LUẬN VĂN:
Sự tác động của con người Việt Nam
vào nền kinh tế tri thức Lời nói đầu
Lịch sử phát triển của loài người là lịch sử phát triển của nền văn minh, văn
hoá gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển con người . vấn đề con người
trước hết là vấn đề thực tiễn, giữ vị trí trung tâm của mọi toạ độ, của sự tồn tại
khách quan trên hành tinh của chúng ta. Vấn đề con người cũng là vấn đề lý luận
cốt lõi của các vấn đề lý luận xã hội nhân văn, kinh tế, quản lý. Và trong một
chừng mực nhất định cả với kỹ thuật và công nghệ
Con người là giá trị sản sinh ra mọi giá trị. Con người là thước đo của mọi
bậc thang giá trị. Những biến đổi trong bậc thang giá trị đang làm cho con người
nói chung tích cực hơn , trên cơ sở đó phát huy các tiềm năng của mình và từ đó sẽ
sáng tạo hơn. đó là những tiền đề quan trọng để bồi dưỡng và phát huy tốt nguồn
lực con người. Yêu cầu của thời đại công nghiệp hoá , hiện đại hoá trong đó có
kinh tế tri thức đang đòi hỏi phải có thước đo giá trị thích hợp với thời cuộc mới,
phát huy hơn nữa các mặt tích cực của con người và hạn chế tối đa các ảnh hưởng
tiêu cực của cơ chế thị trường không để sự phát triển đi vào xu hướng không lành
mạnh .
ngày càng được bảo đảm. Đồng thời chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ được thiết
lập trên cơ sở bảo đảm sự thống nhất hài hoà lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội.
Con người Việt Nam là con người lao động mới, có tri thức sâu sắc về công
việc của mình, có sức khoẻ và lao động giỏi, biết cống hiến cho xã hội bằng khả
năng cao nhất của mình và biết tự đánh giá chất lượng lao động của mình. Do đó,
biết hưởng thụ thành quả lao động của mình tuỳ theo năng suất, chất lượng, hiệu
quả lao động do mình tiến hành.
Con người Việt Nam là con người sống có văn hoá và tình nghĩa. Đời sống
cá nhân của họ phong phú, có điều kiện và khả năng phất triển tự do, toàn diện cả
về thể chất và tinh thần. Có tri thức ngày càng đầy đủ về địa vị, cá nhân của mình
trong xã hội, về tự do, kỷ luật và trách nhiệm công dân.
Con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu sự nghiệp cách mạng do
chính mình tham gia, có tình thương yêu giai cấp và đồng loại , có tình thần quốc
tế chân chính.
Khái quát những tư tưởng cơ bản nói trên, Đảng cộng sản Việt Nam cho
rằng con người xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là con người biết: gắn bó lý tưởng,
độc lập dân tôc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường
xây dựng và bảo vệ tổ quốc; CNH-HDH đất nươc; giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hoá truyền thống của dân tộc, có năng lực tiếp thu các tinh hoa văn hoá của
nhân loại; cách phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức
cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và
công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong
công nghiệp , có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ,là những người thừa kế xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ".
b. Vai trò của con người Việt Nam trong phát triển kinh tế .
Từ xưa đến nay, khi đề cập tới vị trí của con người trong lịch sử phát triển
kinh tế xã hội không một ai có thể phủ nhận đó là yếu tố quan trọng nhất, quyết
định nhất. Thực tế đã chứng minh trong quá khứ cũng như trong hiện tại nhiều
quốc gia trên thế đã cất cánh từ một nước nghèo nàn, chỉ sau một thời gian dài đã
lấy việc "phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững".
c. Nhận thức, thái độ của con người Việt Nam trong đổi mới và mở cửa.
*Những mặt tích cực trong nhận thức, thái độ.
- Người Việt Nam có phản ứng tích cực, nhận thức nhanh nhạy đối với thời
kỳ mở cửa.
Những năm 1986-1990 khi công cuộc đổi mới, mở cửa bắt đầu gây xáo
động tâm lý xã hội mạnh mẽ, sâu sắc. Nhưng tình hình đã nhanh chóng ổn định và
ngày càng tiến triển theo chiều hướng tích cực. Họ thấy rằng mở cửa là xu thế tất
yếu của thời đại; vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với dân tộc cũng như đối với
mỗi cá nhân, có mở cửa , cọ xát với nền văn hoá thế giới tinh thần văn hoá Việt
Nam mới được thử thách, tự khẳng định và phát triển. Điều này cho thấy sự nhất
trí cao đối với chủ trương, chính sách đổi mới mở cửa của Đảng và nhà nước.
- Người Việt Nam có nhận thức tỉnh táo, đúng đắn về mặt trái của mở cửa
và có ý thức đề phòng cảnh giác.
Họ nhận thấy rằng: mở cửa sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo gìữa các khu
vực, giữa các nhóm xã hội, mở cửa sẽ dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, dễ mắc vào âm
mưu "diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch";mở cửa sẽ du nhập văn hoá, lối
sống phương Tây làm hại truyền thống dân tộc, dễ bị hoà mất độc lập, tự chủ.Đây
là nhận thức nhạy bén, tỉnh táo và đúng mức.
- Con người Việt Nam có ý chí vượt qua xáo động tâm lý, vượt qua những
trở ngại tích cực chủ động thích nghi với đổi mới, mở cửa để vươn lên trong cuộc
sống.
Đổi mới mở cửa cũng là cơ hội và cũng là đòi hỏi, thử thách mỗi cá nhân
phải tự vươn lên, tự khẳng định mình để tồn tại để phát triển. Quá trình đó giúp
con người có ý thức về cá nhân, nhân cách của mình rõ hơn. Biểu hiện tự nhận
thấy rằng mình phải đào tạolại để thích nghi với đổi mới mở cửa. Nhận thấy phải
thay đổi về cách nghĩ, nếp sống của mình; phải tăng cường củng cố ngoại ngữ;
phải bảo vệ tinh hoa truyền thống.
những người có chức có quyền, giàu có cũng rất"liều".
- Sùng ngoại, dễ bắt chước nước ngoài, pha trộn lai tạp.
Hạn chế này dễ đi đến xa rời tinh hoa bản sắc dân tộc. Về khoa học công
nghệ, sản xuất kinh doanh ta phải học theo cách làm ăn tiên tiến là đúng nhưng
những giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống ta có nhiều cái tốt phải giữ gìn và nâng
cao.
- Nhiều người sùng bái lối sống tiêu dùng xa hoa lãng phí.
Nước ta còn rất nghèo, dân ta còn nhiều người túng thiếu, gần 50% trẻ em
suy dinh dưỡng nhưng bộ phận đua đòi , tiêu xài quá lãng phí coi đó là sự biểu
hiện giá trị nhân cách. Điều đặc biệt là có những người nghèo túng nhưng có dịp là
cố chạy đua nhau tổ chức cưới xin, ma chay, giỗ tết linh đình tốn kém. Mức sống
thấp, lối sống không phù hợp làm sao phát triển nhanh được!
-Dễ mắc vào các tệ nạn xã hội do sống thiếu bản lĩnh cá nhân.
Hạn chế này dễ đua đòi theo nhóm, lại sống trong môi trường khêu gợi dục
vọng, kích thích nhu cầu đồng tiền có sức mạnh ghê gớm Mấy năm đổi mới, mở
cửa, nạn buôn lậu, hối lộ mại dâm, ma tuý AIDS, mê tín có chiều hướng gia
tăng.
2) Nguồn lực trí tuệ
a) Vai trò của nguồn lực trí tuệ
Nguồn lực trí tuệ được hiểu là nguồn tài nguyên quý giá của con người,
được phát triển dựa trên trí tuệ, chất xám của con người trong quá trình hoạt động
tạo ra công nghệ mới và cao.
Xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn: tài nguyên thiên
nhiên và con người. Cái quý nhất trong tài nguyên con người là trí tuệ. Theo quan
niệm cổ điển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai
thác đến cạn kiệt. Song sự hiểu biết của con người đã và đang, sẽ không bao giờ
chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của
nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nhận thức tính vô tận của thế giới
vật chất, tiếp tục nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên còn vô tận nhưng chưa
hiện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế hệ
này sang thế hệ khác và đã được ghi nhận một cách rất cụ thể, trước hết ở sự biến
đổi của công cụ sản xuất. Hay nói cách khác sức mạnh trí tuệ của con người
không ngừng được vật thể hoá trong công cụa sản xuất, trong lực lượng sản xuất
nói chung. Tính vô tận của trí tuệ con người được biểu hiện ở sự biến đổi không
ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong qúa trình
phát triển của xã hội.
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ -
những sản phẩm đã được vật thể hoá của trí tuệ con người, thành lực lượng sản
xuất trực tiếp đã chuyển đối tượng khai thác vào chính bản thân con người. Tiềm
năng sức lao động - con người với trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ
đó và trở thành nguồn lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nếu như xưa kia
nguồn tài nguyên thiên nhiên quyết định các chính sách phát triển của đất nước thì
ngược lại ngày nay, các chính sách (thể hiện tập trung trí tuệ của con người ) lại
sản sinh ra các nguồn tài nguyên theo các nghĩa: nếu biết khai thác và quan trọng
hơn cả là nguồn tiềm năng trí tuệ thì đất nước dù nghèo tài nguyên thiên nhiên
cũng hoàn toàn có thể trở nên giàu mạnh.
Nước ta có nguồn tài nguyên sức lao động rất dồi dào trong đó nguồn tài
nguyên"chất xám" không thua kém gì nhiều so với nhiều nước đang phát triển.
Tuy nhiên nước ta chưa biết tận dụng nguồn tài nguyên quý giá đó.
Vấn đề đặt ra hơn lúc nào hết những người lao động có tri thức là tài sản
quý hiếm của mỗi quốc gia. Ngày nay trong cuộc cạnh tranh, thách đố, thi tài đọ
sức giữa các dân tộc, quốc gia ngày càng gay gắt thì việc khai thác và sử dụng
đúng đắn,kịp thời, có hiệu quả đội ngũ lao động trí tuệ là điều kiện tiên quyết bảo
đảm sự chiến thắng. Bởi vì kinh tế tri thức ngày càng không chỉ là sức mạnh, là
quyền lực hay sự thay đổi như những thập kỷ trước đây mà tri thức còn là sự giàu
có, thịnh vượng của mỗi quốc gia, dân tộc.
b) Đặc điểm cơ bản của nguồn lực trí tuệ.
Nguồn lực trí tuệ Việt Nam được hình thành và phát triển trước hết dựa
nằm trong khu vực Đông Nam á, là khu vực phát sinh của loài người, đồng
thời là nơi sản sinh và tồn tại một trong những nền văn hoá cổ nhất của nhân loại
nên nền vaưn hoá Việt Nam được hình thành và phát triển rất sớm so với nhiều
nền văn hoá trên thế giới. Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã phát triển
rực rỡ độc đáo và đã có những cống hiến quý báu vào nền văn hoá của nhân loại.
Cùng với sự phát triển của văn hoá, người Việt Nam sớm nhận thức được
tầm quan trọng của việc khai mở dân trí để phát triển đất nước, do đó nền giáo dục
Việt Nam cũng sớm được hình thành và phát triển.
Sự hình thành và phát triển của văn hóa và giáo dục là cơ sở để khẳng định
nguồn lực trí tuệ Việt Nam sớm hình thành và phát triển trong tiến trình phát triển
của văn minh nhân loại.
Nguồn lực trí tuệ Việt Nam được hình thành trước hết từ chính cuộc sống
của người Việt Nam cổ đại và phát triển theo tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam
(kể từ khi hình thành nhà nước đầu tiên đến nay đã 4000 năm). Lịch sử lâu dài đó
cùng với vị trí địa lý, điều kiện môi trường sinh thái phong phú, cơ cấu dân tộc đa
dạng và cơ sở kinh tế , kết cấu xã hội đã tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam. Bản
thân Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc trưng kinh tế , văn hoá
khác nhau. Sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các dân tộc diễn ra từ rất sớm và tạo
nên một sự đa dạng, phong phú trong tư duy của người Việt.
Xét về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hiện nay Việt Nam là nước đang
phát triển. Nguồn lực trí tuệ hội đủ các yếu tố trí tuệ của cả văn minh nông
nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh trí tuệ. Tuy nhiên, mức độ và liều lượng
giữa chúng không đồng đều và phân bố ở các lĩnh vực có khác nhau. Tính hỗn hợp
và đan xen của các yếu tố trí tuệ của nền văn minh khác nhau vừa tạo nên sự đa
dậng, phong phú của nguồn lực trí tuệ Việt Nam, vừa đặt ra những thách thức mới
trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc cũng như trong việc định hướng cho sự
phát triển lành mạnh về trí tuệ của mỗi cá nhân cũng như nguồn lực trí tuệ của cả
dân tộc.
- Nguồn lực trí tuệ Việt Nam mang đậm triết lý nhân sinh và dân tộc phát
lĩnh vực văn hoá, đó là những giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc và ngày
nay, đó là di sản tư tưởng văn hoá sáng tạo của Hồ Chí Minh-người anh hùng dân
tộc, nhà văn hoá lớn của thế giới, là những kinh nghiệm và lý luận về con đường
đổi mới của cách mạng Việt Nam.
- Nguồn lực trí tuệ Việt Nam được hình thành và phát triển trên cơ sở một
phương thức sản xuất nông nghiệp còn lạc hâụ, lại bị chiến tranh liên miên nên
còn thiếu hụt nhiều giá trị cao nhất của trí tuệ loài người.
Xét về phương diện lịch sử, Việt Nam chưa có truyền thống khoa học, nhất
là tư duy khoa học và tư duy lý luận. Nền kinh tế tiểu nông có đặc trưng làlàm cho
con người phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Để có thể sống hoà hợp với thiên
nhiên con người đã phải đúc rút kinh nghiệm. Chính lối sống đó đã tạo ra con
người Việt Nam cách tư duy tổng hợp, biện chứng. Do vậy, nó cho phép con
người rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu trong đời sống và phát triển lao động
sản xuất. Song hạn chế của nó là thiếu sự phân tích, mổ xẻ một cách khoa học các
bộ phận cấu thành các sự vật hiện tượng. Vì vậy, thiếu những điều kiện cần thiết
cho việc hình thành những ngành khoa học chuyên sâu, đặc biệt là khoa học kỹ
thuật. Mặt khác, thói quen giải quyết công việc bằng kinh nghiệm chủ quan lâu
ngày trở thành "chủ nghĩa kinh nghiệm"đè nặng lên tư duy con người Việt Nam.
Đó là lực cản lớn cho tính năng động sáng tạo của trí tuệ; nó không kích thích
được tính độc lập, sáng tạo của cá nhân dẫn đến tam lý ngại khó, ngại khổ trong
học tập, trong nghiên cứu khoa học, trong quá trình trau dồi trí tuệ gây ảnh
hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển trí tuệ khoa học của từng cá nhân và
của cả cộng đồng.
Hơn nữa trong 27 thế kỷ tồn tại và phát triển của mình, dân tộc Việt Nam
đã phải mất 12 thế kỷ đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Hoàn cảnh đất nước có
chiến tranh đã làm gián đoạn và gây cản trở lớn đến việc tiếp cận với những thành
tựu khoa học mới của nhân loại. Đồng thời nó không cho phép tập trung sức
người, sức của vào việc bồi dưỡng chăm lo phát triển nhân tài và phát triển nguồn
lực trí tuệ của đất nước nhất là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ.
thức và thông tin. Tóm lại, đó là kinh tế dựa vào tri thức và bây giờ đã quen gọi
là kinh tế tri thức. Nói đến tri thức là nói đến học, nên có người gọi là "Kinh tế
tri thức ", có người còn gọi"Kinh tế thông tin", "Kinh tế số hoá",v v Cho dù ý
kiến còn khác nhau nhưng chắc chắn đây là một nền kinh tế mới xuất hiện từ 5-10
năm nay, trước đây chưa hề có, đó là nền kinh tế dựa vào công nghệ cao: "Các
ngành sản xuất và dịch vụ khoa học mới do công nghệ cao tạo ra như các dịch vụ
khoa học - công nghệ, các dịch tin học, các ngành công nghiệp công nghệ cao
được gọi là ngành kinh tế tri thức. Các ngành trruyền thống như công nghiệp,
nông nghiệp, nếu được cải tạo bằng công nghệ cao mà giá trị do tri thức mới,
công nghệ đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì những ngành ấy cũng là ngành
kinh tế tri thức. Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức gọi nền kinh
tế tri thức". Một số người đề nghị cứ gọi là "nền kinh tế mới" cho chắc chắn. Nền
kinh tế này dựa trên bốn trụ: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ
vật liệu mới và công nghệ năng lượng, trong đó công nghệ thông tin giữ vai trò đi
đầu và nền tảng.
Như vậy, bên cạnh các nền kinh tế mà lâu nay chúng ta thường gọi, như
kinh tế hoang sơ (tự nhiên), kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, đã xuất
hiện nền kinh tế mới mà trước đây dự báo gọi là kinh tế hậu công nghiệp thì nay
đã có tên gọi chính thức ngày càng được nhiều người hưởng ứng là kinh tế tri
thức. Người ta đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu so sánh kinh tế sức người (kinh tế
nông nghiệp), kinh tế tài nguyên (kinh tế công nghiệp) và kinh tế tri thức. ở đây
chúng ta có thể tham khảo ý kiến của một nhà kinh tế học Trung Quốc qua Bảng 4
để hiểu hơn nội hàm của khái niệm mới của nền kinh tế mới, nhất là kinh tế tri
thức gắn liền với thời kỳ phát triển cao cuả kinh tế công nghiệp, kinh tế thị trường
và một đặc điểm của thời đại ngày nay là nền kinh tế toàn cầu (toàn cầu hoá, hội
nhập và mở cửa). Vì vậy có người còn gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng thông
tin toàn câu.
2. Đặc điểm của nền kinh tế tri thức.
Thứ nhất đặc điểm lớn nhất làm khác biệt kinh tế tri thức với kinh tế công
hoạt hàng hoá và dịch vụ dựa vào công nghệ cao. Đây cũng là kinh tế văn phòng,
tức là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong các nhà máy ít đi, người làm việc
ở văn phòng nhiều lên. Nói như thế không có nghĩa là sự chế tạo hàng loạt là
không quan trọng, cũng không phải là sản phẩn hàng hoá ít đi, mà đó là do nhịp độ
tăng năng suất trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp rất cao. Hiện nay, ở các
nước phát triển nhất có 70-80% lực lượng lao động không phải trực tiếp làm ra các
vât phẩm, mà họ chuyển sang làm các công việc liên quan đến di chuyển vật
phẩm, xử lý thông tin, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Việc làm trong sản
xuất hàng hoá giảm đi rất nhiều và được thay thế bằng việc làm trong văn phòng.
Các doanh nghiệp không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm.
Công nghệ mới trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra năng suất, sự tăng
trưởng và việc làm. Cho nên, sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan
trọng nhất, tiêu biểu cho nền sản xuất tương lai. Phát triển nhanh các doanh nghiệp
sản xuất công nghệ (cũng có thể gọi là doanh nghiệp tri thức ), trong đó khoa học
và sản xuất được nhất thể hoá, không phân biệt phòng thí nghiệm với công xưởng,
những người làm việc trong đó là công nhân tri thức (công nhân khoa học), họ
vừa nghiên cứu vừa sản xuất.
Trong nền kinh tế tri thức, các công ty mới mọc lên nhanh như nấm, sự ra
đời của một công ty gắn với sự ra đời của một công nghệ mới, một sáng chế mới.
Các công ty đang hoạt động muốn trụ được phải thường xuyên đổi mới, kịp thời
chuyển hướng theo sự phát triển của công nghệ. Để tăng sức mạnh, các công ty
phải hợp tác với nhau, phải "mua" nhau để thành công ty lớn. Gần đây ta thấy rất
nhiều các công ty khổng lồ hàng chục, hàng trăm tỷ USD "mua" nhau, trở thành
những tập đoàn lớn chi phối cả thế giới. Người ta lo ngại sự tập trung này dẫn tới
độc quyền và thủ tiêu cạnh tranh. Nhưng, mặt khác, các công ty khổng lồ chia ra
các công ty con rải trên khắp thế giới, các công ty còn được quyền chủ động nhiều
hơn, linh hoạt hơn, dễ thích nghi với sự đổi mới. Cho nền, hợp nhất thành, những
công ty khổng lồ, nhưng thực tế lại là sự chia nhỏ/
Các khu vực công nghệ (technology park) hình thành và phát triển rất
tổ chức có liên quan đến họ và họ có thể có ý kiến, nguyện vọng của nhân dân
cũng rất dễ dàng thuận tiện. Nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra", có điều
kiện thuận lợi để thực hiện.
Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi. Trong thời đại thông tin, mô hình
chỉ huy tập trung, có đẳng cấp tỏ ra không còn phù hợp. Người ta sử dụng nhiều
hơn mô hình phi đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng, trong đó tận dụng các
quan hệ ngang thông tin đến được tất cả mọi người, mọi nơi một cách thuận lợi,
nhanh chóng, không canà đi qua các nút xử lý trung gian. Đó là mô hình tổ chức
dân chủ, rất linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự nặng
động sáng tạo của mọi người.
Thứ năm, hình thành xã hội học tập. Giáo dục rất phát triển. Mọi người đều
học tập, học thường xuyên,học ở trường và học trên mạng để không ngừng trau
dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo. Mọi người thường xuyên được bổ túc, cập nhật
kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đầy sự đổi mới kiến
thức, mô hình giáo dục truyền thống; đào tạo xong rồi ra làm việc là không còn
phù hợp, mà phải theo mô hình học tập suốt đời; đào tạo vừa làm việc. Các hình
thức giáo dục thường xuyên, nhất là giáo dục thông qua mạng rất phát triển. Con
người học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc. Hệ thống giáo dục phải đảm bảo
cho mọi người bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng có thể học tập được. Mạng thông
tin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt đời.
Trong nền kinh tế tri thức, khoản đầu tư cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ
lệ rất cao. Nói chung, đầu tư vô hình (cho con người, cho giáo dục, khoa học, văn
hoá - xã hội ) cao hơn đầu tư hữu hình (xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật). Phát
triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội. Vốn con người thực sự là
vốn quý nhất.
3. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức theo báo cáo của Uỷ ban kinh tế APEC được định hình
bởi bốn yếu tố chủ yếu: Mức độ hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, môi trường
khích lệ ý tưởng sáng tạo và doanh nghiệp mới, giáo dục và học tập suốt đời đứng
vị trí quan trọng hàng đầu, vai trò thúc đẩy mạnh mẽ của hạ tầng thông tin liên lạc.
tuệ này mang lại một ưu thế đặc biệt trong cuộc phấn đấu cho phồn vinh và phát
triển. Cũng chính vì vậy, cuộc đua tranh nhằm thu hút và đào tạo nhân tài ở mọi
cấp độ đang trở nên hết sức quyết liệt và chỉ ai chiến thắng trong cuộc đấu này mới
có thể vượt lên hàng đầu trong những thập kỷ tới.
Đặc thù của nền kinh tế tri thức với những xu thế phát triển đặc trưng nêu
trên đang mở ra những thời cơ và thách thức to lớn cho một số nước, trong đó có
nước ta. Tuy hiện thời nước ta còn nghèo, nhưng nước ta có tiềm năng dồi dào về
trí lực và phẩm chất, vượt lên mạnh mẽ trong 2-3 thập kỷ tới với sức bật kỳ diệu
của nền kinh tế tri thức.
4. Yêu cầu của nền kinh tế tri thức đối với con người
Kinh tế tri thức ra đời chứng minh tính đúng đắn trong kết luận của C.Mác
rằng khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và cũng chứng
minh tính khoa học và tính cách mạng của lý luận macxit về các hình thái kinh tế -
xã hội; hình thái kinh tế -xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ hoàn thành vai trò lịch sử của
nó và lịch sử tiến hoá nhân loại sẽ chuyển sang hình thái kinh tế -xã hội mới.
Trong giai đoạn quá độ này, sứ mệnh cao cả thuộc về giai cấp công nhân, tất nhiên
ở trình độ cao, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, là công nhân được trí thức hoá,
liên minh với tri thức, thu hẹp dần lại khoảng cách giữa lao động trí óc và lao
động chân tay, lao động sản xuất và lao động quản lý đều là lao động trực tiếp làm
ra sản phẩm của hoạt động lao động. Giai cấp công nhân đều đứng trong giai cấp
những người lao động tri thức. Đội ngũ những người lao động tri thức có cả các
cán bộ kỹ thuật, các nhà quản lý. Kinh tế thị trường đã và đang mang lại biết bao
thay đổi sâu sắc và to lớn trong xã hội, nhất là trong giáo dục- đào tạo. Trước hết
phải kể đến một quan niệm mới về tri thức. Người ta phân biệt rất rõ ba khái
niệm: dữ liệu, thông tin và tri thức. Ba khái niệm này là khái niệm công cụ của
giáo dục- đào tạo và của kinh tế tri thức ngày nay được xác định như sau:
- Dữ liệu là những khối cơ bản trong kinh tế thông tin.
- Thông tin là dữ liệu được xếp thành mẫu hình có ý nghĩa.
- Tri thức là áp dụng và sử dụng một cách có ích các thông tin.
tập. Cho nên phải quán triệt quan điểm học suốt đời. Ngày nay cách chia lứa tuổi
ra tuổi chơi, tuổi học, tuổi lao động, tuổi về hưu đã thay đổi, tuổi nào cũng phải
học, tất nhiên trong "tuổi học" hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo. Và ở nhà
trường ngày nay, bên cạnh truyền đạt và tiếp thu tri thức, vận dụng tri thức, rất
chú ý hình thành nên ở mỗi người phương pháp học tập của bản thân mình. Nhất
là trong trường cao đẳng, đại học và đặc biệt chú ý đến công việc này. Đồng chí
Phạm Văn Đồng đã từng nói: Học đại học là học phương pháp. Tri thức ngày nay
biến đổi nhanh lắm: cứ 7 năm lượng thông tin của loài người tăng gấp đôi; ở bậc
đại học của Mỹ một số nhà khoa học cho biết có nội dung được dậy ở năm thứ
nhất đến cuối khoá đã trở nên lạc hậu. Vào đời lao động ai cũng phải cập nhật vốn
hiểu biết của mình, ai cũng phải tự học suốt đời theo gương của Bác Hồ chúng ta.
Bác đã đưa ra tư tưởng diệt dốt, đặc biệt coi trọng dân trí như là một điều kiện tối
cần thiết bảo đảm thành công cuộc kháng chiến và cách mạng. Ngày nay chúng ta
coi tri thức đồng nghĩa với phát triển, tri thức là chìa khoá của mỗi người giải
quyết các vấn đề đặt ra cho bản thân, là chìa khoá đi vào tương lai. Kinh tế tri
thức đòi hỏi mọi người phải học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, phổ cập
công nghệ, tăng cường nhân văn.
Kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ cao mà trước hết là công nghệ thông
tin, nên tay nghề công nghệ cao của đội ngũ chuyên gia công nghệ cao là đòi hỏi
đầu tiên, là yếu tố then chốt để tiếp cận dần với kinh tế tri thức. Và cũng chính vì
vậy các nhà chuẩn bị giáo dục đi vào thế kỷ 21, nhất là ở một số nước (Mỹ,
Singapore v v ) đã đi vào kinh tế tri thức, đặc biệt chú trọng giáo dục nhân văn,
nhân bản, rất quan tâm đến giáo dục giá trị văn hoá dân tộc cùng với giá trị chung
của nhân loại. Trong đó, đặc biệt coi trọng giáo dục giao tiếp, ứng sử văn hoá,
quan hệ giữa người với người như là giá trị tinh tuý nhất, quý báu nhất của loài
người và từng con người, nhóm người và cộng đồng, giáo dục văn hoá bao dung,
văn hoá hoà bình. Đó là phương hướng tổng quát của công cuộc đổi mới, cải cách
nội dung, chương trình, sách giáo khoa tổ chức hoạt động dạy - học, giờ trên lớp
và giờ ngoài lớp để đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tiếp cận dần với kinh tế
+ Cũng do nhận thức càng cao của con người nên số người muốn ở lại thủ
đô và một số thành phố lớn rất cao. Thực tế cho thấy đa số sinh viên ra trường
không muốn về tỉnh nữa. Vì vậy mà sự phân hoá thành thị nông thôn vẫn còn
khoảng cách lớn chưa tạo được sự phát triển tri thức một cách toàn diện.
+ Khái niệm nền kinh tế tri thức còn rất mơ hồ đối với những người dân
vùng nông thôn nên họ chưa nhiệt tình tham gia phát triển kinh tế tri thức. Cũng
không thể phê phán ai vì đều kiện kinh tế còn hạn hẹp (Thu nhập ở nông thôn chỉ
đủ ăn còn dư dật thì không nhiều). Đây là một lý do kìm hãm bước đi của nền kinh
tế tri thức.
+ Do bị ảnh hưởng của chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo của hệ
thống giáo dục ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ nên con người đào tạo ra ít năng
động, trình độ ngoại ngữ kém, kỹ năng thực hành yếu nên không đáp ứng được
yêu cầu phát triển kinh tế tri thức.
Nói tóm lại chính nhận thức của con người không tốt sẽ tạo ra những yếu tố
không tốt kìm hãm sự phát triển kinh tế nói chung và sự phát triển nền kinh tế tri
thức nói riêng
Nền kinh tế tri thức tác động tới con người.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự biến đổi của xã hội diễn ra
sâu sắc, mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử. Trong hai thập niên qua các công
nghệ cao phát triển như vũ bão và đã đạt được những thành tựu kỳ diệu mà trước
đây vài thập niên con ngừời chưa dự báo được và cũng ít dám mơ ước tới. Đặc
biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như công nghệ
web, internet, thực tế ảo, thương mại điện tử cùng với những thành tựu về công
nghệ sinh học như công nghệ gen, nhân bản vô tính đang tác động mạnh mẽ, sâu
sắc, làm đảo lộn nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người, đưa con người
đi vào thời đại kinh tế tri thức.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai ở các nước phát triển nông dân chiếm
đa số. Ngày nay ở đó nông dân chỉ còn dưới 1/5 (về dân số), tức giảm xuống còn
1/10 so với trước đây 80 năm. Nông dân sản xuất chỉ chiếm 2% lực lượng lao
phương tiện giúp cho người lao động kỹ thuật nói riêng và người lao động nói
chung phát huy với hiệu quả cao không chỉ ở thị trường trong nước mà cả ở thị
trường lao động quốc tế.
Công nghệ thông tin cho phép cất giữ, lưu chuyển, và truy nhập thông tin
trên quy mô lớn, tốc độ gần như tức thời và chi phí thấp. Thông qua mạng chúng
ta có thể giúp cho hàng chục ngàn lãnh đạo ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh
chóng nắm bắt kiến thức quản lý hiện đại trong một thời gian rất ngắn và liên tục
được cập nhật về thông tin thị trường ở những khu vực cạnh tranh then chốt nhất.
Cũng thông qua trang web các em học sinh ở vùng sâu vùng xa cũng được ôn thi
như các em ở thành phố lớn, ngay tại địa phương mình.
Sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã tạo ra sự học một cách ồ ạt. Bên
cạnh những mặt tốt nâng cao tri thức, phát triển toàn diện con người hình thành