Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức trong triết học nho giáo tới đời sống tinh thần của con người việt nam thời kỳ phong kiến - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

TRƯỜNG ĐẠI
HỌC
SƯ PHẠM
LỜI
CẢM
ƠN HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
Nguyễn Thị Thùy Linh đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu và động viên
TRẦN THỊ LOAN

khích lệ em trong suốt quá trình em viết khóa luận tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
và đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Giáo dục chính trị đã tận tình truyền đạt
kiến
trong HƯỞNG
4 năm học tập.
Với vốn
thức được tiếp
thu trong
quá
SỰthức
ẢNH
CỦA
TƯkiếnTƯỞNG
ĐẠO

LUẬN
TỐT
NGHIỆP
ĐẠI HỌC
kiến của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Chuyên ngành: Triết Học

Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý.
Người hướng dẫn khoa học :
GV. NGUYỄN THỊ THÙY LINH

Xuân hòa, ngày tháng năm 2011
HÀ NỘI – 2011

Sinh viên
Trần Thị Loan

SVTH:Trần Thị Loan

1

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Chương 1: Khái lược về lịch sử ra đời của Nho giáo
1.1. Điều kiện kinh tế xã hội Trung Quốc thời kỳ
Xuân Thu – Chiến Quốc .....................................................................8
1.2. Sự phát triển của Nho giáo...........................................................11
Chương 2: Tư tưởng đạo đức trong triết học Nho giáo
2.1. Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù nhân ........................18
2.2. Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù nghĩa.......................22
2.3. Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù lễ.............................26
2.4. Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù trí ............................27
2.5. Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù chính danh ..............29
Chương 3: Những ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức trong triết học
Nho giáo tời đời sống tinh thần của con người Việt Nam thời kỳ
phong kiến.
3.1. Tư tưởng đạo đức Nho giáo ở Việt Nam trước thời kỳ
nhà Lý – Trần .....................................................................................32
3.2. Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo trong thời kỳ
nhà Lý - Trần ....................................................................................34
3.3. Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo sau thời kỳ
nhà Lý - Trần. .....................................................................................39

SVTH:Trần Thị Loan

3

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

giáo của người Hán vào Việt Nam thật đặc biệt. Văn hoá Hán và Nho giáo
được người Việt tiếp biến có chọn lọc. Qua lăng kính của người Việt, Nho
giáo bị "khúc xạ" và mang những nội hàm mới. Nói về Việt Nam và văn hoá
Việt Nam lại không thể không kể đến Nho giáo. Trong quá trình du nhập, tồn
tại và phát triển ở Việt Nam, ở một khía cạnh nào đó Nho giáo đã góp phần to
lớn trong việc kiến tạo bộ mặt văn hoá Việt Nam. Như giáo sư Đào Duy Anh
đã nói: “Không ai chối cãi được rằng Khổng giáo hay Nho giáo đã tham gia
một phần quan trọng vào sự đúc nặn cái diện mạo tinh thần của dân tộc và sự
tạo thành văn hóa của dân tộc”[1, Tr. 23].
Lịch sử sản xuất, đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã
hình thành các giá trị đạo đức cho người Việt nhưng không thể phủ nhận vai
trò của Nho giáo. Nếu sản xuất và đấu tranh giữ nước là thực tiễn hình thành
các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt thì Nho giáo chính là hệ thống

SVTH:Trần Thị Loan

5

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

lý luận làm cho các giá trị đạo đức đó được khái quát lại, thâu tóm lại một
cách sâu sắc, có tính "tự giác" và trở thành chuẩn mực cho các thế hệ người
Việt. Quan hệ giữa tư tưởng đạo đức của Nho giáo và đạo đức của người Việt
là quan hệ có tính hai chiều. Tư tưởng đạo đức của Nho giáo từng được chọn
làm chuẩn mực để giáo dục đạo đức cho người Việt và đặt dấu ấn rất rõ ràng

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

viện triết học, học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài đã tập trung
làm rõ thực trạng và xu hướng biến động của đạo đức người cán bộ lãnh đạo
chính trị nước ta hiện nay, từ đó đưa ra phương hướng và những giải pháp
nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị ở
Việt Nam. Đề tài mới dừng lại ở phạm vi đối tượng là phẩm chất đạo đức
người cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam chứ chưa đề cập tới người dân
Việt Nam nói chung.
“Đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua các phạm trù
mà Người đã sử dụng” của tác giả Hoàng Trung (2001). Ông đã tập trung
làm nổi bật việc Hồ Chí Minh trong nhiều trường hợp đã viện dẫn những tư
tưởng tích cực trong các kinh điển của Nho giáo để nêu gương phẩm chất đạo
đức của người cán bộ cách mạng. Tác giả cũng chỉ làm nổi bật một số phạm
trù đạo đức của Nho giáo được Người vận dụng trong một số trường hợp,
chưa đưa ra những ảnh hưởng đạo đức của triết học Nho giáo tới đời sống
tinh thần con người Việt Nam.
“Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam” của Giáo sư, Tiến sĩ
Nguyễn Tài Thư.
Trước hết, bài viết trình bày ba đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt
Nam: thứ nhất là về vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến,
độc lập, tự chủ; thứ hai là về chiều hướng và động lực phát triển của Nho giáo
Việt Nam; thứ ba là về bốn phong cách tư duy của Nho giáo Việt Nam. Tiếp
đó, bài viết chỉ ra và phân tích ba nguyên nhân đã làm nên những đặc trưng
đó, gồm: một là, sự truyền bá và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam đã diễn
ra trong điều kiện không bình thường; hai là, chế độ phong kiến chuyên chế
tông pháp ở Việt Nam chỉ cho phép Nho giáo phát triển theo một chiều hướng
và trong phạm vi có lợi cho triều đình; và ba là, Nho giáo Việt Nam thiếu cơ

của đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị nước ta hiện nay, từ đó đưa ra
phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam theo nội dung và yêu cầu về đạo
đức của đội ngũ này. Đề tài giới hạn trong phạm vi hẹp đó là thực trạng và xu
hướng biến động đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị chứ chưa đề cập
tới những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo tới đời sống tinh thần con người
Việt Nam thời kì phong kiến .

SVTH:Trần Thị Loan

8

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức
trong triết học Nho giáo mà tiêu biểu nhất là tư tưởng của : Khổng Tử, Mạnh
tử và Tuân Tử.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là đời sống tinh thần con người Việt
Nam thời phong kiến..
4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích và luận giải những ảnh hưởng của tư tưởng
đạo đức trong triết học Nho giáo tới đời sống tinh thần của con người Việt
Nam thời phong kiến .
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Chương 1: Khái lược về lịch sử ra đời của Nho giáo
1.1 Điều kiện kinh tế xã hội Trung Quốc thời kì Xuân Thu- Chiến Quốc
1.2 Sự phát triển của Nho giáo
Chương 2: Tư tưởng đạo đức trong triết học Nho giáo
2.1 Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù Nhân
2.2 Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù Nghĩa
2.3 Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù Lễ
2.4 Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù Trí
2.5 Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù Chính danh
Chương 3: Những ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức trong triết học Nho
giáo tới đời sống tinh thần của con người Việt Nam thời kì phong kiến.
3.1 Tư tưởng đạo đức Nho giáo ở Việt Nam trước thời kì nhà Lý- Trần
3.2 Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo
trong thời kì nhà Lý- Trần
3.3 Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo
sau thời kì nhà Lý- Trần
3.4 Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo
trong giai đoạn hiện nay.
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

SVTH:Trần Thị Loan

10

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp



Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đồ sắt phát triển khá phổ biến, kỹ thuật canh tác phát triển. Nền sản
xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Sự phân công
lao động và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng cao. Sự phát triển của lực
lượng sản xuất, của kinh tế đã có tác động mạnh đến hình thức sở hữu ruộng
đất, kết cấu và điạ vị kinh tế của các giai tầng trong xã hội.
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng
phát đạt hơn trước. Tiền tệ đã xuất hiện. Trong xã hội đã hình thành một tầng
lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực. Thương nhân đã có nhiều
người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối
với chính trị đương thời. Tuy nhiên do tình trạng xã hội đang rối ren, phương
tiện giao thông thô sơ, lãnh chúa chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ đi lại
rất khó khăn nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo
vát và lòng quả cảm đảm đương. Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời
bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất nên nó cũng chưa thực sự phát triển. Nhưng
sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã
hội một tầng lớp mới. Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới
với thế lực càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp
quý tộc cũ.
Về chính trị - xã hội
Thời Xuân Thu, mệnh lệnh của Thiên Tử không còn được tuân thủ, trật
tự lễ nghĩa, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi. Sự tranh giành địa vị
xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng
chiến tranh khốc liệt liên miên. Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm đã xảy ra
483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến thời
Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm nước. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi

Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời
sống nhân dân càng thêm khốn khổ. Dân lưu vong “đồng trong ruộng ngoài
bỏ hoang”.
Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh
chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt
nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều
hội, triều cống , chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong
giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày
càng tăng. Đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ tôn nghiêm trước đây đã từng góp
phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu đến lúc này cũng bị
xem thường. Tình trạng lễ nghĩa, cương thường cũng bị đảo lộn, đạo đức suy

SVTH:Trần Thị Loan

13

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

đồi ở thời kì Xuân Thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt
vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ nghĩa
của chư hầu. Trong xã hội, cảnh tôi giết Vua, con hại cha, anh em, vợ chồng
chia lìa thường xuyên xảy ra. Tình trạng đó không phải xảy ra một sớm một
chiều mà nó đã nó âm ỉ mục ruỗng từ lâu. Chế độ lễ nghi của nhà Chu trở
thành các hình thức sáo rỗng. Do đói rét, cực khổ, nạn trộm cướp nổi lên. Bọn
thống trị lại tăng cường “hình pháp” làm cho đời sống nhân dân càng trở nên

Trường ĐHSP Hà Nội 2

ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên
Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng
giáo hay “tư tưởng Khổng - Mạnh“. Từ đây mới hình thành hai khái niệm,
Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được
gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở
thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín
điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ
Đế đã đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất
đất nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống
bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời
kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là
Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên tử là con trời, dùng
“lễ trị” để che đậy “pháp trị”.
Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký, cùng
với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh
là sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ này được gọi là
Tống Nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo,
Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học
nên được gọi là “Trạng Trình”). Phương Tây gọi Tống nho là “Tân Khổng
giáo”. Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung
các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo
giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
Năm 362 trước công nguyên, trong tất cả những quốc gia lớn thời đó,
có vương quốc Tần là mạnh nhất. Tần Hiếu Công lên ngôi tích cực phát triển


Với chính sách hà khắc để đạt được mục đích thống nhất về tư tưởng và
chính trị trong xã hội nhà Tần đã chủ trương “chôn Nho, đốt sách”(phần thư
khanh Nho), cấm tất cả các học thuyết đương thời, chỉ cho giữ lại các sách về
y học, chiêm tinh, nông học cùng với việc gây chiến tranh chinh phạt. Tần
Thủy Hoàng áp dụng một chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán vào bậc
nhất; nó đối lập hoàn toàn với chủ trương cai trị bằng tình người dân chủ của
Nho gia. Mâu thuẫn đó là nguyên nhân tất yếu dẫn đến việc nhà Tần tiêu diệt
Nho giáo với hành động tàn bạo “đốt sách, chôn Nho” nổi tiếng. Sau khi Tần

SVTH:Trần Thị Loan

16

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Thủy Hoàng chết, nhà Tần sụp đổ, Hán Cao Tổ là Lưu Bang đã rút ra được
một số kinh nghiệm của nhà Tần mà bớt đi phần hà khắc mà trưng dụng trí
thức. Nhưng phải đến Hán Vũ Đế, theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư thì
Nho giáo mới được đưa lên địa vị quốc giáo. Nho giáo trở thành hệ tư tưởng
chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm.
Không những thế, nó còn được truyền bá khắp miền Đông Á..
Việt Nam là một trong những đất nước chịu ảnh hưởng rất lớn của tư
tưởng Nho giáo Trung Quốc. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam gắn
liền với sự xâm lược của thế lực phong kiến phương Bắc. Tuy nhiên trải qua
hơn 1000 năm Bắc thuộc Nho giáo vẫn chưa xác lập được vị trí độc tôn trong

sụp hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của chế độ phong kiến nửa thuộc địa. Từ
đây, có thể nói, trên bình diện là một vũ khí tư tưởng của giai cấp thống trị và
trên bình diện là một tôn giáo với những nghi lễ cung đình phức tạp, Nho giáo
không còn tồn tại nữa. Nhưng trong xã hội Việt Nam hiện nay, những tàn dư
của Nho giáo vẫn còn sống một cách dai dẳng trong các quan hệ xã hội, trong
sự ứng xử giữa người và người, trong phong tục tập quán và cả trong những
nghi thức thờ cúng tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca
Mầu Ni, Giê-xu,… người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng
tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép
do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ “đốt sách, chôn Nho”
của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời khiến việc tìm hiểu tư
tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời
sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông. Thời
Xuân Thu, Khổng Tử đã viết bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh
Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc
nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử
mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò
xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời
thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp,
còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử
đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử.
Các tác phẩm của Nho giáo đều được hình thành từ thời kì Nho giáo
nguyên thủy. Sách kinh điển gồm 2 bộ: Ngũ kinh và Tứ thư. Hệ thống kinh
điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa ít

SVTH:Trần Thị Loan

18


một ít làm thành một thiên trong kinh Lễ gọi là Nhạc Kí.
Như vậy Lục kinh chỉ còn lại Ngũ kinh.
Tứ Thư

SVTH:Trần Thị Loan

19

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Luận ngữ: ghi lại lời dạy của Khổng Tử do học trò của ông ghi chép lại
sau khi ông mất(Luận ngữ =các lời bình luận).
Đại học: dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử. Sách này do
Tăng Sâm dựa trên lời dạy của ông soạn ra(Đại học = sự học lớn).
Trung dung: dạy người ta sống dung hòa không thiên lệch. Sách này do
Khổng Cấp soạn ra(Trung =ý muốn nói cái tâm không lệch bên này hay bên
kia; Dung nghĩa là dung dưỡng giữ mãi ở mức như vậy).
Mạnh Tử: ghi lại lời dạy của Mạnh Tử - Mạnh Tử tên thật là Mạnh
Kha, là người tiêu biểu nhất sau Khổng Tử, phát triển tư tưởng của Khổng Tử
ở thời Chiến Quốc..

SVTH:Trần Thị Loan

20


kì lịch sử của Trung Quốc thì có lẽ “Nhân” là tư tưởng chủ đạo của Khổng
Tử. Trung Quốc lúc đó là thời kì mà “chiến tranh là phương thức phổ biến để
giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi, địa vị đương thời”[ 18, Tr. 5]

SVTH:Trần Thị Loan

21

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Coi “Nhân” là yêu người trong “Luận ngữ”, Khổng Tử đã dành không
ít lời để nói về đạo làm người. Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về Nhân,
Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là Nhân. Ngày nào cũng khắc kỉ phục lễ
ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa mà theo về đức nhân. Vậy
nhân là do mình chớ há do người sao?”(Luận ngữ; Nhan uyên -1).
Trọng Cung – một học trò khác của Khổng Tử hỏi về Nhân. Khổng Tử
cho rằng: “những cái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho
người khác. Đó là đức hạnh của người Nhân” (Luận ngữ- Nhan Uyên, 2). Còn
khi Phàn Trì hỏi về Nhân, Khổng Tử giảng giải rằng: “Khi ở nhà thì giữ diện
mạo cho khiêm cung, khi làm việc thì thi hành một cách kính cẩn, khi giao
thiệp với người thì giữ dạ trung thành. Dẫu có đi đến các nước rợ Di, Địch
cũng chẳng bỏ bạ cái đó, như vậy là người có đức Nhân” (Luận ngữ, Tử Lộ;
19).
Người có đức Nhân trong quan niệm của Khổng Tử là còn là người
phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ. Năm điều đức

đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa. Thế
nhưng không phải vì thế mà tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử không đi vào
lòng người đương thời. Nó đã gây cho họ biết bao xúc động và làm cơ sở cho
hành động nhân đạo của họ.
Mạnh Tử: Sống trong thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, là người nước
Trâu tức thành phố Trâu Thành tỉnh Sơn Đông ngày nay. Tương truyền Mạnh
Tử là hậu duệ dòng họ Mạnh qúi tộc của nước Lỗ. Trong thời Mạnh Tử,
muôn nhà đua tiếng trên văn đàn, Mạnh Tử đã kế thừa và phát huy tư tưởng
của Khổng Tử, người sáng lập ra học thuyết Nho giáo, đề xuất một hệ thống
tư tưởng hoàn chỉnh, có ảnh hưởng to lớn đối với người đời sau, được tôn
xưng là “Á Thánh” chỉ sau Khổng Tử.
Mạnh Tử đã kế thừa và phát huy tư tưởng đức trị của Khổng Tử, phát
triển học thuyết Nhân chính, trở thành hạt nhân trong tư tưởng chính trị của
ông.
Mạnh Tử giải thích “người có đức Nhân được những người xung quanh
kính yêu gọi là thiện. Người làm điều thiện theo lương tâm gọi là tín. Người
mà tín thiện đầy đủ, mọi hành vi hợp với ý lành gọi là mỹ. Người có mỹ đầy
đủ làm nên sự nghiệp khiến cho mỹ của mình tỏa sáng trên đời gọi là đại. Đại
là bậc đại nhân lại biết cảm hóa người khiến thiên hạ phải quay về nẻo thiện
gọi là thánh” [5, Tr.65 ].

SVTH:Trần Thị Loan

23

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp


SVTH:Trần Thị Loan

24

K33 - GDCT


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nghĩa văn lý vong yên. Nhiên tắc, túng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tất
xuất ư tranh đoạt, thạp ư phạm nhân loạn lý, nhi quy ư bạo... Dụng thử quan
chi, nhiên tắc nhân chi tính ác minh dĩ”. (Tính người ngày nay, trời sinh có
kẻ hiếu lợi, do đó, mới sinh ra vấn đề tranh đoạt mà mất đi đức tính khiêm
nhường... Trời sinh người ta có thứ dục vọng bởi tai mắt, thích nghe cái hay,
nhìn cái đẹp do đó mới sinh ra vấn đề dâm loạn, mà mất đi lễ nghĩa, đạo lý
văn hóa. Vậy thì, nếu cứ chiều theo tính và thuận theo tình của con người, thì
sẽ diễn ra cảnh tranh giành, phạm tội loạn ly, rồi quy hết về bạo lực... Cứ nhìn
theo đó thì đã quá rõ ràng, tính người là ác vậy). Đó là lý luận của Tuân Tử,
giải thích tại sao bản tính của con người, từ chỗ trong trắng dẫn tới chỗ ác hại.
Như vậy Tuân Tử đã đưa ra một quan điểm mới về phạm trù nhân .
Đó là tính người và điều kiện xã hội đã quy định bản tính đó.
2.2 Quan niệm đạo đức thể hiện trong phạm trù Lễ
Quan niệm về Lễ của Khổng Tử: Khổng Tử cho rằng để đạt được đức
nhân, phải chủ trương dùng lễ để duy trì trật tự xã hội. Lễ trước hết là lễ nghi,
cách thờ cúng, tế lễ; lễ là kỷ cương, trật tự xã hội, là những qui định có tính
pháp luật đòi hỏi mọi người phải chấp hành. Ai làm trái những điều qui định
đó là trái với đạo đức. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến
chữ lễ. Có thể nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status