tiểu luận triết học Những giá trị và hạn chế của Phật giáo ảnh hưởng tới nếp sống, suy nghĩ của con người Việt Nam hiện nay - Pdf 28

Cấu trúc đề tài
A. Đặt vấn đề
B. Nội dung
1. Những giá trị và hạn chế của Phật giáo
1.1. Khái quát về Phật giáo
1.2. Những giá trị của Phật giáo
1.3. Những hạn chế của Phật giáo
2. ảnh hởng của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay
3. Giải pháp phát huy tính tích cực cũng nh hạn chế ảnh hởng tiêu cực của
Phật giáo trong giai đoạn hiện nay
C. Kết luận
D. Danh mục tài liệu tham khảo
1
A. Đặt vấn đề:
Việt Nam là một cộng đồng đa nguyên về tín ngỡng và tôn giáo, tồn
tại trên tinh thần hoà bình và tôn trọng tín ngỡng. Có nhiều tôn giáo cùng
du nhập vào Việt Nam. Mỗi tôn giáo có u, nhợc và mức ảnh hởng riêng.
Nếu nh các tôn giáo nh Thiên chúa giáo, lão giáo, nho giáo chỉ lu tâm đến
một giai tầng, một giáo phái nhất định thì Phật giáo lại quan tâm đến tất cả
chúng sinh (cỏ cây, động vật, con ngời). Có lẽ đó cũng là lí do mà hiện nay
tôn giáo thu hút đợc nhiều tín đồ và có tầm ảnh hởng rộng khắp vẫn là Phật
Giáo. Một câu hỏi lớn đặt ra: Ưu, nhợc của t tởng Phật giáo thể hiện nh thế
nào? Mức ảnh hởng của nó ra sao? đang là vấn đề cần đợc nhiều ngời quan
tâm, tìm hiểu.
Do vậy tôi chọn đề tài: " Những giá trị và hạn chế của Phật giáo
ảnh hởng tới nếp sống, suy nghĩ của con ngời Việt Nam hiện nay". Làm
tiểu luận cho mình.
Thực hiện tiểu luận trên, tôi nhận đợc sự giúp đỡ của bạn bè, đồng
nghiệp và đặc biệt là sự giảng dạy nhiệt tình của T.s Cao Thái Sơn đã giúp
tôi hoàn thành đề tài trên.
Tôi hy vọng, với tiểu luận này tôi sẽ góp một phần kiến thức nhỏ bé

uẩn bao gồm: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tởng (ấn tợng), hành (suy lí)
và thức (ý thức).
3
Còn về quan điểm vô thờng, nó có nghĩa là vạn vật biến đôỉ vô
cùng theo chu trình bất tận sau: Sinh- trụ- dị- diệt. Vì vậy mà lúc có, lúc
không, có có rồi lại không không luân hồi bất tận.
Về nhân sinh quan, Phật giáo tập trung vào tìm kiếm mục tiêu nhân
sinh ở sự giải thoát (Moska) khỏi vòng luân hồi, và nghiệp báo để đạt tới
trạng thái tồn tại Niết Bàn (Nirvana). Triết học nhân sinh đề cập đến nội
dung của thuyết tứ diệu đế hay bốn chân lí tuyệt vời. Chúng bao gồm:
Khổ đế kể về tám nỗi khổ cùng quan niệm đời là bể khổ, Tập đế hay nhân
đế đa ra thuyết thập nhị nhân duyên, Diệt đế mọi nỗi khổ đều bị tiêu
diệt để đạt tới trạng thái Niết Bàn và cuối cùng là Đạo đế chỉ ra con đờng
tu đạo tiêu diệt cái khổ.
Trải qua quá trình vận động của lịch sử, Phật giáo đã bị phân chia
thành nhiều hệ phái khác nhau. Nguyên nhân gây nên hiện tợng này là do
những mâu thuẫn nảy sinh bên trong nội bộ của Phật giáo. Cụ thể đó là mâu
thuẫn giữa quan điểm bảo thủ của các tăng sĩ đứng đầu là Ca Diếp với quan
điểm cách tân do Anan chủ trì. Hai là sự khác nhau về giới luật giữa một
bên bắt phải theo luật và một bên thả lỏng hơn. Đây chính là mâu thuẫn gây
ra sự tranh cãi mạnh mẽ nhất dẫn đến sự phân phái của Phật giáo. Ba là sự
khác nhau về triết họcvà giáo lí trong nội bộ Phật giáo, biểu hiện thành mâu
thuẫn giữa quan điểm hữu luận (coi thế giới vật chất tồn tại chân thực, hiện
hữu tơng đối) và quan điểm không luận (thế giới hiện hữu là không có thật,
gốc bằng không). Nhng nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất chính là sự thay
đổi của cuộc sống hiện thực xã hội, nên t tởng của Phật giáo cũng phải thay
đổi cho phù hợp với hoàn cảnh. Đây là một qui luật khách quan. Quá trình
phân phái của Phật giáo là một tất yếu phù hợp với lôgíc phát triển nội tạo
của nó. Đó cũng là một bớc phát triển mới cao hơn về qui mô và phạm vi
của trờng phái Phật giáo. Những hệ phái mới của Phật giáo nh: Về triết học

tu dỡng Bát chính đạo là sự kết hợp độc đáo của tám pháp tu trên cơ sở
phối hợp ba phơng diện tu dỡng: đạo đức (giới)- thực hành thiền (định)- trí
tuệ (tuệ).
5
Trong quá trình phát triển, Phật giáo đã bảo tồn những giá trị căn bản
của Phật giáo Nguyên thuỷ, đồng thời không ngừng bổ sung và hoàn thiện
qua các luận tạng. Thể hiện ở sự phát triển của Giáo Lí Tiểu thừa (tự tha)
đến khuynh hớng Đại thừa hiện đại hoá ngay trong nội bộ Phật giáo. Điểm
tiến bộ của Đại thừa là ở nhân bản luận của nó đã đợc nâng lên tầm phổ
quát: giác ngộ vợt ra ngoài hữu ngã và vô ngã: Không nhất nh, không
chân nh. Nhân bản luận Phật giáo trong quá trình du nhập, đối thoại và
phân phái đã không ngừng khắc phục hạn chế và ngày càng hiện đại hoá.
Nó đã đợc hầu hết các nớc châu á có sự hiện diện của Phật giáo tiếp nhận
và phát triển thành các giá trị t tởng tôn giáo- triết học- đạo đức dân tộc.
Các giá trị t tởng này đợc thể hiện rất đa dạng thành các giá trị văn học
nghệ thuật, lối sống, làm phong phú thêm cho văn hoá bản địa. Đó là các
giá trị đề cao tính nội tâm, hớng nội của con ngời khi chúng đợc chắt lọc và
nâng lên tầm nghệ thuật. Ví dụ nh trà đạo, hoa đạo, võ đạo, th pháp, thơ
thiền
Giá trị nhân bản của Phật giáo là độc đáo so với phơng Tây và các hệ
t duy khác. Bởi cách tiếp cận nhân bản luận của Phật giáo là trung đạo, h-
ớng nội và vô thần. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá trở thành xu h-
ớng chung khách quan; mở cửa; giao lu; hội nhập quốc tế là con đờng tất
yếu; tiếp thu và cải biến các giá trị nhân loại là cần thiết, nhiều học giả ph-
ơng Tây đã đánh giá cao giá trị nhân bản của Phật giáo, coi nhân bản luận
của Phật giáo nh là một đặc trng trội của t duy phơng Đông, là cái có thể bù
đắp những thiếu hụt t duy phơng Tây về con ngời.
Ngợc lại về phía mình, nhân bản luận Phật giáo cũng luôn tận dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại để bảo vệ, bổ sung và phát triển
thêm giá trị nhân bản truyền thống của mình. Theo đó, trong bối cảnh toàn

phạm vi khảo sát và miêu tả. Nó đợc phân chia thành Niết bàn vô d và Niết
bàn hữu d. Sự phân đôi có ý nghĩa quan trọng trong việc vẽ ra khả năng đạt
tới Niết bàn, khích lệ niềm tin và sự tu dỡng. Khi con ngời đạt đến trạng
thái giải thoát họ có đợc một phẩm chất lý tởng gọi là Phật tính. Tuy
nhiên nó mới chỉ dừng lại ở phạm vi tinh thần, đạo đức, tâm lý của con ngời
7
cá nhân chứ cha giải phóng hiện thực, xoá bỏ tận gốc bất công, đau khổ
trong đời sống kinh tế xã hội có giai cấp.
Con ngời lí tởng của đạo Phật là Chu Phật, La Hán, Bồ Tát. Họ là
những con ngời xuất thế, bỏ đi các nhu cầu tự nhiên tới mức diệt dục,
phi bạo lực, thích nghi với mọi điều kiện và không phản kháng. Mô hình
lý tởng của đạo Phật là con ngời bình đẳng về đạo đức, tất cả đều thiện và
không còn phân biệt đẳng cấp, không còn khác nhau về nhu cầu vật chất và
tinh thần.
b) Giá trị t tởng:
Nh đã nói, Phật giáo cho rằng đời là bể khổ và con ngời muốn giải
thoát khỏi cái khổ để đạt tới sự giải thoát hay Niết bàn thì phải tu theo Bát
chính đạo và Giới- Định- Tuệ. Vì vậy, moõi con ngời khi là một thành viên
của trờng phái này hay chỉ đơn thuần là tìm hiểu và nghiên cứu nó đều tìm
đợc cho mình những giá trị t tởng lớn giúp họ tồn tại và vững bớc trên con
đờng tơng lai. Trong cuộc sống có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm và cần ta
giải quyết. Mọi ngời phải tự tìm lấy cho mình một nguyên tắc sống riêng để
làm sao có thể dung hoà đợc tất cả các mối quan hệ đang tồn tại xung
quanh ta. Đạo Phật sẽ giúp chúng ta tìm thấy sự thanh thản trong tâm linh,
thoát khỏi những cám dỗ, bụi bẩn nơi trần tục. Để từ đó mỗi ngời tự hoàn
thiện chính bản thân mình và trở thành những công dân tốt, có ích cho xã
hội.
Mỗi ngời dân biết đến Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ vô
cùng vĩ đại mà còn là một vị phật sống. Ngời đã dành rất nhiều thời gian để
đi sâu nghiên cứu Phật giáo và Ngời đã tìm đợc ở đây những giá trị nhân

Ngoài ra, nguồn gốc ấn Độ của Thiền Phật giáo có gốc rễ từ kinh
điển Vêda cổ và trực tiếp hơn từ hệ thống kỹ thuật và giáo lý Yôga. Tuy
vậy, Thiền Phật giáo không phải chỉ là sản phẩm thuần nhất của ấn Độ nh
Yôga mà là kết quả của sự tiếp biến giữa hai nền văn hoá lớn Trung Quốc
9
và ấn Độ, cụ thể hơn là sự dung hợp những tinh tuý về nghệ thuật nội quán
của ba giáo lý Yôga, Phật giáo và Lão giáo. Mặt khác, theo đánh giá của
triết gia Nitsơ thì Phật giáo là tôn giáo của những chủng tộc thân thiết,
hiềng hoà, đã đạt đến mức độ cao của t tởng. ông viết tiếp: Sự rõ ràng của
t tởng, sự an bài, sự vô ham là mục đích cao cả- đó là điều mà Phật giáo
muốn và đã đạt đợc. Không những thế ông còn thấy đợc tính hiện thực tôn
giáo ở Phật giáo. Nó là một công cụ giáo dục con ngời. Bởi Phật giáo chỉ ra
nghệ thuật dạy dỗ những con ngời hạ đẳng bằng con đờng danh dự vơn lên
cao hơn trong trật tự hão huyền của các vật thể và chính nhờ đó, trật tự thực
tế đi vào khuôn khổ có hiệu quả. Đối với con ngời, trật tự này là rất hà khắc
nhng là sự hà khắc cần thiết. Giá trị của triết học- tôn giáo của Thiền Phật
giáo nói riêng và Phật giáo nói chung đã và đang đợc ứng dụng vào trong
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.
d) Giá trị đạo đức thể hiện trong nền kinh tế thị trờng:
Đạo đức Phật giáo là một hệ đạo đức tôn giáo xuất thế, thiên về thế
giới nội tâm và có khuynh hớng vô thần. Điểm mạnh của đạo đức Phật giáo
là ở chỗ, nó cũng là một thứ đạo đức tôn giáo nhng lại có khuynh hớng vô
thần nên tính nhân đạo có phần độc đáo hơn so với các tôn giáo hữu thần do
phát huy tối đa tính tự giác, tự tại của nội tâm cá nhân. Sự phán xét của đạo
đức là nghiệp quả, nghệp báo, nó điều chỉnh cá nhân theo qui luật nhân quả
tự tại.
Ra đời tại ấn Độ vào thế kỉ VI trớc Công nguyên, khi kinh tế ấn Độ
vẫn là tự cung tự cấp, trao đổi bằng hiện vật, thì giá trị lí luận của Phật giáo
rất mờ nhạt. T tởng kinh tế căn bản trong giáo lí Phật giáo là kinh tế đạo
đức với chủ trơng ham muốn ít, bằng biện pháp diệt dục, thiểu dục để

Bát Chánh đạo vẫn là sự kết hợp không tách dời lý thuyết với thực hành của
Giới- Định- Tuệ trên tinh thần đạo đức hớng thiện: từ bi, hỉ xả, bác ái, làm
lành, lánh ác.
Kinh tế thị trờng phát triển cả giá trị tích cực và tiêu cực. Đạo đức
Phật giáo vơí t cách ý thức xã hội cũng tác động tới kinh tế thị trờng nhng
11
không trực tiếp mà qua lăng kính giá trị tôn giáo. Phật giáo coi mặt tiêu cực
của kinh tế thị trờng nh là quả báo của cuộc cạnh tranh hởng thụ. Giới-
Định- Tuệ, Bát- Chính- đạo vẫn là khung lí thuyết đạo đức- tôn giáo có tính
vô thần, hớng nội, phát huy đợc tính hợp lí của giá trị nhân văn trong nền
kinh tế thị trờng. Trong cơ chế cạnh tranh, đạo lí Phật giáo vẫn cần để nhắc
nhở con ngời không đợc phép quên sự phán xử tự tại của lý nghiệp báo,
sự đánh giá, động viên của quả phúc để tự điều chỉnh hành vi đạo đức hớng
thiện.
Đạo đức Phật giáo không ngừng chọn lọc, hoàn thiện qua lịch sử phát
triển của Phật giáo và giờ đây nó trở thành tinh hoa văn hó chung của của
loài ngời chứ không chỉ riêng Phật giáo theo nghĩa tôn giáo. Dới thử thách
của cơ chế thị trờng, đạo đức Phật giáo sẽ không ngừng vơn tới hoàn thiện
cả về mặt nội dung và hình thức.
1.3. Những hạn chế của Phật giáo:
Thứ nhất là về Thiền Phật giáo không thể trực tiếp mở rộng sang các
lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật hiện đại. Đây là một hạn chế lớn của
Thiền với t cách hệ t tởng triết học- tôn giáo. Hạn chế này bắt nguồn từ sự
giải thoát của Thiền Phật giáo. Nó là một trải nghiệm tâm linh có tính hớng
nội và tính cá thể tuyệt đối nên không thể chứng minh hay bác bỏ. Do vậy
kết quả đạt đợc cũng không cũng không thể chứng minh hay bác bỏ. Vì vậy
mà Thiền Phật giáo chủ yếu phát huy sức mạnh trực giác hớng nội trong các
lĩnh vực triết học, đạo đức, tôn giáo, hay nghệ thuậtvà có khả năng hấp
dẫn đối với nhu cầu nội tâm. Hạn chế này vẫn đang tồn tại và khó khắc
phục.

quyền lực giữa các giáo phái, thậm chí có lúc đã đổ máu. Đây là một sự thật
đáng buồn trong nội bộ Phật giáo.
Thứ ba là tính ích kỉ trong Phật giáo Tiểu Thừa với chủ trơng cứu rỗi
cá thể. Đây cũng là một hạn chế lớn của Phật giáo. Vì Phật giáo chủ trơng
vô ngã để tự giải thoát cho chính mình (tự ngộ). Tuy nhiên, hạn chế
nhanh chóng đợc khắc phục với sự xuất hiện của Phật giáo Đại thừa. Giáo
phái này do Long Thọ sáng lập nhằm tiếp tục triển khai nguyên lý Không
13
và giải thoát luận Trung đạo mang tính chất phổ quất cao hơn. Theo ông,
giác ngộ là sự giải thoát không chỉ cho chính mình mà còn cho mọi chúng
sinh (giác tha). Quan niệm giác ngộ còn phân biệt có- không về ngã vô,
pháp hữucủa Tiểu thừa đợc triệt để hoá theo nguyên lý Không thành ngã
pháp câu không, tức là vứt bỏ cả ý thức phân biệt có- không.
Nh vậy, hạn chế lớn nhất và cũng khó khắc phục nhất của Phật giáo là
cha giải thích đúng đắn bản chất của các hiện tợng lịch sử xã hội, cha tìm ra
nguyên nhân đích thực nỗi khỗ mà nhân dân phải gánh chịu. Và nó cũng
cha chỉ ra đợc con đờng và biện pháp cỉa tạo xã hội một cách đúng đắn, có
hiệu quả để xoá bổ tận gốc rễ sự đau khổ và bất công trong xã hội đơng
thời.
2. ảnh hởng của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay:
Phật giáo ra đời ở ấn Độ vào cuối thế kỉ VI trớc Công nguyên. Phật
giáo đợc truyền bá vào Việt Nam từ thế kỉ I, do sự tác động của thị trờng
thông qua sự thông thơng từ ấn Độ tới Trung Quốc qua hai con đờng Gió
mùa và Tơ lụa, nên Việt Nam cũng sớm tiếp thu loại văn hoá này.
Và giờ đây, Phật giáo chính là một trong ba phông t tởng chính hợp
nên t tởng, văn hoá, đạo đức của Việt Nam. Dới thời Lý- Trần, Phật giáo
Việt Nam đã trở thành quốc giáo, cũng đã xuất hiện nhiều vị s giỏi có công
lớn trong trị nớc và giữ nớc.
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, Phật giáo đã có lúc thăng,
lúc trầm, nhng nhìn chung, nó có đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng

còn là một vị Phật sống đã phát huy đợc truyền thống yêu nớc, đoàn kết
dân tộc, cứu nhân độ thế, vị tha, hớng thiện,của Phật giáo Việt Nam vì
mục đích dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với tài
năng kiệt xuất, sự hiểu biết sâu rộng và một tấm lòng nhân đạo cao cả, Ngời
đã làm cho nhân dân và đất nớc của Ngời lớn lên cùng Ngời. Với Hồ Chí
Minh, danh lợi là phi nghĩa, và Ngời chỉ có một ham muốn, ham muốn tột
bậc là làm sao cho đất nớc ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn đợc tự
do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành.
15
Xin cảm ơn vì Việt Nam đã có một Hồ Chí Minh nh thế! Ngời đã vận
dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những giá trị của Phật giáo để giúp cho
nhân dân ta, dân tộc ta đi đúng hớng và giành đợc những chiến thắng lớn.
Một khía cạnh khác là sự ảnh hởng tích cực của đạo đức Phật giáo đối
với nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam. Việt Nam là một trong những nớc
nghèo, trong khi đó chúng ta lại đang phát triển theo cơ chế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa. Dù không muốn, chúng ta vẫn phải đối mặt và chịu
ảnh hởng của mặt trái của cơ chế này. Do vậy, để hạn chế ảnh hởng tiêu cực
của cơ chế thị trờng, Việt Nam phải lựa chọn và thực hiện theo biện pháp
kinh tế- đạo đức khổ hạnh, thiểu dục của Phật giáo. Trong hoàn cảnh hiện
nay của đất nớc thì việc áp dụng biện pháp này vẫn là một sự cần thiết và
đúng đắn.
Bên cạnh đó, khi nền kinh tế chịu tác động bởi nguyên tắc cạnh tranh
của cơ chế thị trờng thì vấn đề đạo đức con ngời càng bức xúc hơn. Mỗi ng-
ời kinh doanh đều mong muốn thu đợc lợi nhuận tối đa trong công việc làm
ăn của mình. Và họ đã bị cuốn theo vòng danh lợi mà đánh mất chính bản
thân mình. Thì khi đó, đạo đức Phật giáo chính là nơi để họ tĩnh tâm và tìm
lại đợc đúng đờng đi cho mình. Có thể nói rằng những giá trị nhân văn của
đạo đức Phật giáo đã góp phần không nhỏ trong việc cải thiện và hoàn thiện
nhân cách cho mỗi cá nhân. Và thực tế ngày nay cho thấy rằng đạo đức
Phật giáo vẫn thật cần thiết trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

của nớc ta lúc đó. Các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân
Tông và Trần Anh Tông, Trần Minh Tông đều là những thánh đăng của v-
ờn thiền. Vua Trần Nhân Tông còn nổi tiếng là ngời sáng lập ra dòng thiền
Trúc Lâm. Tuy nhiên đến cuối triều Trần, Phật giáo ngày càng yếu dần và
đến cuối thời Lê thì nhờng bớc cho Nho giáo.
Nh vậy, trong suốt bốn mơi năm thế kỉ đầu tiên, lịch sử t tởng Triết
học ở Việt Nam chủ yếu là lịch sử t tởng Phật giáo, mà chủ yếu là Thiền.
Và trong giai đoạn này, Phật giáo đã ăn sâu và tiềm thức và đợc thể hiện
đậm nét trong lối sống của ngời dân đất Việt. Cụ thể là dân ta có một nền
nông nghiệp tĩnh lặng, làng quê Việt Nam hiện lên trong những câu ca dao
17
thật yên bình và mộc mạc sau những luỹ tre làng. Ngời dân chất phác, hiền
lành quanh năm chỉ lo làm ăn với đồng ruộng mà không tham danh lợi. Và
đặc biệt, họ yêu chuộng hoà bình và ghét cảnh chiến tranh, tang thơng, chết
chóc. Một hình ảnh rất quen thuộc và đặc trng cho miền quê Việt Nam đó
là ngôi chùa. Những ngôi chùa Việt Nam với mái cong, tờng thấp nh từ đất
mọc lên không uy hiếp con ngời cũng chẳng thách đố tự nhiên, mà giao hoà
với vạn vật và chúng sinh. Chính Phật giáo đã góp phần khích lệ tấm lòng từ
bi, hỉ xả, bác ái trong đạo đức đối trọng với cạnh tranh thị trờng và lợi
nhuận của ngời dân. Bên cạnh đó, ta còn thấy ảnh hởng của Phật giáo ở
những lễ hội trong xã hội, những lễ thức gắn liền với những thời kì quan
trọng của một đời ngời nh cới xin, ma chay, sinh nởvà nó cũng có mặt
những khi sản xuất gặp bất trắc, cánh đồng có tai nạn hay khi con ngời gặp
may.
Ngời Việt Nam có văn hoá, tín ngỡng, tôn giáo ảnh hởng của Phật
giáo. Dờng nh ngời Việt Nam nào trong tâm linh cũng có tín ngỡng thờ
cúng tổ tiên và biểu tợng của các vị thần nh Trời, PhậtVà cả trong thuần
phong mỹ tục, hội hoạ, điêu khắc và âm nhạc đều có bóng dáng của Phật
giáo. Cũng bởi vì ở Phật giáo họ đã tìm thấy đợc những giá trị chuẩn mực
của đạo đức để có thể giúp họ định hớng hành vi và đi đến tơng lai tốt đẹp.

giữ gìn cho ngàn đời sau. Nhng nếu nguyên tắc ấy quá cứng nhắc, cổ hủ và
có phần không hợp lí với xu thế ngày càng phát triển của cuộc sống thì
chúng ta sẽ không muốn và không thể làm theo. Tuy nhiên Phật giáo khi
can thiệp vào vấn đề này lại mang nhợc điểm lớn. Đạo đức và giáo lý Phật
giáo không giúp con ngời xoá bỏ mà trái lại phải phục tùng không điều kiện
những nguyên tắc đó. Nh vậy, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt
Nam.
Vậy, ta phải có những biện pháp thiết thực nào để phát huy tính tích
cực cũng nh hạn chế tiêu cực của Phật giáo, để Phật giáo Việt Nam tồn tại
lâu dài với thời gian.
19
3. Giải pháp phát huy tính tích cực cũng nh hạn chế ảnh hởng tiêu cực
của Phật giáo trong giai đoạn hiện nay:
Đầu tiên, để Phật giáo có thể truyền bá đợc rộng rãi trong nhân dân
thì Đảng và Nhà nớc ta phải tiến hành mở các trờng đại học chuyên tâm
nghiên cứu về Phật giáo. Bên cạnh đó, Bộ Giáo Dục cũng có thể mở thêm
khoa Phật giáo học tại Đại Học Văn Hoá. Có nh vậy lớp trẻ chúng ta mới có
thể tiếp nhận trực tiếp những giá trị tốt đẹp của Phật giáo đợc. Ngoài ra,
Nhà nớc có thể phối hợp với chính quyền địa phơng để trùng tu và nâng cấp
những ngôi chùa cổ hay những mái đình ở làng quê Việt Nam. Để mọi ngời
có thể thấy đợc tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ và giữ gìn những di sản
phi vật thể mang đậm giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam. Mặt
khác, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kết hợp nhau trong công tác tuyên
truyền bài trừ nạn mê tín dị đoan. Bằng quyền hạn của mình, Nhà nớc có
thể ban hành những chính sách khuyến khích tạo việc làm cho một số lợng
lớn những ngời thất nghiệp trong xã hội. Việc làm này có ý nghĩa rất lớn
đối với những ngời kém may mắn, giúp họ tu tỉnh làm ăn và hớng tới một t-
ơng lai tốt đẹp hơn. Từ đó nó góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo một
chiều hớng tích cực.
Bên cạnh đó, Đảng cần tăng cờng công tác tuyên truyền lối sống lành

3. Hoàng Thơ- Vấn đề con ngời trong đạo Phật- TC Triết học số 6/2000.
4. Hoàng Văn Cảnh- Trần Thái Tông với Pháp Bảo Đàn Kinh- TC Triết
học số 9/2002.
5. Nguyễn Thị Minh Hơng- ảnh hởng của Phật giáo đối với một số triết gia
ở phơng Tây- TC Triết học số 10/2000.
22

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status