BÀI TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM - Pdf 25

TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
BÀI TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ CÁCH MẠNG GIẢI
PHÓNG DÂN TỘC VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP
GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM
BỐ CỤC BÀI TIỂU LUẬN
A.PHẦN MỞ ĐẦU
B.PHẦN NỘI DUNG
**Đặt vấn đề
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc:
I.1/ Cơ sở lý luận và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
I.1.1.Quan điểm của Mác – Lênin
I.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh
I.2/ Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong chủ
nghĩa Mác-Lênin
I.3/ Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
I.3.1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc:
I.3.1.1. Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa
I.3.1.2. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc
I.3.2 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường CMVS
I.3.2.1. Rút bài học từ sự thất bại của các con đường cứu nước trước đó
I.3.2.2. CMTS là không triệt để
I.3.2.3. Con đường giải phóng dân tộc
I.3.3 Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng cộng sản lãnh
đạo.
I.3.4 Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân, trên cơ sở liên
minh công nông.
I.3.5 CM giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng
giành thắng lợi trước CM VS ở chính quốc.
I.3.6 CM giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực.
I.4.Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc:

là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc ta. Nét đặc sắc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là
vấn đề xung quanh việc giải phóng dân tộc và định hướng cho sự phát triển của dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng ta và nhân dân ta trên con đường thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Tư tưởng Hồ
Chí Minh là nền tảng tư tưởng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối CM đúng đắn, là
sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đi tớt thắng lợi.
Đối với sự phát triển của thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng thời
đại. Hồ Chí Minh đã có những cống hiến xuất sắc về lý luận CM giải phóng dân tộc
thuộc địa dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, giành độc lập dân tộc để tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội.Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế giới còn ở chỗ, ngay
từ rất sớm Người đã nhận thức đúng sự biến chuyển thời đại để tìm ra các giải pháp đấu
tranh giải phóng loài người. Người cương quyết bảo vệ và phát triển quan điểm của
Lênin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược của CM giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối
với cách mạng vô sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh cổ vũ các dân tộc vì mục tiêu cao cả.
Trong lòng nhân dân thế giới chủ tịch Hồ Chí Minh là bất diệt.
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 3
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân lý sáng ngời, góp phần
vào sự kiến tạo và phát triển của nhân loại.
B.NỘI DUNG
ĐẶT VẤN ĐỀ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc cũng là giải
phóng giai cấp, giải phóng con người chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống tư tưởng
Hồ Chí Minh . Đây cũng là vấn đề cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người vừa là sự kết hợp tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể
hiện tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo của người trong việc vận dụng những nguyên lý
phổ biến của Chủ nghĩa Mac Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ
Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
được coi là bước phát triển mới học thuyết Mac Leenin về cách mạng thuộc địa ở thời
điểm các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh cho độc lập, tự do.

động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản…”, đó là chủ nghĩa
dân tộc chân chính.
Kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH, chủ
nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.
* Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng
Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Do đó, “giành được độc lập rồi phải tiến lên
CNXH…”. “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội”.
* Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc khác. “Phải đấu tranh cho tự
do, độc lập của các dân tộc khác như là đấu tranh cho dân tộc ta vậy”.
I.2/ Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong chủ
nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Leenin có sứ mệnh lịch sử và vạch rõ con đường và phương
pháp đấu tranh để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Những vấn đề trên đây đã được các nàh kinh điển của giai cấp vô sản chỉ ra từ rất sớm.
Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, năm 1848, Mác, Ăngghen không chỉ luận giải
vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc mà vấn đề giải phóng con người cũng
được đề cập sâu sắc: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người”.
Tuy nhiên do cả hai ông đều sống ở Tây Âu nơi mà chủ nghĩa tư bản phát triển
tới trình đọ cao nên trước hết các ông nhấn mạnh vấn đề giải phóng giai cấp, Mác và
Ăngghen đã viết: “hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này
bóc lột dân tộc khác sẽ bị xóa bỏ”.Mác và Ăngghen cho rằng giải phóng giai cấp là
nhiệm vụ trung tâm, là điều kiện để giải phóng dân tộc. Sau Mác và Ăngghen, Lênin
đã trực tiếp giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc.
Trong thời kì chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn tột cùng của nó là chủ
nghĩa đế quốc. Một trong những đặc điểm cơ bản là xâm chiếm thuộc địa, một số nước
đế quốc biến 70% dân số thế giới thành thuộc địa, Lênin đã kế tục và phát triển sự
nghiệp của Mác, Ăngghen khi thành lập Quốc tế I và Quốc tế II đại diện cho giai cấp
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 5

sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: đó là giải
phóng loài người”. Trước khi đi gặp cụ Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh
khác, Hồ Chí Minh vẫn nghĩ đến con người và sự nghiệp giải phóng con người. Thật
sâu sắc và cảm động khi thấy những điều Hồ Chí Minh căn dặn chúng ta trong Di
chúc: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Như vậy đối với Hồ Chí Minh trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người thì giải phóng
dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu. Đó là sự trung thành, vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 6
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
I.3.1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc:
I.3.1.1 Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa
Hồ Chí Minh nhận thấy sự phân hóa giai cấp thuộc địa khác với các nước phương
Tây. Các giai cấp ở thuộc địa có sự khác nhau ít nhiều, nhưng đều chung một số phận
mất nước nên có chung số phận là người nô lệ mất nước.
Mâu thuẫn co bản ở các nước phương Tây là giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, mâu
thuẫn chủ yếu ở xã hội thuộc địa phương Đông là dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực
dân. Do vậy “cuộc dấu tranh giai cấp không diễn ra giống như các nước phương Tây”.
Đối tượng cách mạng ở thuộc địa không phải là giai cấp tư sản bản xứ, càng không phải
là giai cấp địa chủ nói chung, mà là chủ nghĩa thực dân và tay sai phản động.
Cách mạng xã hội là lật đổ nền thống trị hiện có và thiết lập một chế độ xã hội mới.
Cách mạng ở thuộc địa trước hết phải “lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc”, chứ
chưa phải là cuộc cách mạng xóa bỏ sự tư hữu, sự bóc lột nói chung.
Hồ Chí Minh luôn phân biệt rõ thực dân xâm lược với nhân dân các nước tư bản chủ
nghĩa. Người kêu gọi nhân dân các nước đế quốc phản đối chiến tranh xâm lược, ủng hộ
nhân dân các nươc thuộc địa đấu tranh giành độc lập.
Yêu cầu bức thiết của nhân dân thuộc địa là độc lập dân tộc.
Ở các nước thuộc địa, nông dân là nạn nhân chính bị boc lột bởi chủ nghĩa đế quốc.
Nông dân có hai yêu cầu: độc lập dân tộc và ruộng đất, nhưng luôn dặt yêu cầu độc lập
dân tộc cao hơn so với yêu cầu ruộng đất. Hay nói cách khác nhiệm vụ hàng đầu của cách

I.3.2.1. Rút bài học từ sự thất bại của các con đường cứu nước trước đó
Để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp ông cha ta đã sử dụng
nhiều con đường với những khuynh hướng chính trị khác nhau sử dụng những vũ khí tư
tưởng khác nhau nhưng đều bị thất bại. Thất bại của các phong trào yêu nước chống thực
dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng tỏ rằng, những con đường
giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản là không đáp
ứng được yêu cầu khách quan là giành độc lập, tự do của dân tộc do lịch sử đặt ra. HCM
sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước đã bị biến thành thuộc địa, nhân dân phải chịu
cảnh lầm than, Hồ Chí Minh được chứng kiến phong trào cứu nước của ông cha Người
rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng Người không tán thành các con
đường cứu nước của họ mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới, Người đã
đến nhiều quốc gia và châu lục trên thế giới.
*Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:
Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước ácmăng
(Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song
phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra. Phong trào Cần Vương (1885-
1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động,
đã mở cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành,
Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc
dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc
Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh
Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê
của Phan Đình Phùng (1885-1895). Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông
dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913. Thất bại của phong
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 8
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết
nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra.
Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là
Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân

thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn,
Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản
như Nam Đồng thư xã (Hà Nội), Cường học thư xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế);
ra nhiều báo chí tiến bộ như Chuông rạn (La Cloche fêlée), Người nhà quê (Le Nhaque),
An Nam trẻ (La jeune Annam) Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 9
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu
Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926). Cùng với phong trào đấu
tranh chính trị, tiểu tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ,
tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, càng về sau, cùng sự thay
đổi của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh. Có bộ phận đi
sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản (như Nam Đồng thư xã), có bộ phận
chuyển dần sang quỹ đạo cách mạng vô sản (tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam).
- Năm 1927-1930 Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạt
động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927). Cội nguồn Đảng này là Nam Đồng thư
xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính.
Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các
thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội
Pháp.
Về tư tưởng, Việt Nam quốc dân Đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn
Trung Sơn. Về chính trị, Việt Nam quốc dân Đảng chủ trương đánh đuổi đế quốc, xóa bỏ
chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa bao giờ có một đường lối chính trị cụ
thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam quốc dân Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ Trung
ương đến cơ sở, nhưng cũng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất. Ngày 9-
2-1929, một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát tên trùm mộ phu Badanh
(Bazin) tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào yêu nước. Việt Nam
Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức bị động, các lãnh tụ của
Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng
“không thành công cũng thành nhân”. Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ,

đến nơi, làm sao khi CM rồi thì quyền giao lại cho dân chúng số nhiều, thế thì dân chúng
khỏi phải hi sinh nhiều lần, dân chúng mới hạnh phúc. Bởi lẽ đó, Người không đi theo
con đường cách mạng tư sản.
I.3 .2.3 Con đường giải phóng dân tộc :
Hồ Chí Minh thấy được CM tháng Mười Nga không chỉ là một cuộc CMVS, mà
còn là một cuộc CM giải phóng dân tộc. Nó nêu tấm gương sáng về sự giải phóng các
dân tộc thuộc địa và “mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải
phóng dân tộc”.
*Ảnh hưởng to lớn và sâu sắc của CM Tháng Mười Nga đến phong trào CM Việt Nam:
CM Tháng Mười Nga thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nhân
loại-Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Thành công của CM
Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến phong trào CM trên thế giới nói
chung và CM Việt Nam, nói riêng. Những ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đó đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất đầy đủ và hướng phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam
đi theo. Nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung trong tác phẩm
“Đường cách mệnh” và tác phẩm “CM Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng
cho dân tộc”. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra tính triệt để của CM Tháng Mười
Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có CM Tháng Mười Nga là đã thành công và thành
công đến nơi”. Tính triệt để của CM Tháng mười Nga đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhận thức một cách rất sâu sắc. Đó là, chính quyền thuộc về tay đại đa số quần chúng
nhân dân lao động. Nếu chính quyền còn nằm trong tay “một bọn ít người”-bọn tư bản,
thì CM không triệt để, “chưa đến nơi”. Bên cạnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh tính triệt
để của một cuộc CM còn thể hiện ở chỗ: giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức,
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 11
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
bóc lột một cách triệt để và đem lại hạnh phúc, tự do và bình đẳng thực sự cho họ. Điều
này, sau này, được Người thể hiện dưới dạng khát vọng lớn lao: “Tôi chỉ có một ham
muốn, ham muốn đến tột bực là làm sao nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (5).
Nhận xét này của của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lóe sáng khát vọng về xã hội tương lai-xã

thứ ba” chính vì Lênin và Quốc tế thứ ba đã “bênh vực cho các dân tộc bị áp bức”.,
Người tìm thấy ở đó con đường giải phóng dân tộc và chỉ rõ: Các đế quốc vừa xâu xé
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 12
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
thuộc địa, vừa liên kết nhau đàn áp CM thuộc địa; Thuộc địa cung cấp của cải và binh
lính đánh thuê cho đế quốc để đàn áp CM chính quốc và thuộc địa. Vì thế giai cấp vô sản
chính quốc và thuộc địa có chung kẻ thù và phải biết hỗ trợ nhau chống Đế quốc Người
ví CNĐQ như con đỉa 2 vòi, 1 vòi cắm vào chính quốc, 1 vòi vươn sang thuộc địa, muốn
giết nó thì phải cắt 2 vòi, phải phối hợp CM chính quốc với thuộc địa. CM giải phóng
thuộc địa và CM chính quốc là hai cánh của CM vô sản, muốn cứu nước giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác con đường CMVS.
Trong bài Cuộc kháng Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản
thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của
chủ nghĩa cộng sản và của CM thế giới”.
Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà CM có xu hướng tư
sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết CM của chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa
chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác con đường CM”, “…chỉ có CNXH, CNCS mới
giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô
lệ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Giống như mặt trời chói lọi, CM tháng
Mười chiếu sáng năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất.
Trong lịch sử loài người, chưa từng có cuộc CM nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế"
I.3.3 Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng cộng sản lãnh
đạo.
Các lực lượng lãnh đạo CM giải phóng dân tộc trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra
đời đều thất bại do chưa có một đường lối đúng đắn, chưa có một cơ sở lý luận dẫn
đường. Các phong trào chống pháp trước năm 1930 ở nước ta đã xuất hiện các đảng phái
như: Duy Tân hội, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng,…chính vì
những Đảng này thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu cơ sở rộng rãi

cày và lao dộng trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực
phụng sự Tổ Quốc và nhân dân.” Khi khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là đảng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nêu lên luận điểm
định hướng cho việc xây dựng đảng cộng sản Việt Nam thành đảng có sự gắn kết chặt
chẽ với giai cấp công nhân và nhân dân lao động và cả dân tộc trong mọi thời kỳ của CM
Việt Nam. Mọi người Việt Nam yêu nước dù là đảng viên hay không, đều thật sự cảm
nhận đảng cộng sản Việt Nam là đảng của Bác Hồ, là đảng của mình, đều gọi đảng “là
đảng ta”. Hồ Chí Minh đã xây dựng một đảng CM tiên phong, phù hợp với thực tiễn cách
mạng Việt Nam, gắn bó với nhân dân, với dân tộc, một lòng một dạ phụng sự tổ quốc,
phụng sự nhân dân, được nhân dân, được dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình.
Ngay từ khi mới ra đời, đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng và sức
mạnh của toàn bộ giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Đó là một đặc điểm, đồng
thời là một ưu điểm của đảng. Nhờ đó, ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm ngọn cờ lãnh
đạo duy nhất đối với CM Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu bảo đảm mọi thắng lợi
của CM
I.3.4. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân, trên cơ sở liên
minh công nông.
I.3.4 .1 CM là sự nghiệp của quần chúng bị áp bức :
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 14
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
Năm 1924, Hồ Chí Minh đã nghĩ đến một cuộc khởi nghĩa vũ trang toàn dân.
Người cho rằng: “ để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương:1-
phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn.
Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng…”
Hồ Chí Minh nghiêm khắc phê phán việc lấy ám sát cá nhân và bạo động non làm
phương thức hành động. “hoặc xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức, hoặc làm
cho dân quen tính ỷ lại, mà quên tính tự cường”. Người khẳng định “ Việt Nam làm CM
giải phóng dân tộc, đó là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người.
CM muốn thắng lợi phải đoàn kết toàn dân, phải làm cho sĩ, nông, công thương đều nhất
trí chống lại cường quyền. Trong sự nghiệp này phải lấy công nông là người chủ cách

lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết…công nông là tay không chân rồi,
nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan
góc”. Từ đó Người khẳng định: “công nông là gốc cách mệnh”. Khẳng định vai trò động
lực CM của công nhân và nông dân là một vấn đề hết sức mới mẻ so với nhận thức của
những nhà yêu nước trước đó.
Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo CM giải phóng dân tộc,
người đề xuất với Đảng thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh. Người chủ trì
Hội nghị đã đề ra nghị quyết xác định “ lực lượng CM là khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu
nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành
quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc pháp- nhật xâm chiếm nước ta”. Tháng 9/
1955, Hồ Chí Minh khẳng định: “ Mặt Trận Việt Minh đã giúp CM tháng 8 thành công”.
1.5 CM giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng
giành thắng lợi trước CM VS ở chính quốc.
Đây là một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về CM giải phóng dân tộc với CMVS:
-Theo Mác- Ănghen: CMVS ở chính quốc là cần thiết và được thực hiện trước.
- Theo Lênin: CM thuộc địa phụ thuộc vào CMVS ở chính quốc.
-Còn theo Hồ Chí Minh: CM giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động và
có khả năng giành thắng lợi trước CMVS ở chính quốc.
Cơ sở đưa ra luận điểm:
-Hồ Chí Minh vận dụng những nguyên lý mà C.Mác đưa ra: “sự giải phóng của
giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được bởi giai cấp công nhân”, để đưa đén khẳng
định: “công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản
thân anh em”. Vì thế nên công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa phải do chính các
dân tộc đó thực hiện.
-Hồ Chí Minh nhận thấy sự tồn tại và phát triển của CNTB là được dựa trên sự áp
bức bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân dân các dân tộc thuộc địa. Vì vậy, cuộc
đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh của
các dân tộc thuộc địa thì mới tiêu diệt được hoàn toàn CNTB. Hơn nữa theo đánh giá của
Hồ Chí Minh trong giai đoạn ĐQCN, sự tồn tại và phát triển của CNTB chủ yếu dựa vào

có thể dựa vào sự nỗ lực của nhân dân thuộc địa, phải đem sức ta tự giải phóng cho ta”.
Tóm lại, đây là luận điểm có ý nghĩa thực tiễn to lớn giúp CM giải phóng dân tộc
ở Việt Nam không thụ động, ỷ lại chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài mà luôn phát huy tính độc
lập tự chủ, tự lực, tự cường nhờ đó mà CM Việt Nam giành thắng lợi vĩ đại và góp phần
định hướng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trên thế giới trong thời
kỳ đó.
1.6 CM giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực.
Theo CN Mác Lê Nin, có nhiều phương pháp giành chính quyền từ tay giai cấp
thống trị. Những kẻ thù không bao giờ tự nguyện giao chính quyền cho nhân dân. Vì vậy
CM muốn thắng lợi phải dùng bạo lực của quần chúng nhân dân để giành chính quyền.
Hồ Chí Minh khẳng định: Ở các nước thuộc địa, CN thực dân dùng bạo lực phản CM đàn
áp các phong trào yêu nước. CM giải phóng dân tộc muốn thắng lợi thì phải dùng bạo lực
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 17
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
CM chống lại bạo lực phản CM. Bạo lực phản CM là bạo lực của quần chúng gồm lực
lượng "chính trị" của quần chúng và lực lượng "vũ trang" với 2 hình thức đấu tranh chính
trị và vũ trang kết hợp với nhau.
Để giành chính quyền phải bằng bạo lực, trước hết là khởi nghĩa vũ trang của quần
chúng. Trong thời đại mới, thời đại CMVS thì cuộc khởi nghĩa vũ trang phải có sự ủng
hộ của CMVS thế giới, CM Nga, thậm chí với CMVS Pháp.
Tư tưởng về CM bạo lực gắn liền với tư tưởng về xây dựng lực lượng vũ trang được Hồ
Chí Minh suy nghĩ từ sớm và khi trở thành chủ trương của Đảng tại hội nghị trung ương
VIII (5/1941), Người kết luận: cuộc CM Đông Dương được kết liễu bằng khởi nghĩa vũ
trang. Căn cứ vào tương quan so sánh lực lượng vào thiên thời, địa lợi. Hồ Chí Minh bàn
tới khởi nghĩa từng phần, mở rộng cho cuộc tổng khởi nghĩa to lớn giành chính quyền
trong cả nước.
Từ sau Hội nghị trung ương VIII, Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng căn cứ địa, lực
lượng vũ trang, lực lượng Chính trị, chuẩn bị tổng kết khởi nghĩa. Thắng lợi CM tháng 8
đã chứng minh tính đúng đắn của TTHCM về con đường bạo lực CM.
Sáng tạo và phát triển nguyên lý CN Mac – Lênin về con đường bạo lực ở Hồ Chí Minh

công bằng, dân chủ, văn minh là điều kiện cơ bản để bảo vệ nền độc lập dân tộc một cách
thực tế, vững chắc trong hội nhập kinh tế quốc tế rất phức tạp và đầy rẫy nguy cơ mất còn
hiện nay. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã sớm cảnh báo tới nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ ảnh hưởng không tốt tới an
ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc và nền độc lập của đất nước.
Đổi mới để phát triển và phát triển để đổi mới mạnh mẽ và vững chắc hơn là nhận
thức căn bản và biện chứng về quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc. Tập
trung cho tăng trưởng mạnh kinh tế trong thời kỳ quá độ chính là làm cho cơ sở vật chất
của CNXH ngày một nhiều hơn trên thực tế; do đó, càng có điều kiện thuận lợi hơn trong
công tác bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Định
hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định trong phát triển kinh tế thị trường có ý
nghĩa căn bản đảm bảo cho nền kinh tế vừa phát triển theo quy luật một cách đúng hướng
vừa làm điều kiện nền tảng giải quyết những vấn đề xã hội bền vững.
Thực tế cũng cho thấy, nền độc lập dân tộc càng được bảo vệ vững chắc thì hiệu quả
công cuộc xây dựng chế độ mới ngày càng cao. Công cuộc xây dựng xã hội mới có hiệu
quả càng là điều kiện quan trọng thiết thực bảo vệ nền độc lập dân tộc vững vàng. Nhờ
xác định đúng mối quan hệ này và tổ chức thực hiện tốt trên thực tế nên CM Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong cả đối
nội và đối ngoại.
Bài học của Đại hội X về độc lập dân tộc và CNXH chính là sự trung thành và phát
triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng ta
trong sự nghiệp cách mạng hiện nay. Theo Hồ Chí Minh, quá độ lên CNXH ở Việt Nam
là thời kỳ xây dựng chế độ dân chủ mới, trong đó, về chính trị, mọi quyền lực đều thuộc
về nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; về kinh tế, thực hiện nền kinh tế nhiều thành
phần.
Như vậy, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ phát triển kinh tế nhiều thành
phần. Quan điểm này đã được chúng ta thực thi từ khởi sự đổi mới (1986) và ngày một
hoàn thiện nó. Đại hội X khẳng định trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư
nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế
hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường

*Nâng cao sức chiến đấu của đảng, xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy
Nhà nước, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm xây
dựng CNXH.
Đại hội X khẳng định: Đảng ta "Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong hoạt động của Đảng"
(4)
, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động cách mạng của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH:
- Kiên trì đường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, có nguyên tắc và sáng tạo; trong quá trình
đổi mới, phải luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định CN
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH,
không đa nguyên, đa đảng. Đây chính là bản lĩnh chính trị của Đảng trung thành với quan
điểm của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo CM thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng, và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự
chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; đổi mới công tác xây dựng
Đảng. Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ
vững kỷ cương, kỷ luật; thường xuyên tự phê bình và phê bình; giữ gìn và tăng cường
xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đấu tranh kiên quyết với những phần tử cơ
hội thực dụng Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, tinh gọn; xác
định thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Coi trọng xây
dựng tổ chức cơ sở đảng. Đây là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng
cầm quyền.
- Đảng chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị,
phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Tạo sự
chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ. Đặc biệt, coi trọng xây
dựng hạt nhân lãnh đạo, trọng dụng nhân tài mà Hồ Chí Minh hằng quan tâm.
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 20
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty

lên CNXH và độc lập phải gắn liền với CNXH trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng
HCM và là mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam của Đảng cọng sản
Viêt Nam suốt hai phần ba thế kỷ và mãi mãi về sau.
Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Thực
tiễn đã khẳng định rằng CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn
cũng phải thay bằng hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đù là giai
đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa.Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người nên
chủ nghĩa xã hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà loài người vươn tới luôn đại
diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đâị diện cho lợi ích của người lao động, là
hình thái kinh tế xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Đi lên CNXH là sự nghiệp cao cả là
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 21
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
giải phóng con người, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người .Đi theo dòng
chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử
Chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững được độc lập, tự do cho dân tộc, mới thực hiện
được mục tiêu làm cho mọi người dân được ấm no,tự do, hạnh phúc.Sự lựa chọn của
chính lịch sử dân tộc lại phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó thể hiện qua sự quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tât yếu của lịch sử
I.4.2.Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc trong thời đại mới
Chúng ta cần phải nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữu dân tộc và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội nhằm tạo ra những nguồn lực mới, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên bước thắng
lợi mới.
I.4.2.1 Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động
lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Phát huy
tối đa nguồn nội lực, bao gồm con người, trí tuệ, truyền thống dân tộc, đất đai, tài
nguyên, vốn liếng… nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là nguồn lực con người. Chống
lại sự phụ thuộc nước ngoài, diễn biến hòa bình, nâng tầm ảnh hưởng Việt Nam trên
trường quốc tế. Giáo dục hệ tư tưởng Hồ Chí Minh sâu trong lòng dân tộc, giáo dục
truyền thống dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, giải

khăn chưa có lối thoát, ngày 5/6/1911, Bác Hồ với tên gọi Nguyễn Tất Thành đã rời bến
Nhà Rồng quyết tâm ra đi tìm bằng được con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Tất Thành đã len lỏi trong quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những
người nông dân nghèo khổ, đến các nông thôn hẻo lánh ở New York, Luân Đôn, Pari,
Thái Lan, Trung Quốc để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức các phong trào cách
mạng. Song, lúc đó Người chưa thể có điều kiện đầy đủ để bắt gặp Chủ nghĩa Mác-Lê
Nin. ở châu Âu, chủ nghĩa Mác ra đời đã trên 60 năm (1847-1911), nhưng trên thế giới
chưa có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào giành được thắng lợi. Những nơi mà
Nguyễn Tất Thành (Nguyễn ái Quốc) đặt chân đến để tìm hiểu, nghiên cứu cũng chưa có
Đảng Cộng sản, và trước năm 1919, Quốc tế Cộng sản chưa ra đời. Người nghiên cứu
những cuộc cách mạng đã giành thắng lợi tại những nước tư bản phát triển nhất. Đó là
cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng tháng 7/1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng
ở những nước này, nhưng không thể đi theo con đường cách mạng của họ được. Bởi vì,
như Người đã nói: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp nghĩa là kách mệnh tư
bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt
công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong
trào công nhân Pháp. Tháng 11 năm đó, diễn ra một sự kiện rung chuyển toàn thế giới,
đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người. Đó là cách mạng Tháng Mười
Nga vĩ đại thắng lợi, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử xã hội loài người, thời đại
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đến giữa năm 1923, Người rời nước
Pháp sang Liên Xô trực tiếp tìm hiểu và hoạt động tại quê hương Lê Nin vĩ đại. ở đây,
Người có những điều kiện thuận lợi để tiếp thu đầy đủ chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tìm hiểu
kinh nghiệm của cách mạng tháng Mười, quan sát trực tiếp nước xã hội chủ nghĩa đầu
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 23
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
tiên trên thế giới ra đời và tham gia hoạt động của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba).
Nhờ đó, nhận biết của Người về lý luận và thực tiễn nói chung và kinh nghiệm của cách
mạng tháng Mười được sâu sắc hơn, đã giãi bầy đúng đắn vấn đề mà Người rất quan tâm.
Đó là con đường giải phóng dân tộc bị áp bức, độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã

cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước hết, Người tiếp xúc với những thanh
niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm Tâm Xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu,
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 24
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD : Ngô Quang Ty
Lê Hồng Phong Thông qua họ, Người xúc tiến kế hoạch xây dựng một tổ chức cách
mạng. Người mở lớp học để đào tạo cán bộ về công tác tổ chức và tuyên truyền. Đến
tháng 5/1925, Người lập ra tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, một tổ chức
tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Suốt từ năm 1924 đến đầu năm 1930, Nguyễn ái
Quốc đem hết sức mình đào tạo ra lực lượng cách mạng nòng cốt đầu tiên cho phong trào
cách mạng Việt Nam, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng, để chỉ đạo hướng dẫn hội
viên thanh niên đi vào quần chúng để tuyên truyền giác ngộ truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê
Nin, tổ chức quần chúng đưa họ ra đấu tranh. Phong trào đấu tranh của quần chúng chống
áp bức thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp ngày càng lên cao, trong đó giai cấp công
nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lê Nin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam đã dẫn đến sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện.
II.2.2.Người đã giải quyết đúng đắn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc,đưa cách
mạng tháng Tám đến thành công,lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á
Hồ Chí Minh khẳng định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản, ''chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới
giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi
ách nô lệ để giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách
mạng vô sản, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã khẳng định cách
mạng trước hết cần có đảng cách mạng. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác- Lênin ''làm cốt'',
phải gắn bó máu thịt với nhân dân, phải đặt quyền lợi của toàn dân tộc lên trên hết. Nét
đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng là Người luôn dành cho yếu tố dân tộc một
vị trí đặc biệt. Điều đó được thể hiện từ việc xác định các yếu tố cấu thành Đảng, xác
định đường lối đến việc đặt tên Đảng. Theo đó, trong tiến trình cách mạng, nhất là ở
những thời điểm có ý nghĩa quyết định như khi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa trong Cách
mạng Tháng Tám 1945 hay những năm tháng cam go của kháng chiến chống Mỹ sau

Đông Dương; củng cố hoà bình, đấu tranh để thực hiện thống nhất đất nước bằng Tổng
tuyển cử tự do; củng cố miền Bắc về mọi mặt; mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc
thống nhất trong cả nước. Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, Người nhắc nhở
đảng viên phải phấn đấu, chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, coi đó là nền tảng của
mỗi đảng viên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình.
Nǎm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Đạo đức cách mạng", trong đó
Người nêu lên tư cách của một người đảng viên là: Phải trung thành tuyệt đối với Đảng,
quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng; ra sức làm việc cho Đảng, giữ
vững kỷ luật của Đảng đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích của cá
nhân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì Đảng vì dân mà đấu tranh; gương mẫu trong
mọi việc, ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình
để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và đồng chí mình tiến bộ.
Về phần mình, lời nói đi đôi với việc làm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là gương sáng
về thực hành đạo đức cách mạng. Những kỷ vật của Người để lại được giới thiệu trong
SVTH : Nguyễn Việt Hưng ( MSSV: 0851031816) Page 26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status