Ảnh hưởng nhân sinh quan phật giáo trong đời sống tinh thần của con người việt nam hiện nay - Pdf 14

1

Tiểu luận

Ảnh hưởng nhân sinh quan phật giáo trong đời
sống tinh thần của con người Việt Nam hiện nay
2

MỞ ĐẦU
Thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay mặc cùng tồn tại rất nhiều tôn giáo
ở Việt Nam như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo Cao Đài, Hoà Hảo, Cơ đốc
giáo, … Mỗi một tôn giáo đều có một vị trí, vai trò và những ảnh hưởng nhất
định trong đời sống văn hóa - xã hội. Trong đó, Phật giáo vẫn giữ một vai trò
hết sức quan trọng trong đời sống xã hội và tinh thần người Việt Nam. Sự
lớn mạnh của Phật giáo , sự chi phố i đời s ống tinh thần toàn xã hội của
Phật giáo đã khiến nhiều nh à nho trong lịch sử không hiểu được và
thắc mắc. Lê Quát, một nho s ĩ thế kỷ XIV phàn nàn rằng: " N hà Phật
lấy hoạ phú c để cảm lòn g người, sao được người ta tin sâu bền thế? "
(Đại việt sử ký toàn thư).

không phải là tên riêng. Đó là một quả vị, có nghĩa là người Giác ngộ (Giác
giả), người Tỉnh thức, hoặc là người Biết như thật. Tên riêng của Đức Phật là
Sĩ-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhattha Gotama). Tuy nhiên, ngày nay có rất ít người
dùng tên gọi nầy. Chúng ta thường gọi Ngài là Đức Phật, hoặc Đức Phật Cồ-
đàm.
Đức Phật sống vào khoảng 25 thế kỷ trước tại vùng Bắc Ấn độ. Ngài
sinh ra là một vị hoàng tử của vương quốc Thích-ca (Sakya) tại vùng chân
núi Hy mã lạp sơn, ngày nay thuộc nước Nepal. Ngài sống trong nhung lụa,
có một thời niên thiếu cao sang, kết hôn với công chúa Da-du-đà-la
(Yasodhara), và có một người con trai tên là La-hầu-la (Rahula).
Nhưng, bản thân Thích Ca không muốn kế vị lãnh đạo quốc gia, ngược
lại, ngài rời bỏ hoàng cung theo các nhà tư tưởng học tập, cuối cùng Thích
Ca tự mình sáng lập học thuyết, truyền bá khắp nơi, phát triển thành một tôn
giáo.

Một lần nọ, khi Ngài đánh xe ngựa dạo chơi trên đường phố, Ngài thấy
được bốn cảnh vật làm thay đổi các tư duy của Ngài. Ngài thấy một cụ già
run rẩy, một người bệnh rên siết, và một tử thi sình thối. Ba cảnh nầy khiến
Ngài suy nghĩ rất nhiều và quyết tâm tìm một phương cách để giúp nhân loại
và để tìm một ý nghĩa chân thật của đời sống. Cảnh vật thứ tư là cảnh của
một vị du tăng bình an tĩnh lặng đã khiến cho Ngài có một niềm hy vọng là
đó có thể là một con đường để tìm ra Chân Lý, thoát khỏi hoạn khổ.
4

Vào lúc 29 tuổi, thái tử Sĩ-đạt-đa rời hoàng cung, rời gia đình vợ con,
gia nhập đời sống của một đạo sĩ khất thực trong 6 năm, đi tìm con đường
diệt khổ. Vào đêm trăng rằm tháng Tư, khi ngồi thiền dưới cội cây Bồ đề ở

nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc hội họa và văn học, trong thực tế toàn bộ
cung bậc của những nổ lực của con người trong mỗi quốc gia Á Châu là kết
quả quyết định nhất từ sự ảnh hưởng của Phật giáo.
1.2. Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1. Vị trí nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật
giáo
Ph.Ăngghen đã nói: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối
cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần
thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế".
Điều đó có nghĩa là, tôn giáo do con người sáng tạo ra, tôn giáo không
sáng tạo ra con người song lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người
trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Sự ra đời của Phật giáo - một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới -
Phật giáo đang chiếm vị trí sâu rộng trong đời sống tinh thần của con người,
trong đó có Việt Nam.
1.1.2. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo
Triết học Phật giáo đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề của tư duy triết
học. Đó là những vấn đề thuộc bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh
quan triết học. Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm
về con người, đời sống của con người.
*Về con người
Phật giáo tập trung ở học thuyết cấu tạo con người, học thuyết về sự
xuất hiện và tái sinh.
Theo Phật con người được cấu tạo từ những yếu tố thể hiện trong
thuyết Danh sắc và thuyết Lục đại.
Thuyết Danh sắc: Con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất và tinh
thần.
Thuyết Lục đại: Con người được cấu tạo từ sáu yếu tố:
Thuyết Ngũ ẩn: Xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố.

Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người là
khổ: "Đời là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều
là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và
nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển".
Nỗi khổ của thế gian là khôn cùng, song có thể chia làm ba loại khổ
hay tám thứ khổ.
Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
Tám thứ khổ (Bát khổ): Sự thật nơi cuộc sống nhân sinh không có gì
khác ngoài sự đau khổ, ràng buộc hệ luỵ, không có tự do. Đó là 8 nỗi khổ
trầm lâm bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Thụ
7

biệt Ly (yêu thương chia lìa), Oán tăng hội (oán ghét nhau mà phải sống với
nhau), Sở cầu bất đắc (cái mong muốn mà không đạt được), và Ngũ thụ uẩn
(5 yếu tố vô thường nung nấu làm khổ).
Luận điểm thứ hai Tập đế (hay Nhân đế):
Tập đế nói lên sự tập hợp, tích chứa những nguyên nhân đưa tới cái
khổ. Đức Phật cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó (Thập nhị
nhân duyên) :
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vô
thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại. Phật giáo đã
trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mười hai quan hệ nhân duyên)
được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu
của sự liên kết nghiệp quả.
+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên
sáng tỏ).
+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả,

Tử).
+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải
chết. Nhưng chết – sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau. Thể xác
tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh. Cho nên lại mang cái
nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não).
Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn,
không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà. Các nhân duyên tự tập
nhau lại mà sinh mãi mãi gọ là Duyên hà mãn. Đoạn này do các duyên mà
làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau. Bởi
12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường.
Mối quan hệ Nhân – Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không
gian và thời gian giữa vạn vật. Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới
không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp. Một
hạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ trụ. Cả vũ
trụ hoà hơp tạo nên nó. Cũng như nó hoà hợp tạo nên cả vũ trụ bao la. Trong
một có tất cả trong tất cả có một. Do nhân Duyên mà vạn vật sinh hay diệt.
Duyên hợp thì sinh, Duyên tan thì diệt. Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các
duyên tan hợp, hợp tan nối nhau mà ra. Nên vạn vật chỉ tồn tại ở dạng tương
đối, trong dòng biến hoá vô tận vô thường vô thực thể, vô bản ngã, chỉ là hư
ảo. Chỉ có sự biến đổi vô thường của vạn vật, vạn sự theo nhân duyên là
thường còn không thay đổi. Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú,
nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng biến hoá hư ảo vô cùng, không có gì là
thường định, là thực, là không thực có sinh, có diệt, có người, có mình, có
cảnh, có vật, có không gian, có thời gian. Đó chính là cái chân lý cho ta thấy
9

được cái chân thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “ chân như”

theo chính tư duy biết suy xét vô minh là nguyên nhân của khổ đau, tìm ra
phương pháp tu luyện để thoát khổ cho mình và mọi người; đó là diệt trừ vô
minh, tam độc.
10

Chính ngữ: Lời nói ngay thẳng, là đưa chính tư duy vào thực hành
trong lời nói cụ thể: không nói dối, không tạo ra sự bất hòa giữa mọi người,
không nói lời ác dữ, không thừa lời vô ích. .
Chính nghiệp: Đức Phật dạy chúng sinh rằng:
Nếu là tà nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, thì phải cải tạo, cải tà
quy chính, làm điều thiện tránh điều ác. Còn nếu là chính nghiệp việc làm
hợp với lẽ phải, có ích cho mọi người thì phải giữ gìn. Trong chính nghiệp lại
có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
Thân nghiệp: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
Khẩu nghiệp: Không nói dối, không nói ác, không nói hai lưỡi, không
nói thêu dệt.
ý nghiệp: Không tham dục, không nóng giận, không tà kiến.
Chính mệnh: Lối sống trong sạch, lương thiện, ngay thẳng của con
người; không tham lam gian ác, ăn bám kẻ khác, không gian dối bất chính;
sống chân chính bằng nghề nghiệp chính đáng.
Chính tịnh tiến: Đức Phật dạy con người cố gắng làm điều thiện, tránh
điều ác; không quên lý tưởng tu đạo, luôn cảnh giác tỉnh táo trong từng việc
làm; phải chủ động tích cực trong việc tìm kiếm truyền bá chân lý nhà Phật.
Chính niệm: Trong đầu con người luôn có ý niệm trong sạch ngay
thẳng, ghi nhớ những đạo lý chân chính, điều hay lẽ phải ở đời, chăm lo
thường xuyên niệm Phật.
Chính định: Sự tập trung tư tưởng vào một việc chính đáng, đúng chân

từng bước thu được những thành tựu rất quan trọng và vững chắc trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội, trước hết là lĩnh vực kinh tế. Lực lượng sản xuất
không ngừng được phát triển, quan hệ sản xuất càng được củng cố, đời sống
nhân dân đang từng bước được cải thiện, bộ mặt của đất nước ngày càng biến
đổi theo hướng hiện đại văn minh v.v Cùng với sự đổi mới đi lên của đất
nước, sự phát triển Phật giáo cũng có những thay đổi, có nhiều nét mới so với
trước thời kỳ đổi mới, số lượng chùa chiền và tín đồ Phật giáo tăng lên nhanh
chóng.
Bên cạnh những thành tựu, những mặt tích cực do đổi mới đem lại thì
cũng xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội như
tham nhũng, hối lộ, thói quen tiêu dùng, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường
v.v Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có những tác động không nhỏ tới
Phật giáo. Có nhà sư đã kiếm chọn những chùa to ở những trung tâm buôn
bán lớn, trọng phong bì hơn là hương, hoa; chùa chiền cũng bị ảnh hưởng bởi
cuộc sống trần tục.
Như vậy, môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định đến việc
hình thành niềm tin tôn giáo của con người. Nền kinh tế thị trường đã và
12

đang được xác lập trên đất nước ta, sự tác động của nó đã dẫn nhiều người
tìm đến Phật giáo bằng những con đường khác nhau làm phong phú thêm đời
sống văn hóa tinh thần của con người Việt Nam. Mặt khác, nền kinh tế thị
trường cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nảy sinh các
hiện tượng hạn chế, tiêu cực của các hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo.
Qua sự phân tích trên đây cho ta thấy rõ sự biến đổi của ảnh hưởng
nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam hiện nay có những nguyên nhân, mà đầu
tiên là do sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội

Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là điều
kiện thuận lợi để các thế lực thù địch ráo riết tiến hành các hoạt động chống
phá nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
Phần lớn tăng ni, phật tử Việt Nam là những người yêu nước, họ đã có
nhiều công lao đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ,
cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Hiện nay, đa số các tín đồ Phật giáo bên cạnh việc thực hiện nghiêm
túc giới luật, thì đồng thời làm tốt nghĩa vụ của người công dân. Họ đoàn kết
cùng nhau thực hiện phương châm "Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội",
phát huy truyền thống yêu nước trong trong và ngoài nước. Qua một số vụ
việc lợi dụng Phật giáo để chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta của các thế lực thù địch nhằm phá hoại thành quả cách mạng, xóa bỏ
chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta rất lộ liễu và tương đối toàn diện. Tuy
nhiên, những âm mưu của chúng đã bị thất bại trước sự cảnh giác của giới
phật tử và nhân dân cả nước.
2.1.4. Quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và chính
sách đối với tôn giáo
Đảng và Nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
lâu đã có những chính sách tôn giáo đúng đắn trong sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập cho nước nhà và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tình hình tôn giáo hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, nhiều lực lượng
phản động đang lợi dụng tôn giáo chống phá lại chính sách của Đảng và Nhà
nước, hoặc có trường hợp dưới danh nghĩa khôi phục lại văn hóa truyền
thống đua nhau sửa lại chùa tháp, đúc chuông, tạc tượng, hoặc tổ chức các lễ
hội để làm kinh tế. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra quan
điểm đổi mới về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo. Đưa hoạt động tôn
giáo vào hệ thống quản lý của Đảng và Nhà nước bằng pháp luật. Đảng và
Nhà nước ta luôn xác định đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Quan
điểm ấy luôn nhất quán từ lý luận đến thực tiễn, được khẳng định tại các kỳ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI. Trong Nghị quyết Hội nghị Ban

là đức từ - bi - hỷ - xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tâm linh, hướng con
người vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức. Hiện nay, tuy không
còn là quốc giáo, song Phật giáo vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến sống tinh thần
của người Việt Nam.
Từ thế kỷ thứ VI, ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc đối với Việt
Nam dần dần chiếm ưu thế, trong khi đó ảnh hưởng của Phật giáo ấn Độ có
xu hướng giảm dần. Trong đó, đáng chú ý là có một số dòng thiền Trung
Quốc du nhập vào Việt Nam. Dòng thiền thứ nhất do Tỳ Ni Đa Lưu Chi - tổ
thứ ba của phái Thiền tông Trung Quốc đã sang Việt Nam cuối thế kỷ VI
(580), tu tại chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), trở thành vị sư tổ của phái thiền
mang tên ông ở Việt Nam.
Năm 820, một phái Thiền khác do thiền sư Vô Ngôn Thông (Bất Ngữ
Thông) truyền bá vào nước ta. Dòng Thiền này tồn tại và phát triển cho đến
15

thi Trn. Trc ch nhõn tõm; Kin tớnh thnh Pht" ca Thin tụng Trung
Quc.
Di thi k Bc thuc, hai phỏi thin Tỡ Ni a Lu Chi v Vụ Ngụn
Thụng cựng tn ti v phỏt trin song song v v c bn vn l hai phỏi thin
riờng bit, cha chu nh hng ln nhau nh cỏc thi k sau ny.
Phỏi thin th ba c truyn vo nc ta l Tho ng. Lý Thỏnh
Tụng l s t th hai ca phỏi thin ny. õy l dũng thin riờng ca i Lý
v cú nh hng ln Vit Nam n u th k XIII.
n thi Lý (1010 - 1225) - Trn (1225 - 1400), Pht giỏo Thin Tụng
phỏt trin hng thnh, t n nh cao rc r v tr thnh quc giỏo, chim
u th trong i sng tinh thn ca ngi Vit Nam.
Vit Nam Pht giỏo c truyn vo l Pht giỏo i tha vi cỏc

Hn 20 th k qua Pht giỏo ó cựng chung sng vi dõn tc ta. Trit
lý nhõn sinh ca Pht giỏo ó thm thu vo tinh thn dõn tc v cú nh
hng sõu sc n nhõn sinh quan con ngi Vit Nam, gúp phn c lc
vo vic to nờn nhõn cỏch ca nhiu ngi dõn Vit Nam.
Phật giáo là một tôn giáo, nh các tôn giáo khác, Phật giáo cũng gồm
có giáo lý và hoạt động tín ngỡng. Giáo lý là một hệ thống các quan điểm về
thế giới và con ngời, về cách thức tu luyện và hoạt động tín ngỡng, là
những hành vi, những nghi lễ cần phải thực hiện để đạt tới ớc nguyện. Cả hai
đều có ý nghĩa đối với việc hình thành nhân cách của các tín đồ. Pht giỏo vi
mt h thng trit lý sõu sc ớt mang tớnh siờu hỡnh, m trỏi li cú tớnh thc
tin cao. ú l con ng giỳp con ngi thoỏt kh (gii thoỏt). Pht giỏo cú
nh hng tỏc ng sõu sc n nn tng o c, s hỡnh thnh nhõn cỏch
con ngi Vit Nam - bn sc c ỏo mi con ngi. nh hng ca o
c Pht giỏo ó tr thnh mt b phn hp thnh o c ca xó hi Vit
Nam t thu xa xa.
Hơn lúc nào hết, trong mấy chục năm qua ngời Phật từ Việt Nam hiện
nay rất chăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình. Họ chăm chú
lên chùa trong những ngày sóc, vọng; họ trân trọng và thành kính trong lúc
thực hành các nghi lễ; họ siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm
thiện. Mặt khác, nhà chùa luôn sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của họ nh
giải oan, cầu siêu. Tất cả những điều đó vừa củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa
quy định t duy và hành động của họ, tạo cơ sở để hình thành những nhân
cách riêng biệt.
Con ngời Phật giáo nhìn sự vật trong mối quan hệ nhân quả, xem cái
gì cũng là kết quả của một cái trớc và là nguyên nhân của cái sau. Mỗi khi
gặp một sự việc hệ trọng có liên quan đến bản thân hay ngời nhà, họ đều
nghĩ đến nguyên nhân để tìm cách khắc phục. Học còn nhìn thế giới, xã hội
con ngời ở trong dòng vận động không ngừng, ở đó không có cái gì là tồn tại
mãi, cái gì cũng đang chuyển biến từ cái này sang cái khác. Khi ngời thân
trong gia đình lão già, yếu đau, chết chóc, họ đều xem đó là điều không thể

lõng, mất hiệu quả. Vậy con ngời am hiểu đạo lý, mến đạo, mộ đạo không
phải chỉ là con ngời tu hành một cách cần mẫn mà phải có cả phần trí tuệ để
biết vận dụng giáo lý vào cuộc sống một cách hữu ích. Hiểu đợc và làm
đợc nh thế, con ngời sẽ thấy đạo đức Phật đẹp đẽ và cao thợng biết bao.
2.3.2. nh hng ca Pht giỏo n li sng
Li sng l phng thc sng ca con ngi (cỏ nhõn, nhúm, cng
ng xó hi) trong mt xó hi nht nh c biu hin trờn cỏc lnh vc c
bn ca i sng nh: hot ng lao ng sn xut, hot ng chớnh tr xó hi,
hot ng vn húa tinh thn v hot ng sinh hot hng ngy.
Li sng cú ngun gc t phng thc sn xut. C.Mỏc ó vit: "Khụng
nờn nghiờn cu phng thc sn xut y n thun theo khớa cnh nú l s tỏi
18

sn xut ra s tn ti th xỏc ca cỏc cỏ nhõn m hn th nú ó l mt hỡnh
thc hot ng nht nh ca s biu hin i sng ca h, mt phng thc
sng nht nh ca h.
T xa n nay con ngi Vit Nam ly tõm lm gc, õy l s t tõm,
l th tỡnh cm trong sỏng. Trong mi iu tõm nim Pht ó dy: "Thi õn
ng cu n ỏp vỡ cu n ỏp l thi õn cú mu tớnh". Tỡnh cm ny c
con ngi Vit Nam coi trng v lnh hi, coi ú l phng chõm sng cu
mỡnh. ú l s th hin ca tm lũng v em by t vi mi ngi, t tỡnh
cm lờn trờn ht, õy vn l truyn thng trng ngha ca dõn tc ta.
Ngy nay, khi t nc ó cú s i mi, nn kinh t th trng ang
c xỏc lp thỡ quan nim v li sng cng cú bin i nhiu. Li sng ca
nh s cng thc dng.
2.3.3. nh hng nhõn sinh quan Pht giỏo n vn húa
T khi c truyn bỏ vo Vit Nam, Pht giỏo ó tri qua nhiu bc

chung quanh tạo nên một khung cảnh kiến trúc hài hoà với ngoại cảnh.
Nghệ thuật kiến trúc của đời Lý lại đợc đời Trần kế tục truyền thống
và phát triển mang tính chất phóng khoáng, khoẻ và hiện thực hơn. Tháp Phổ
Minh, Bình Sơn là những công trình kiến trúc có giá trị ở đời Trần, Tháp
Bình Sơn cao 11 tầng, có bố cục chặt chẽ cân xứng.
Sang đời nhà Nguyễn nghệ thuật kiến trúc có chiều hớng ngày càng sa
sút, tuy nhiên cũng có những sáng tạo nhất định nh Văn Miếu ( Hà Nội) và
một số đình, chùa ở các làng. Đỉnh cao của kiến trúc nhà Nguyễn là chùa Tây
Phơng( Thạch Thất, Hà Tây) xây dựng thành ba lớp là lối kiến trúc phổ biến
của các chùa trong nam. Chùa Tây Phơng cũng là nơi tập trung nhiều pho
tợng có giá trị, trong đó nổi tiếng nhất là chùa Tuyết Sơn và mời tám vị La
Hán. Các bức tợng lấy đề tài trong sự tích đạo Phật nhng vẫn thế hiện
những con ngời Việt Nam Hiện thực và gợi cảm.
Ngày nay, những nghệ thuật, kiến trúc đó vẫn còn tồn tại và đợc trùng
tu, sửa sang để làm nơi du lịch của khách thập phơng và nơi lễ bái của nhân
dân trong vùng. Những công trình đó tuy mang đậm dấu ấn Phật giáo nhng
vẫn là sáng tạo nghệ thuật dân gian phản ánh đời sống tinh thần của con
ngời Việt Nam xa.
Túm li, t khi du nhp vo Vit Nam, theo sut chiu di lch s ca
dõn tc, Pht giỏo luụn cú mt v gn bú mt thit vi i sng tinh thn ca
ngi dõn Vit Nam biu hin trờn mt s lnh vc nh: o c, li sng,
vn húa , trong ú nh hng ca nhõn sinh quan Pht giỏo n o c cú
phn ni tri hn. Pht giỏo ó c ngi Vit tip nhn mt cỏch d dng
t nhiờn, vỡ cú nhiu im tng ng. Pht giỏo t cỏi ngoi lai tr thnh cỏi
bn a, t xa l tr thnh thõn thuc vi mi ngi. Cú th núi, chớnh truyn
thng sn cú ca dõn tc ó d dng hũa quyn vi giỏo lý nh Pht, to nờn
mt ch ngha tớch cc mang mu sc Vit Nam, mt nhõn t bn vng trong
nhõn sinh quan Vit Nam.
Trong đời sống văn hóa – xã hội ở nước ta trong mấy năm gần đây đã
xuất hiện những giáo phái mới (Thanh Hải Vô Thượng Sư, Long Thọ Bồ Tát,
Long Hoa Di Lặc…), những hoạt động mê tín dị đoan diễn ra khắp nơi, trong
mọi lứa tuổi và trong mọi tầng lớp dân cư. Thực trạng này đòi hỏi công tác
21

quản lý tôn giáo của Đảng, Nhà nước phải được tăng cường hơn nữa. Trong
đó việc tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, xây dựng
phát huy vai trò các tổ chức tôn giáo là việc làm bức thiết.
Tư tưởng đại đoàn kết các dân tộc, không phân biệt tín ngưỡng tôn
giáo, tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
ra ngay từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã trở thành
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I
đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
trong đó ghi nhận: Nhân dân có quyền "tự do tín ngưỡng". Ngày 14-6-1955,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL quy định những hoạt động tôn
giáo trong chế độ mới, được đồng bào theo và không theo tôn giáo nhiệt liệt
hoan nghênh và ủng hộ. Phát huy vai trò tích cực của các tổ chức Phật giáo
góp phần đảm bảo cơ cấu trong các tổ chức Phật giáo đưa hoạt động của giáo
hội Phật giáo đi đúng hướng, không trái với mục tiêu của Đảng và Nhà nước.
Trong việc phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong các hoạt
động của Phật giáo thì các vị chức sắc, lãnh đạo giáo hội, giáo đoàn có vai trò
rất lớn. Trong không khí hòa bình, cả nước đang đi lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội đòi hỏi các tín đồ, nhà tu hành, các vị chức sắc phải thực hiện tốt nghĩa
vụ của mình. Hiện nay, trong các hoạt động truyền bá Phật pháp, thì việc đào
tạo các tăng ni, phật tử cũng rất được chú trọng. Để phát huy tốt vai trò của
các tổ chức phật tử, chúng ta cần phải thực hiện tốt đường lối, chủ trương và

cách ủng hộ và thông qua các đạo luật mang tính pháp lý nhằm lợi dụng vấn
đề tôn giáo để hoạt động can thiệp, chống phá. Hai là, dung túng, giúp đỡ lực
lượng phản động trong tôn giáo người Việt ở hải ngoại tổ chức hoạt động
chống Việt Nam. Ba là, hỗ trợ, kích động và chỉ đạo các đối tượng cực đoan,
phản động trong tôn giáo ở trong nước tổ chức các hoạt động chống
phá.Chính vì vậy, đấu tranh chống các hiện tượng lợi dụng, xuyên tạc hoạt
động tôn giáo, tín ngưỡng Phật giáo là yêu cầu bức thiết đối với việc chống lại
nguy cơ diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động,
góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta giành thắng lợi.
Hiện nay và trong thời gian tới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch đã, đang và sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển đạo
trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả
số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức
và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường
xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy
rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
23

KẾT LUẬN
Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng thế kỷ II sau Công Nguyên, trải
qua nhiều biến đổi thịnh - suy, thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc
. Qua việc
nghiên cứu đề tài này chúng ta phần nào hiểu thêm được nguồn gốc ra đời của Phật
giáo, tư tưởng của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và người dân ta, đồng
thời hiểu thêm về lịch sử nước ta. Đặc biệt đề tài này cho chúng ta thấy rõ vấn đề
có ý nghĩa quan trọng, đó là vấn đề
ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn

1. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu Nghị
quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Giáo trình triết học Mác - Lênin (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
5. Trần Văn Giàu (1993), Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Hùng Hậu (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam,
tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Nguyễn văn Đại - TS. Bùi Thị Thanh Hương (2011), Nxb Chính trị -
Hành chính, Hà Nội.
8. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
9. Bùi Biên Hòa (1998), Đạo Phật và thế gian, Nxb Hà Nội.
10. Vũ Ngọc Khánh (1986), Phật giáo và văn hóa dân gian Việt Nam
- Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Viện Triết học, Hà
Nội.
11. Hồ Chí Minh (1985), Toàn tập, tập 5, Nxb Sự thật, Hà Nội.
12. Lê Hữu Tuấn (1998), Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo
trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ triết học, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
13. Trần Quốc Vượng (1990), Phật giáo và văn học Việt Nam, Phật
giáo và văn hóa dân tộc, Thư viện Phật học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status