đời khác. Điều đó ít nhiều mang tính biện chứng. Tuy nhiên, do tuyệt đối
hóa sự vận động và gắn sự vận động với tính giả tạm vô thường của sự vật,
cho nên Phật giáo không có được quan niệm đúng đắn về sự thống nhất
15
biện chứng giữa vận động và đứng im tương đối, không thấy được sự vận
chiến tranh Tất cả những cái khổ đó liên tiếp dồn dập đến với con người.
Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không
có cái vĩnh hằng. Ca dao có câu "nước chảy đá mòn", để nói một sự vật
vững chắc, cứng rắn như đá nhưng cùng với thời gian chịu tác động của
ngoại cảnh cũng phải thay đổi rồi bị hủy diệt tan biến. Con người cũng vậy,
không thể nằm ngoài quy luật chung đó.
Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần con người, do không làm
chủ được mình bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh
ra buồn vui, giận hờn, yêu ghét…
Tám thứ khổ (Bát khổ): Đức phật tóm tắt thành tám thứ khổ trong
cuộc đời của một con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng
hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn khổ.
Tám thứ khổ này là sự cụ thể hóa, tỉ mỉ hơn về các nỗi khổ của
chúng sinh ở trần thế, song nội dung thì được bao hàm bởi ba khổ trên.
Sinh khổ: con người khi sinh ra đã cất tiếng khóc chào đời; trước đó còn ở
trong bụng mẹ thì chật chội tăm tối; người mẹ mang thai con thì vất vả mệt
nhọc, kém ăn, mất ngủ, chịu bao cái khác thường so với người khác.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người muốn tồn tại được thì trước
hết phải ăn, uống, mặc ở, sinh hoạt, đi lại… Muốn vậy, con người phải lao
động hết sức vất vả, cực khổ, tất bật trong công việc. Đó là về mặt vật chất,
còn những nỗi khổ về tinh thần dày vò con người cũng không kém nỗi khổ
về vật chất, nó làm con người suy kiệt, ốm yếu, (lão khổ). Con người đến
lúc già, tuổi cao, thân thể hao mòn già yếu các giác quan, hoạt động kém;
mắt mờ, chân chậm, tai điếc dễ sinh bệnh gây đau ốm cho người bệnh và
người thân xung quanh.
17
Tử: đến một thời điểm nhất định con người phải chết, xa lìa trần thế
để lại nỗi xót thương vô hạn cho người thân, bè bạn. Ai cũng vậy, sợ phải
xa lìa người thân, bè bạn, bởi cuộc sống biết bao điều thú vị.
ái biệt ly: nỗi khổ khi phải xa cách chia ly người mình mến thương
suốt, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là ảo giả,
mà cứ cho là thực; không nhận thức được ngay chính bản thân mình, cả thế
giới khách quan lẫn bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong
vòng luân hồi trôi chảy bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở
trong con người. Phật giáo nói đến đau khổ chủ yếu là chỉ tinh thần bức
bách.
Trong 12 nguyên nhân đưa ra thì Đức Phật cho rằng, vô minh và ái
dục là hai nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người. Sự kết
hợp giữa ái dục và vô minh xuất phát từ nguồn gốc của ba thứ mà phật gọi
là tam độc: tham, sân, si.
Tham: Biểu hiện sự tham lam của con người làm xúi dục con người
hành động để thỏa mãn lòng tham của mình. Lòng tham của con người
không có giới hạn, đây là nguyên nhân gây bao nỗi thống khổ cho con
người như chém giết, xâm hại lẫn nhau.
Sân: Sự cáu gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng
về điều gì đó, làm cho con người không kiểm soát hết hành động của mình
(giận quá mất khôn); như thế cũng đem lại những điều khổ đau, không hay
cho con người. Sách Phật ghi rằng, một đốm lửa giận có thể đốt hết muôn
mẫu rừng công đức và một niệm sân hận nổi lên, thì trăm ngàn, cửa nghiệp
chướng mở.
19
Si: Sự si mê, lú lẫn, làm cho con người không phân biệt điều hay
dở; điều đó gây bao tội lỗi, đau khổ cho mọi người. Nếu tham sân nổi lên
mà có trí sáng suốt sẽ ngăn chặn được tham, sân.
Tiếp đến Đức Phật trình bày những nguyên nhân của 12 nỗi khổ
(Thập nhị nhân duyên).
Duyên hành: là hành động có ý thức; ở đây đã có sự dao động của
tâm, có mầm mống của nghiệp.
Duyên thức: Tâm thức từ chỗ cân bằng trong sáng đến dần dần mất
cân bằng, tùy theo nghiệp mà tâm thức tìm đến các nhân duyên để hình
sinh đến cõi Niết bàn. Muốn diệt trừ "vô minh" phải có trí tuệ vì: "Có trí
tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò xét, không để lầm lỗi có
thể có được, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc chắn nhất vượt bể sinh,
lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh là búa sắt
chặt cây phiền não" [27. tr 36-37]
Diệt đế nói lên thế giới của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau.
Đạo đế
Sau khi chỉ ra các nỗi khổ ở cuộc đời con người cũng như nguyên
nhân gây nên các nỗi khổ ấy. Đức Phật khẳng định, có thể tiêu diệt được
khổ, tiêu diệt nỗi khổ nhân sinh bằng trải qua tu luyện để thoát khổ đạt đến
cõi Niết bàn tuyệt đối tịch tịnh sung sướng, an lạc và tốt đẹp nhất. Cuối
cùng ngài đưa ra con đường để thoát khổ thực chất là diệt trừ vô minh, con
21
đường đó là bát chính đạo. Đây là con đường tương đối phổ biến, là môn
pháp chính được đề cập đến nhiều nhất đến nỗi có người lầm tưởng đạo đế
và bát chính đạo là một, đồng nhất.
Chính kiến: Là sự hiểu biết đúng đắn, nhận thức rõ về tứ diệu đế,
hiểu đúng sự vật khách quan. Người có chính kiến sẽ biết phân biệt đúng
sai, chi phối mọi hành động, tâm trí sáng suốt.
Chính tư duy: Sự suy nghĩ phán xét đúng với lẽ phải. Người tu hành
theo chính tư duy biết suy xét vô minh là nguyên nhân của khổ đau, tìm ra
phương pháp tu luyện để thoát khổ cho mình và mọi người; đó là diệt trừ
vô minh, tam độc.
Chính ngữ: Lời nói ngay thẳng, là đưa chính tư duy vào thực hành
trong lời nói cụ thể: không nói dối, không tạo ra sự bất hòa giữa mọi người,
không nói lời ác dữ, không thừa lời vô ích. Người tu hành trước khi nói
năng phải suy nghĩ người nghe, nói lời đoàn kết dịu hiền.
Chính nghiệp: Đức Phật dạy chúng sinh rằng:
Nếu là tà nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, thì phải cải tạo, cải
tà quy chính, làm điều thiện tránh điều ác. Còn nếu là chính nghiệp việc
như thế không phải Đức Phật tỏ ra bi quan trách đời mà phải thấy rằng Đức
Phật đã dũng cảm chỉ ra thực tế, đoán định thế gian là chỉ có đau khổ. Từ
đó mà đi tìm phương thuốc cứu giúp cho chúng sinh, tìm ra lối đi của sự tự
do tuyệt đích, của hạnh phúc yên bình chính là con đường diệt khổ.
23
Đức Phật lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong
giáo lý của mình. Đức Phật thuyết giảng: "Đạo của ta đây chỉ có một vị là
giải thoát như nước ngoài khơi chỉ có một vị mặn". Tinh thần triết lý nhân
sinh mà Đức Phật dạy chúng sinh đòi hỏi trách nhiệm về đạo đức làm
người, không được làm ngơ trước những nỗi khổ của người khác, phải toàn
tâm toàn ý cứu khổ cho mọi người Đó cũng là yêu cầu đối với chính
mình, mình có thực hiện tốt thì mới hy vọng thoát khổ. Đức Phật tự nhận:
"Thường trong bể khổ sinh tử, làm chiếc thuyền lớn cứu vớt chúng sinh".
(Kinh Tâm Địa Quán).
Phật giáo không lấy giáo lý làm trọng, mà chỉ coi đó là phương tiện
để đạt đến chân lý cuối cùng. Cái cốt tủy của nó là sự thực hành của mỗi cá
nhân đạt đến sự giác ngộ, tu thành đạo quả, chứ không phải nghe, giảng để
hiểu đạo.
Phật giáo là một tôn giáo rất quan tâm đến con người và cuộc đời
con người. Các tôn giáo khác cũng có cách nhìn nhận về con người. Song
sự khác biệt căn bản của giáo lý Phật giáo với các tôn giáo khác như Thiên
chúa giáo, Đạo giáo, Nho giáo là ở chỗ, Phật giáo đã chỉ ra cho chúng
sinh con đường thoát khỏi khổ đau, thoát khỏi bể khổ trầm luân để đạt đến
cõi Niết bàn. Đó là con đường tu học, trau dồi trí tuệ, phá vỡ vô minh. Đức
Phật dạy rằng: "Giáo lý của chúng ta như chiếc bè để qua sông, như ngón
tay chỉ mặt trăng, đừng lấy ngón tay làm mặt trăng, các bậc Như Lai chỉ
làm cái việc là chỉ đường thôi, mỗi người phải tự mình đi đến chứ không ai
đi thế cho ai cả" (Pháp cú - Phamnopada).
Còn trong kinh Trường Ahàm, Phật dạy: "Hãy xem ta là người chỉ
đường và hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp với ngọn đuốc của chính mình