Thảo luận Tư Tưởng Hồ Chí Minh: Bàn về ưu điểm và hạn chế của con người Việt Nam potx - Pdf 16

Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nhóm 6.
Thảo luận: Bàn về ưu điểm và hạn chế của con người
Việt Nam.
Chủ đề: Ưu điểm và hạn chế của con người Việt Nam trong
văn hóa sản xuất, kinh doanh.
Chương 1. Quan điểm chung của Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo
đức cơ bản của con người Việt Nam.
1.1.Trung với nước, hiếu với dân.
Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Theo quan điểm
của Hồ Chí Minh nước là nước của dân. Vì vậy, “trung với nước, hiếu với dân” là
thể hiện trách nhiệm với sự nghệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên
và phát triển của đất nước.
Trung với nước là: Trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội,
phải biết đặt lợi ích của Đảng, của tổ quốc, của cách mạng lên trên hết, trước hết.
Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng, thực hiện tốt mọi chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hiếu với dân là: Khẳng định vai trò sức mạnh thực sự của nhân dân, tin dân,
học dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân.
1.2.Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Đây là những khái niệm đạo đức cũ nhưng được Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn
lọc, đưa vào những yêu cầu và những nội dung mới. Cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư là một biểu hiện sinh động của phẩm chất “ trung với nước, hiếu với
dân”.
Cần – siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai
Kiệm - tiết kiệm vật tư, tiền bạc, của cải.
Liêm – trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng.
Chính – không tà, thẳng thắn, đứng đắn.
1
Các đức tính đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cần mà không kiệm giống

cộng sản. Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và xã hội xã
hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa đế quốc là sự tôn trọng và
2
thương yêu tất cả dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân
tộc và sự phân biệt chủng tộc. Người khẳng định: bốn phương vô sản đều là anh
em, giúp bạn là giúp mình, thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế
giới. Người đã góp phần to lớn, có hiệu quả xây đắp tình đoàn kết quốc tế, tạo ra
một kiểu quan hệ quốc tế mới, đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo một nền văn
hóa hòa bình trên thế giới.
Chương 2. Ưu điểm và hạn chế của con người Việt Nam trong văn hóa
sản xuất, kinh doanh.
2.1. Ưu điểm
2.1.1. Cần cù lao động.
Cần cù là một trong những đức tính nổi bật của người Đông Á, trong đó có
Việt Nam. Từ rất sớm, dân tộc Việt Nam đã phải chống chọi lại những điều kiện
thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt cùng với nạn ngoại xâm giày xéo liên miên. Quá
trình đó đã rèn luyện cho người lao động đức tính cần cù "một nắng, hai sương".
Hình ảnh "ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng", "cày đồng đang buổi ban trưa",
hay "tát nước đêm trăng" đã trở nên quá đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt
Nam. Với tính cách một giá trị, cần cù có thể được hiểu là sự nhiệt tình với nghề
nghiệp, lòng yêu lao động, yêu công việc, là tinh thần trách nhiệm đối với công
việc, là đức tính kiên nhẫn, chịu khó trong lao động nhằm đạt được kết quả lao
động tốt nhất.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với chính sách phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta, mọi người dân đã chủ động, tích cực,
tự giác hăng say lao động với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả lao động cao. Qua
đó, đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó cũng được phát huy ở mức độ cao. Việt
Nam bước vào hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất còn thấp kém, năng suất lao động chưa cao. Chúng ta đang tiến
hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nhưng về cơ bản, nước ta vẫn còn là

phục tình trạng sản xuất và thu nhập của nông dân không ổn định, chịu thua thiệt.
Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
có sự cạnh tranh rất quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau và nhất
với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc nâng cao tỷ trọng sản phẩm sản xuất
trong nước. Do đó, để phát triển và hội nhập, nâng cao thị phần và tỷ trọng sản
phẩm trong nước, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải đoàn kết, liên kết, hợp tác
chặt chẽ với nhau hơn, để bổ sung năng lực cho nhau, nhân lên được sức mạnh,
tăng sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và thương hiệu cho mỗi doanh nghiệp và
4
thương hiệu của cộng đồng các doanh nghiệp dược Việt Nam trên thị trường trong
nước và quốc tế.
Các doanh nghiệp Việt Nam luôn đoàn kết, hợp tác trong nhiều lĩnh vực
như sản xuất, nhập khẩu, phân phối sản phẩm.
Đoàn kết tạo ra nguồn sức mạnh vô tận của nhân dân ta, khi phát huy được
tinh thần đoàn kết cộng đồng thì có thể tạo được những công trình lớn… Tiến
trình phát triển của nước ta đã khẳng định chân lý đó.
2.1.3. Linh hoạt, sáng tạo.
Con người Việt Nam sống trong mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, có khả
năng hòa hợp với thiên nhiên, thích ứng nhanh, giỏi về cải tiến, tái tạo, chắp vá để
tạo những cái mới hữu dụng.
Lối ứng xử có đặc tính mềm dẻo, dễ hội nhập, trọng hiếu hòa khoan dung.
Mến khách, mong muốn được hợp tác, kinh doanh cùng có lợi. Lòng hiếu
khách được xem là tài sản tinh thần và là sản phẩm văn hoá của mọi dân tộc, mọi
quốc gia. Người Việt ta vẫn luôn được xem là nền nã hiếu khách và lịch sự văn
minh. Đó là một thế mạnh trong văn hóa kinh doanh của Việt Nam hiện nay.
“Người Việt trẻ trung và hiếu khách. Đó là nguồn tài sản vô giá để có thể tạo nên
sức bật cho nền kinh tế của các bạn” - Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu
(EuroCham) Alain Cany nói khi kể lại một kỷ niệm về VN.
2.1.4. Tiết kiệm và tinh tế.
 Trong tâm lí tiêu dùng: Người Việt Nam có thói quen cần kiệm thích đồ

2.1.5. Ham học hỏi.
 Hiếu học
Trong bối cảnh quốc tế , khi làn sóng kinh tế tri thức đang dâng trào, chúng
ta không thể thực hiện công nghiệp hoá đất nước theo mô hinh cũ của các nước đi
trước mà phải gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá. Nói một cách khác, chúng ta
phải chuyển nền kinh tế chủ yếu còn là kinh tế nông nghiệp cùng một lúc vừa sang
nền kinh tế công nghiệp vừa sang nền kinh tế tri thức trên một số lĩnh vực. Từ đó
thể hiện tinh thần hiếu học của người Việt Nam, không phải áp dụng một cách
máy móc, hoặc là sự dụng một cách rập khuôn, mà có sự học hỏi tích cực.
 Có truyền thống tôn sư trọng đạo.
Trong thời kì hội nhập hiện nay, đất nước con người Việt Nam không chỉ
biết học hỏi những cái mới, tiếp thu những yếu tố mới của nhân loại mà còn phát
huy mạnh mẽ yếu tố sản xuất truyền thống. điều đó thể hiện tinh thần “ uống nước
nhớ nguồn” , “ tôn sư trọng đạo” của con người Việt Nam ta. Tiêu biểu thông qua
các làng nghề truyền thống không nhưng không bị phai nhạt mà còn được nhân
6
dân ta phát triển mạnh mẽ, biến nó thành tiềm năng của đất nước như: làng muối
Sa Huỳnh, làng tạc tượng Sơn Đồng, hay sản xuất gốm ở Phủ Lãng…
 Coi trọng tình nghĩa, tôn trọng tuổi tác.
Trong kinh doanh cũng như bất kỳ ứng xử xã hội đều dựa trên tình và lý,tất
nhiên với mọi ứng xử phải giải quyết trước hết bằng tình nếu không thể thì mới
phải xử bằng lý. Tất cả những hành xử bằng lý thì tình cảm cha con, anh em sẽ
phải để qua một bên, tất cả đều phải tuân theo bằng chứng. Vì thế trong kinh
doanh cần có các hợp đồng giữa các bên. Tuy nhiên trong kinh doanh vẫn giữ “ vĩ
hòa di quý- hòa khí sinh tài” .
Ngoài ra, vấn để tuổi tác cũng được đề cao trong sản xuất kinh doanh. Ví
dụ như, một người giám đốc trẻ tuổi và một người cấp dưới nhiều tuổi hơn, cách
xưng hô của họ cũng rất là trang trọng và thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau. Như, với
người giám đốc thì luôn gọi cấp dưới là bác hoặc chú. Còn đối với người cấp dưới
ấy thì luôn gọi người giám đốc đó là “xếp” hoặc “ giám đốc”.

(l)
- Thói "lười biếng" suy nghĩ và tính toán, tính ỷ lại và bảo thủ, thiếu tinh thần
trách nhiệm cá nhân đối với công việc và với cấp dưới, sự sùng bái kinh nghiệm
và "coi thường" lớp trẻ là sản phẩm lâu dài của nền kinh tế tiểu nông mà dù muốn
hay không người nông dân vẫn tiêm nhiễm. Trong nền kinh tế tiểu nông, "Lão
nông tri điền", “sống lâu lên lão làng", “đất lề quê thói", “phép vua thua lệ làng"
đã trở thành thói quen ứng xử phổ biến. Hơn nữa, sống trong chế độ phong kiến
dưới sự thống trị của chế độ đẳng cấp, tôn ti, trật tự Nho giáo, người nông dân coi
lớp trẻ như là loại "trứng khôn hơn vịt", “khôn ba năm dại một giờ" Trong khi
nói về những điều cần khắc phục trong tâm lý nông dân, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
" nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu "
(2)
- Sống dựa trên nền kinh tế tiểu nông nghèo nàn lạc hậu, dưới chế độ phong kiến
và thuộc địa nửa phong kiến hà khắc, người nông dân còn phải hứng chịu những tệ
nạn xã hội: mê tính dị đoan, cờ bạc, rượu chè, lãng phí Nhận rõ những thói hư,
tật xấu đó, Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “ Đồng bào và cán bộ phải đánh lui tư
tưởng bảo thủ.
- Thiếu ý thức kỷ luật lao động và "thừa " tính đố kỵ, ganh ghét, cục bộ, bản vị địa
phương cũng là một đặc điểm tâm lý nổi bật của nông dân. Người nông dân (tư
hữu nhỏ) sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên "nắng mưa bất thường" và "tùy
hứng" cá nhân đã trở thành thói quen phổ biến ở làng xã Việt Nam. Bị quy định
bởi tư hữu nhỏ, bởi trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế - xã hội, người nông
dân tuy cần cù, thông minh nhưng thiếu tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, bộc lộ tính
đố kỵ, ganh ghét, cục bộ "Đèn nhà ai nấy rạng", “ta về ta tắm ao ta", “trâu buộc
ghét trâu ăn"
8
- Yếu về ý thức kỉ luật và thói quen làm việc đúng giờ, thiếu tôn trọng kế hoạch
và hạn định, thói quen tùy tiện dễ mắc bệnh thất tín, bội tín.
- Thói quen coi của công là của chùa, dẫn đến tập quán "chiếm công vì tư".
- Làm việc theo kiểu hành chinh, họp hành nhiều, chậm triển khai các quyết sách.

Nền kinh tế tiểu nông tồn tại lâu đời gây ra những hạn chế trong sản xuất
kinh doanh. Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (xét theo một nghĩa nhất
định) là quá trình chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (mà ở nước ta là nền kinh tế
tiểu nông) lên nền kinh tế công nghiệp. Dưới góc độ tâm lý, đó cũng là quá trình
chuyển từ “tâm lý tiểu nông" lên "tâm lý công nghiệp" - Đó là cuộc cải biến mang
tính khoa học và cách mạng trong đời sống tâm lý của người nông dân. Vì vậy,
việc nghiên cứu văn hóa nông thôn, con người nông dân, việc đào tạo, sử dụng
nguồn nhân lực nông dân đòi hỏi phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm của bước
chuyển tâm lý này mà có chính sách, kế hoạch, biện pháp, bước đi thích hợp đối
vớ nông nghiệp và nông thôn. Đó là một trong những yếu tố quan trọng góp phần
vào thắng lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
2.2.2. Phân biệt đối xử nghề nghiệp.
- Có sự phân biệt đối xử giữa lao động trí óc với lao động chân tay đặc biệt là
khinh miệt lao động chân tay . Ở nước ta, thời kỳ phong kiến; do bị ảnh hưởng
nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo nên hàng mấy trăm năm, người ta quá đề cao hình
ảnh các nho sĩ, cố tình hạ thấp vai trò của những người lao động làm các công việc
khác.
Tư tưởng ấy, vẫn còn ảnh hưởng nặng nề mãi đến hôm nay, với những hình
thức khác nhau. Thói ham chuộng hư danh về bằng cấp; hiện tượng “học giả, bằng
thật” đang tồn tại khá phổ biến.
Trong xã hội hiện đại, hàm lượng trí thức luôn hiện diện ở mọi công việc.
Ranh giới giữa lao động chân tay và lao động trí óc sẽ không còn. Nhà khoa học
cũng có thể là người trực tiếp sản xuất.
Chúng ta đang cố gắng trí thức hóa đội ngũ công nhân; đảm bảo những
người trực tiếp lao động sản xuất cũng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, trong quá
trình hội nhập kinh tế thế giới.
- Coi thường buôn bán: Nghề buôn từ xưa không được các triều đại phong kiến
xem trọng. Chẳng những vậy, xã hội Việt Nam thời phong kiến còn xem thường
những người làm nghề buôn bán. Họ gọi những người này là phường con buôn,

chúng ta đã thể hiện sự yếu kém trong ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên
nhiên.
11
 Như ta đã biết, tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia
tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh
thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô
nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ
sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công
trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng.

Hoạt động thương mại không chỉ đáp ứng yêu cầu xuất khẩu mà còn đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng nội địa, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo
đói. Tuy nhiên, nó cũng đang gây ra hậu quả tiêu cực đối với quá trình phát triển
bền vững ở nước ta, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường và mất cân bằng
sinh thái. Quá trình tự do hóa thương mại đã làm gia tăng việc khai thác và sử
dụng các nguồn lực tự nhiên, tập trung khai thác các nguyên liệu thô mà Việt Nam
có lợi thế. Hậu quả là tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra ở khắp nơi, nguồn tài
nguyên bị khai thác không có tổ chức mau chóng cạn kiệt, sức khoẻ của người dân
bị ảnh hưởng và mất cân bằng sinh thái.
Không những vậy, lợi nhuận và áp lực cạnh tranh của thị trường là yếu tố khuyến
khích các nhà đầu tư sử dụng các quy trình công nghệ không thân thiện với môi
trường để giảm tối đa chi phí sản xuất, từ đó tạo ra nguy cơ ảnh hưởng mạnh mẽ
đến môi trường, nhất là ô nhiễm môi trường tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tạo
ra rác thải gây ô nhiễm.
Hoạt động của các dự án lấn biển đã ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường nước
biển. Nước đục do chất thải sinh hoạt, do san lấp mặt bằng, do bồi lắng thu hẹp
dòng chảy. Cùng với việc hình thành các dự án lớn, nhà hàng, khách sạn của tư
nhân mau chóng mọc lên dọc bờ biển làm cho hàm lượng chất rắn lơ lửng ven
biển vượt quá giới hạn cho phép.
 Môi trường sinh thái khu vực nông thôn nước ta đang bị ảnh hưởng của

hóa có tính bền vững. Không chỉ có tính lịch sử - truyền thống mà còn là một hệ
thống với nhiều thành tố khác nhau trong đó bao gồm cả những ưu, nhược điểm
của con người Việt Nam. Để văn hóa sản xuất và kinh doanh nước ta phát triển
theo hướng tích cực thì chúng ta cần phát huy tối đa những ưu điểm của con người
Việt Nam.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status