LUẬN VĂN:
Phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những
ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo
trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
ở Việt Nam những tư tưởng triết học Phật giáo, đặc biệt nhân sinh quan Phật
giáo, là một trong những nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc cũng như nhân cách, đạo
đức của mỗi người dân. Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn tỏ rõ vai trò quan
trọng, có ảnh hưởng sâu rộng và toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam.
Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải qua những
bước thăng trầm trong lịch sử. Đặc biệt, từ khi công cuộc đổi mới chuyển từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra
trên đất nước ta, thì sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống
tinh thần của con người Việt Nam càng diễn ra khá rõ nét và có những biểu hiện mới.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, xu hướng biến đổi ảnh hưởng của nhân
sinh quan Phật giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Cần đánh giá những biến đổi đó theo chiều
hướng tích cực hay tiêu cực? Những nhân tố nào cần phát huy trong điều kiện mới và
với đời sống xã hội Việt Nam. Do đó, việc đánh giá những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực
của Phật giáo, mà trước hết là nhân sinh quan Phật giáo, trên cơ sở đó đưa ra những giải
pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư
tưởng triết học này trong đời sống xã hội Việt Nam lâu nay, là việc làm hết sức có ý
nghĩa. Tuy nhiên, việc làm sáng tỏ sự biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo nói chung và
nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần của con người Việt Nam
dưới tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay thì hãy còn chưa
nhiều. Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là: trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên
cứu của những công trình đi trước để khảo sát đánh giá sự biến đổi của ảnh hưởng nhân
sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục đích
Luận văn làm rõ sự biến đổi ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong quá
trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Nêu ra một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh
hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá
trình đổi mới ở nước ta hiện nay.
b) Nhiệm vụ
Một là, khái quát nội dung nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với
đời sống tinh thần truyền thống của con người Việt Nam.
Hai là, tìm hiểu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá
trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Phân tích những nhân tố tác động đến sự
biến đổi đó; nêu lên một số xu hướng biến đổi của nhân sinh quan Phật giáo.
Ba là, đề ra một số phương hướng, giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn
chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng
- ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của người dân Việt
Nam
b) Phạm vi nghiên cứu
đến đời sống tinh thần người Việt Nam
1.1. Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1. Vị trí nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật giáo
Ph.Ăngghen đã nói: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào
trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày
của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những
lực lượng siêu trần thế" [17, tr. 73].
Điều đó có nghĩa là, tôn giáo do con người sáng tạo ra, tôn giáo không sáng tạo ra
con người song lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người trên nhiều lĩnh vực khác
nhau.
Phật giáo - một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới - ra đời đã hơn 2500 năm
nay, đã được truyền bá và ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới như: Xrilanca, Xiry, Ai
Cập, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc và một phần Anh, Đức, Pháp … và
nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới. Trong quá trình du nhập trải qua các
thời kỳ lịch sử, Phật giáo lại phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà
đã biến đổi ít nhiều. Sự ảnh hưởng của phật giáo đến ngoại bang diễn ra rất sớm và rất
nhanh chóng. Ngày nay trên phạm vi quốc tế, Phật giáo đang chiếm vị trí sâu rộng trong
đời sống tinh thần của con người, trong đó có Việt Nam.
Người sáng lập ra Phật giáo là Hoàng tử Tất Đạt Đa - con vua Tịnh Phạn. Ông
sinh năm 563 mất năm 483 trước công nguyên ở ấn Độ. Sau khi tu hành đắc đạo có danh
hiệu Thích Ca Mâu Ni. Tương truyền, Hoàng tử Tất Đạt Đa từ khi mới sinh ra đã được
vua cha hết đỗi chiều chuộng, "nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa". Hoàng tử, vốn
là con độc nhất, được sống trong nhung lụa, được chăm sóc, giáo dục rất đầy đủ, toàn
diện. Chẳng bao lâu Hoàng tử đã trở thành người văn võ song toàn. Hoàng tử được vua
cha cưới vợ năm 17 tuổi, về sau có một người con trai tên là La Hầu La. Vua không
muốn cho Hoàng tử phải chứng kiến quy luật của cuộc sống là sinh - lão - bệnh - tử. Mặc
dù vậy, sau những lần dạo chơi ở cổng thành Hoàng tử đã chứng kiến nỗi khổ của con
người về sinh - lão - bệnh - tử; thấy được cuộc sống cơ cực của người dân trong xã hội ấn
tạng). Về sau Phật giáo chia thành Tiểu thừa và Đại thừa với nhiều tông phái khác nhau,
du nhập và phát triển ra nhiều nước trên thế giới. Dù đã trải qua lịch sử thăng trầm hơn
2500 năm, với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà trước
hết là triết lý nhân sinh của nó giàu lòng vị tha, thương người, rất gần gũi với con người
và mang nặng tính nhân sinh hơn các tôn giáo khác.
Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận, thế giới quan
và nhân sinh quan có kết cấu chặt chẽ. Mỗi yếu tố chứa đựng những nội dung với chức
năng riêng là tiền đề và hệ quả của nhau. Nhân sinh quan Phật giáo được bắt nguồn từ thế
giới quan. Tuy nhiên, mục đích chủ yếu của Phật giáo là thoát khổ, là giải phóng con
người, mang giá trị nhân sinh sâu sắc. Thích Ca Mâu Ni đã nhìn thấy rõ sự đau khổ ở đời
sống con người mà sáng lập ra Phật giáo để giải thoát con người khỏi nỗi khổ đau.
Triết học phương Đông nghiêng về việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề chính
trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, đặc biệt là vấn đề con người hơn là việc tìm hiểu giới tự
nhiên. Triết học phương Đông nghiên cứu thế giới để làm sáng tỏ con người, vạch ra
nguyên tắc ứng xử, giải quyết các mối quan hệ giữa người với người, chú ý đến đời sống
tâm linh mà ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người. Mục đích nhận thức thế giới của
triết học đều nhằm phục vụ cho đời sống của con người và xã hội. Còn triết học phương
Tây chú trọng nghiên cứu thế giới, tìm hiểu giới tự nhiên, xây dựng nên các học thuyết,
các phạm trù v.v Cũng như nhiều trào lưu tư tưởng triết học phương Đông, Phật giáo đề
cao và nhấn mạnh vấn đề nhân sinh. Đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản khác
biệt của triết học phương Đông so với phương Tây. Điều này góp phần vào việc lý giải vì
sao mặt vũ trụ quan của thế giới quan của Phật giáo, nhất là Phật giáo nguyên thủy, hơi
mờ nhạt, trong khi nội dung nhân sinh quan lại khá rõ ràng và mang tính nổi trội. Mục
đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát con người khỏi nỗi khổ trần thế thông qua con
đường tu tập về mặt tâm linh. Do đó, Phật giáo hầu như không đề cập và không có chủ
trương giải quyết những vấn đề có tính chất siêu hình, như chính lời của Đức Phật thuyết
giảng:
Giống hệt như người bị thương vì một mũi tên thuốc độc, bạn bè thân
thích đưa một ông thầy giải phẫu nhưng anh ta nói: Ta sẽ không để cho rút
mà gặp điều không may, đồng thời Bụt cũng là người trừng phạt cái xấu, kẻ ác.
1.1.2. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo
Triết lý nhân sinh Phật giáo bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới quan Phật
giáo chi phối. Mặt khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nhân sinh quan Phật
giáo chịu sự qui định của tồn tại xã hội và tác động của các hình thái ý thức xã hội khác.
Điều này giải thích tại sao trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân sinh quan Phật giáo có
sự biến đổi, không còn giữ nguyên như ở Phật giáo nguyên thủy. Nghiên cứu chi tiết, cho
thấy các phái Phật giáo có những quan niệm khác nhau về nhân sinh. Phật giáo Tiểu thừa
coi trọng "xuất gia khổ hạnh", chủ trương "ngã không pháp hữu", đề cao sự giải thoát
chính mình với mục đích cuối cùng là chứng đắc La Hán. Tư tưởng chủ yếu của Phật giáo
Tiểu thừa là "tịnh độ" và "xuất thế gian", nhấn mạnh cuộc đời là bể khổ mà nguyên nhân là
do "Thập nhị nhân duyên". Mục đích thoát khổ là phải xuất thế gian, xa rời cuộc sống phàm
tục, diệt dục mới có thể rũ bỏ bụi trần để đạt tới cảnh giới Niết bàn. Còn Phật giáo Đại thừa
không quá đề cao xuất gia khổ hạnh, chủ trương"ngã pháp đều không", tự giác ngộ và giác
ngộ người khác, mục đích tu tập trở thành Phật. Giới luật của Đại thừa cũng có nhiều
biến đổi khác với giới luật của Tiểu thừa ở sự tôn nghiêm cũng như nội dung. Nếu giới
luật của Tiểu thừa tập trung vào việc đạt quả phúc cho mình, thì giới luật của Đại thừa lại
thường hướng đến lợi ích cho người khác Phật giáo Đại thừa về sau phát triển và lại chia
thành nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ ấn Độ và truyền bá ra các nước xung quanh,
triết lý Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã biến đổi, phát triển
ngày càng đa dạng phong phú để thích nghi với truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc
trong những thời kỳ lịch sử nhất định.
Vì khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ là có hạn, nên tác giả luận văn chỉ nghiên
cứu ảnh hưởng nhân sinh quan phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt
Nam và sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới hiện nay trong thuyết tứ đế của Phật
giáo.
Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về con người, đời
sống của con người.
Về con người
hàng ngày.
Xúc thực : Thức ăn là những cảm xúc, cảm giác.
Tư thực : Thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi.
Thức thực : Thức ăn là tinh thần, là thức ăn ở cõi vô sắc, sống bằng tinh thần
thanh cao.
Phật giáo quan niệm sự vật đều luôn vận động biến đổi, không có cái gì là
thường hằng, bất biến. Xuất phát từ duyên khởi luận, Phật giáo cho rằng thế gian hết thảy
đều biến hóa, vô ngã, vô thường. Theo Phật giáo, có hai loại vô thường. Đó là sát na vô
thường và tương tục vô thường. Trong đó, sát na vô thường chỉ sự biến hóa trong khoảng
thời gian cực ngắn. Còn tương tục vô thường chỉ trong một chu kỳ nối tiếp nhau đều có
sinh - trụ - dị - diệt (đối với sinh vật), hay thành - trụ - hoại - không (đối với sự vật), đối
với con người là sinh - lão - bệnh- tử.
Quan niệm của nhà Phật cho rằng, con người là sự kết hợp động của những yếu
tố động, cho nên là giả tạm, suy cho cùng là vô ngã. Với cách nhìn như thế, Phật giáo cho
rằng, mọi sự vật hiện tượng là giả danh không có thực, con người chỉ là giả hợp của Ngũ
uẩn tùy duyên giả hợp mà thành, cho nên là hư vọng huyễn hóa. Đủ nhân duyên hợp lại
thì gọi là sống, hết nhân duyên tan ra gọi là chết. Sống, chết là giả hợp tan của Ngũ uẩn.
Do mê lầm, mà vô thường con người tưởng là thường, vô ngã mà tưởng có ngã. Thân xác
con người là nguồn gốc của mọi khổ đau. Mọi đau khổ như đói khát, sinh, lão, bệnh, tử,
nóng, giận, dâm dục v.v đều có gốc từ con người mà ra. Điều này cho thấy, Phật giáo
nhìn nhận cuộc đời con người là khổ.
Nếu quan niệm chết là hết là chưa hiểu đúng Phật giáo, mà theo Phật giáo, chết là
điều kiện để có cái sinh mới sắp tới. Phật giáo giải thích sự chết của con người bằng
thuyết luân hồi nghiệp báo… Khi con người hình thành thì mọi suy nghĩ, hành động được
ghi lại ở một nơi là Alaya, cứ thế tích tụ thành Karma - Luật vô hình đặc trưng của người.
Khi con người chết luật vô hình quay lại gặp điều kiện thuận lợi tạo thành sinh linh mới
chịu quả ở kiếp trước và nhân ở kiếp sau cứ thế luân hồi. Cuộc đời con người là một mắt
xích trong chuỗi dài vô tận, chỉ là một gợn sóng trên mặt biển bao la. Cuộc sống của con
người trên trần thế không thay đổi được, nó do nghiệp cũ quy định theo luật nhân quả;
Triết học Phật giáo bác bỏ Brahma và Atman, nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân
hồi Samsara và nghiệp Karma của Upanisad cho rằng, mọi vật mất đi ở chỗ này là để
sinh ra ở chỗ khác, trong quá trình biểu hiện sinh tử theo nghiệp nhân quả luân hồi.
Để giải thoát chúng sinh khỏi nghiệp nhân quả luân hồi sinh - tử;
tử - sinh, Đức Phật nêu ra Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Tứ diệu đế là bốn chân lý
giải thoát tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người đều phải nhận thức được đó là: Khổ đế,
tập đế, diệt đế và đạo đế.
Khổ đế
Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người là khổ: "Đời
là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt
chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước
biển" [16, tr. 12].
Khổ đế nói lên bản chất của nhân sinh. Quan niệm nhân sinh trong triết học Phật
giáo mang tính tiêu cực yếm thế, coi đời chỉ là ảo hóa tạm bợ. Do vô minh, con người
không nhận thức được điều đó, do đó cứ lặn lội mãi trong biển sinh tử, luân hồi. Cuộc đời
con người đầy rẫy những nỗi khổ, nhưng không ai nhìn thấy tường tận và rõ ràng. Đức
Phật chỉ rõ: "Ba giới không chút nào yên như là lò lửa, nỗi khổ đầy rẫy trong đó, thật là
đáng sợ" (Kinh Pháp Hoa); "ta thấy các chúng sinh đắm chìm trong bể khổ" (Kinh Pháp
Hoa, Thọ Lượng Phẩm).
Nỗi khổ của thế gian là khôn cùng, song có thể chia làm ba loại khổ hay tám thứ
khổ.
Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ. Mỗi chúng sinh là
nạn nhân của bao cái khổ. Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnh tật hiểm nghèo… lại có
cái khổ khác bên ngoài thể xác như thiên tai, chiến tranh Tất cả những cái khổ đó liên
tiếp dồn dập đến với con người.
Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không có cái vĩnh
hằng. Ca dao có câu "nước chảy đá mòn", để nói một sự vật vững chắc, cứng rắn như đá
nhưng cùng với thời gian chịu tác động của ngoại cảnh cũng phải thay đổi rồi bị hủy diệt
Sở cầu bắt đắc khổ: là những nỗi khổ do con người mong muốn, ước ao mà
không được, con người phải lao tâm khổ tứ biết bao, mong có được ngày thành đạt; nếu
điều đó không thành thì nỗi khổ ấy thật khủng khiếp dày vò con người, khiến con người
tuyệt vọng…
Ngũ thụ uẩn khổ gây ra bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm cho thân tâm phải
chịu hết thảy những nỗi khổ. Thích Ca nói với chúng sinh: già là khổ, bệnh khổ, chết khổ,
cái gì của ta mà phải xa rời là khổ, cái gì không ưa thích mà phải hợp là khổ, cái gì muốn
mà không được là khổ. Tóm lại là triền miên trong ngũ trọc giả hợp.
Học thuyết khổ đế đã chỉ ra những nỗi khổ lớn nhất trong cuộc đời con người.
Với lòng từ bi thương người của mình, Đức Phật muốn chúng sinh biết hết mọi nỗi khổ
có ở đời để khi gặp phải không làm cho tinh thần hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy
xét tìm cách giải khổ, làm chủ được bản thân, vượt lên trên số phận. Điều này cho thấy,
Phật giáo không hề trốn tránh cuộc sống trần gian, cũng như không tô hồng nó, mà đã
dũng cảm nhìn vào hiện thực cuộc đời con người.
Tập đế
Tập đế nói lên sự tập hợp, tích chứa những nguyên nhân đưa tới cái khổ. Đức
Phật cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó (Thập nhị nhân duyên). Phật
Thích Ca thuyết pháp cho môn đệ phép màu nhiệm về nguyên nhân sự khổ. Đó là lòng
tham sống mà luân hồi sinh tử: càng tham, càng muốn, càng được lại càng tham. Con
người tham sống, tham sướng, tham mạnh v.v Nguyên nhân của lòng tham là vô minh,
nghĩa là không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là ảo
giả, mà cứ cho là thực; không nhận thức được ngay chính bản thân mình, cả thế giới
khách quan lẫn bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong vòng luân hồi trôi
chảy bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở trong con người. Phật giáo nói đến
đau khổ chủ yếu là chỉ tinh thần bức bách.
Trong 12 nguyên nhân đưa ra thì Đức Phật cho rằng, vô minh và ái dục là hai
nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người. Sự kết hợp giữa ái dục và vô minh
xuất phát từ nguồn gốc của ba thứ mà phật gọi là tam độc: tham, sân, si.
nguyên nhân chứa đựng nguyên nhân.
Duyên sinh: Đã có tạo nghiệp là nhân tất yếu sẽ sinh ra quả; là hiện hữu là tu sinh
ra ở thế giới để làm người, hay súc sinh.
Duyên lão tử: Đã có sinh tất yếu có già và có chết. Sinh - lão - bệnh - tử là kết thúc
một chu kỳ, đồng thời là nguyên nhân của một chu kỳ tiếp theo, bắt đầu một vòng luân
hồi mới. Cứ như thế tiếp diễn ở trong vòng đau khổ sinh tử.
Diệt đế
Đức Phật khẳng định, cái khổ có thể tiêu diệt được, chấm dứt được luân hồi.
Đức Phật đã giảng cho môn đệ về vấn đề này ở thành Ba Nại Na: "Này các Thầy xa môn
đến đạo diệt khổ, diệt lòng tham sinh hợp với thích thú và nhục dục tìm thích thú ở chỗ
này chỗ khác nhất là tham dục, tham sinh, tham vô minh, diệt hết những dục vọng ấy sẽ
khỏi khổ".
Vì vậy, mỗi chúng sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ "vô minh", để cho Phật
tính bừng sáng, nó sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi Niết bàn. Muốn diệt
trừ "vô minh" phải có trí tuệ vì: "Có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò
xét, không để lầm lỗi có thể có được, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc chắn nhất vượt
bể sinh, lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh là búa sắt chặt cây
phiền não" [27. tr 36-37]
Diệt đế nói lên thế giới của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau.
Đạo đế
Sau khi chỉ ra các nỗi khổ ở cuộc đời con người cũng như nguyên nhân gây nên
các nỗi khổ ấy. Đức Phật khẳng định, có thể tiêu diệt được khổ, tiêu diệt nỗi khổ nhân
sinh bằng trải qua tu luyện để thoát khổ đạt đến cõi Niết bàn tuyệt đối tịch tịnh sung
sướng, an lạc và tốt đẹp nhất. Cuối cùng ngài đưa ra con đường để thoát khổ thực chất là
diệt trừ vô minh, con đường đó là bát chính đạo. Đây là con đường tương đối phổ biến, là
môn pháp chính được đề cập đến nhiều nhất đến nỗi có người lầm tưởng đạo đế và bát
chính đạo là một, đồng nhất.
Chính kiến: Là sự hiểu biết đúng đắn, nhận thức rõ về tứ diệu đế, hiểu đúng sự
vật khách quan. Người có chính kiến sẽ biết phân biệt đúng sai, chi phối mọi hành động,
Với việc tu tập theo bát chính đạo mà Đức Phật đã chỉ ra, con người sẽ thu được
lợi ích thiết thực cho cả mình và xã hội; họ sẽ tự ý thức, sửa mình từ bỏ mọi tội lỗi, tu
thân tích đức như thế con người sẽ đạt tới sự hoàn thiện. Đây có thể coi là cơ sở, động lực
để tạo ra sự yên bình, hạnh phúc không những trong xã hội hiện tại mà cả xã hội tương
lai, bởi nhân nào quả ấy. Một lần nữa cho thấy, những giá trị nhân sinh sâu sắc của Phật
giáo được khẳng định. Đức Phật đã rung động trước nỗi khổ của chúng sinh, nói như thế
không phải Đức Phật tỏ ra bi quan trách đời mà phải thấy rằng Đức Phật đã dũng cảm chỉ
ra thực tế, đoán định thế gian là chỉ có đau khổ. Từ đó mà đi tìm phương thuốc cứu giúp
cho chúng sinh, tìm ra lối đi của sự tự do tuyệt đích, của hạnh phúc yên bình chính là con
đường diệt khổ.
Đức Phật lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong giáo lý của
mình. Đức Phật thuyết giảng: "Đạo của ta đây chỉ có một vị là giải thoát như nước ngoài
khơi chỉ có một vị mặn". Tinh thần triết lý nhân sinh mà Đức Phật dạy chúng sinh đòi hỏi
trách nhiệm về đạo đức làm người, không được làm ngơ trước những nỗi khổ của người
khác, phải toàn tâm toàn ý cứu khổ cho mọi người Đó cũng là yêu cầu đối với chính
mình, mình có thực hiện tốt thì mới hy vọng thoát khổ. Đức Phật tự nhận: "Thường trong
bể khổ sinh tử, làm chiếc thuyền lớn cứu vớt chúng sinh". (Kinh Tâm Địa Quán).
Phật giáo không lấy giáo lý làm trọng, mà chỉ coi đó là phương tiện để đạt đến
chân lý cuối cùng. Cái cốt tủy của nó là sự thực hành của mỗi cá nhân đạt đến sự giác
ngộ, tu thành đạo quả, chứ không phải nghe, giảng để hiểu đạo.
Phật giáo là một tôn giáo rất quan tâm đến con người và cuộc đời con người. Các
tôn giáo khác cũng có cách nhìn nhận về con người. Song sự khác biệt căn bản của giáo
lý Phật giáo với các tôn giáo khác như Thiên chúa giáo, Đạo giáo, Nho giáo là ở chỗ,
Phật giáo đã chỉ ra cho chúng sinh con đường thoát khỏi khổ đau, thoát khỏi bể khổ trầm
luân để đạt đến cõi Niết bàn. Đó là con đường tu học, trau dồi trí tuệ, phá vỡ vô minh.
Đức Phật dạy rằng: "Giáo lý của chúng ta như chiếc bè để qua sông, như ngón tay chỉ
mặt trăng, đừng lấy ngón tay làm mặt trăng, các bậc Như Lai chỉ làm cái việc là chỉ
đường thôi, mỗi người phải tự mình đi đến chứ không ai đi thế cho ai cả" (Pháp cú -
Phamnopada).
sinh quan Phật giáo, nhất là đức từ - bi - hỷ - xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tâm
linh, hướng con người vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức. Hiện nay, tuy
không còn là quốc giáo, song Phật giáo vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến sống tinh thần của
người Việt Nam.
"Phật giáo đến Việt Nam, gặp bối cảnh khác, nên suy tư và vận dụng giáo lý của
thiền sư cũng khác. Nếu không biết đổi khác, chỉ sống y khuôn với giáo lý nguyên thủy,
chắc chắn chúng ta sẽ không có những trang sử đẹp được mệnh danh là thời kỳ vàng son
của Phật giáo Lý Trần " [28, tr. 138].
Trong các tôn giáo được du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo được truyền bá vào rất
sớm sau Nho giáo. Ngay từ năm đầu công nguyên - thế kỷ I người Giao Châu đã tiếp xúc
với Phật giáo từ Tây Vực truyền sang - thời kỳ này nước ta đang nằm dưới ách thống trị
của nhà Hán. Các nhà nghiên cứu đều có chung ý kiến thống nhất cho rằng, Phật giáo
được truyền vào Việt Nam bằng hai con đường. Thứ nhất, từ ấn Độ sang theo đường
biển; thứ hai, từ Trung Quốc vào bằng đường bộ. Các tài liệu nghiên cứu cho thấy, thế kỷ
thứ II cuối triều Hán Linh Đế (168 - 188) xuất hiện hai vị tăng ấn Độ sang Việt Nam
truyền đạo là Ma Ha Kỳ Vực và Khưu Đà La, hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên
của nước ta - Trung tâm Phật giáo Luy Lâu (ngày nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh). Cũng trong thế kỷ này, Mâu Tử là người Trung Quốc đến Việt Nam viết sách
về Phật giáo Việt Nam "Lý hoặc luận". ở Giao Châu có nhiều người tu Phật và hình
thành tầng lớp tăng sĩ trong xã hội. Một số tăng sĩ Việt Nam dịch kinh Phật từ tiếng ấn
Độ sang tiếng Hán. Phật giáo Việt Nam phát triển chủ yếu dưới sự ảnh hưởng của Phật
giáo ấn Độ. Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu từ phía Bắc mang tư tưởng Đại thừa sau đó
lan ra cả nước hay còn gọi Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Bắc tông. Phật giáo được truyền
từ phương Nam mang tư tưởng Tiểu thừa còn gọi là Phật giáo Tiểu thừa hay phật giáo
Nam tông.
Việt Nam giáp với biển Đông có đường biển dài nằm trên con đường thủy thông
thương giữa Đông và Tây, giữa Bắc và Nam, giữa hai cái nôi của nền văn minh lớn ở
phương Đông là Trung Hoa và ấn Độ, là nơi xuất phát về phía Nam của nhiều nhà buôn
sứ giả Trung Hoa. Vị trí thuận lợi ấy khiến Phật giáo du nhập vào Việt Nam sớm. Nhà
Kiến tính thành Phật" của Thiền tông Trung Quốc.
Dưới thời kỳ Bắc thuộc, hai phái thiền Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông
cùng tồn tại và phát triển song song và về cơ bản vẫn là hai phái thiền riêng biệt, chưa chịu
ảnh hưởng lẫn nhau như các thời kỳ sau này.
Phái thiền thứ ba được truyền vào nước ta là Thảo Đường. Lý Thánh Tông là sư
tổ thứ hai của phái thiền này. Đây là dòng thiền riêng của đời Lý và có ảnh hưởng lớn ở
Việt Nam đến đầu thế kỷ XIII.
Đến thời Lý (1010 - 1225) - Trần (1225 - 1400), Phật giáo Thiền Tông phát triển
hưng thịnh, đạt đến đỉnh cao rực rỡ và trở thành quốc giáo, chiếm ưu thế trong đời sống
tinh thần của người Việt Nam.
Lý, Trần trong khoảng hai đời.
Nhà nhà niệm Phật, người người tụng kinh.
Sang đời Lê, vai trò tư tưởng Phật giáo dần suy giảm để nhường chỗ cho tư
tưởng chiếm vị trí chủ đạo của Nho giáo.