Tiểu Luận Vĩ Mô TÁC ĐỘNG CỦA HAI GÓI KÍCH CẦU ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM - Pdf 66


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
CHỦ ĐỀ 7
TÁC ĐỘNG CỦA HAI GÓI KÍCH CẦU ĐẾN
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: TS. HAY SINH
2
LỚP 78 – K35 – GIẢNG ĐƯỜNG B215
1. NGUYỄN THỊ DUYÊN THƠ (nhóm trưởng)
2. VŨ KHẮC TRỌNG
3. PHAN THỊ TUYẾT
4. LÊ HUYỀN BẢO TRÂN
5. NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
6. TRẦN LỆ BẢO TRÂM
7. ĐẶNG LÊ VIỆT TRINH
8. BÙI THANH LỊCH
9. TRẦN ĐỨC SƠN
10.LƯƠNG HOÀNG KIM
2
MỤC LỤC:
I. TỔNG QUAN KINH TẾ..........................................................4
1. Kinh tế thế giới .................................................................4
2. Tình hình kinh tế Việt Nam..............................................4
3. Các nguyên tắc sử dụng gói kích cầu...............................9
II. GÓI KÍCH CẦU LẦN 1.........................................................12
1. Bù đắp lãi suất 4% cho doanh nghiệp............................13
2. Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp..............................15
3. Hỗ trợ người nghèo ăn tết và kích cầu tiêu dùng..........19
4. Tác động
III. GÓI KÍCH CẦU LẦN 2.........................................................19

qua các kênh sau:
- Suy giảm đầu tư nước ngoài ( I giảm)
- Suy giảm cầu đối với đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam , bao gồm cả
xuất khẩu tại chỗ ( chẳng hạn du lịch) làm giảm X, giảm tổng cầu.
- Giảm nhập khẩu đầu vào cho xuất khẩu làm tăng tổng cầu, qua đó làm
tăng tổng cầu.
Tuy nhiên mức độ thâm dụng lao động của xuất khẩu của Việt Nam cao
hơn so với nhập khẩu, nên suy giảm kinh tế thông qua kênh đầu tư nước ngoài
có tác động giảm việc làm và qua đó giảm thu nhập. Giảm thu nhập sẽ làm cho
tiêu dùng của hộ gia đình thấp đi, và đầu tư của khu vực tư nhân cũng giảm .
2
Qua đó tổng cầu sụt giảm hơn nữa. Sự sụt giảm này còn bị khuếch đại bởi yếu tố
tâm lí trong bối cảnh các doanh nghiệp và người dân cảm thấy rủi ro ngày một
tăng ở cấp độ toàn cầu, dẫn đến sự điều chỉnh tiêu dùng và đầu tư một cách thái
quá, không phù hợp với mức điều chỉnh tối ưu. Điều này đòi hỏi sự can thiệp
của Chính phủ để khôi phục lại các hành vi kinh tế ở mức tối ưu, với nguyên tắc
chung là có các biện pháp kích khi thị trường quá sợ hãi và kìm hãm khi thị
trường quá hưng phấn.
Do đó, khó có một nước nào có thể đứng ngoài lề một cuộc khủng hoảng như
vậy. Đối với Việt Nam, là một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào các nền kinh
tế khác, tỉ lệ xuất khẩu của nước ta tính trên GDP lên đến 70%, và sự tăng
trưởng của Việt Nam trong nhiều năm qua phụ thuộc nhiều vào dòng vốn đầu tư
từ nước ngoài , nên có thể kết luận rằng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng lớn bởi cuộc
đại suy thoái kinh tế thế giới.
Những dấu hiệu đáng ngại của sự sụt giảm thể hiện rõ trong những tháng
cuối năm 2008, đầu năm 2009, đặc biệt qua kênh xuất khẩu. Theo báo cáo Chính
phủ ngày 18/12/2008, kim ngạch xuất khẩu những tháng cuối năm 2008 đã biểu
hiện sự sụt giảm rõ nét. Kim ngạch tháng 10 giảm 3,3% so với tháng 9, và tháng
11 giảm 4,8% so với tháng 10. Kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam 1/2009 đã
sụt giảm nghiêm trọng theo đà giảm của những tháng cuối năm 2008. Kim ngạch

sinh xã hội. Một trong những biện pháp đó là sử dụng gói kích cầu. Biện pháp
trên đã có tác động tích cực đối với nền kinh tế đất nước. “ Liệu pháp kích cầu”
về bản chất là việc Nhà nước chủ động tác động tích cực tới tổng cung và tổng
cầu xã hội một cách thống nhất, có tổ chức và có mục đích, theo khuynh hướng
khuyến khích đầu tư và mở rộng quy mô tiêu dùng; kích hoạt và tăng động lực
phát triển kinh tế trong bối cảnh có sự suy giảm các động lực kinh tế do các khó
khăn về nguồn vốn và thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp, nhất là khu vực
kinh tế tư nhân.
Cha đẻ của biện pháp kích cầu kinh tế có một câu nói nổi tiếng về mức độ
ảnh hưởng của chính sách này: “chỉ cần Chính phủ chôn tiền xuống đất rồi chỉ
người dân đến đó đào lên cũng đủ làm cho nền kinh tế tăng trưởng”.Dĩ nhiên
đây chỉ là một cách nói quá của Keynes, nhưng quả thật đấy cũng là một cách
kích cầu kinh tế nếu đơn giản chỉ nhằm mục tiêu việc làm và tăng trưởng kinh tế
trong ngắn hạn.
Câu nói trên được lí giải như sau: Khi người dân đào được tiền, họ sẽ dùng
tiền ấy mua các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu chẳng hạn như bánh mì, quần
áo, giày dép,… Điều này làm cho cầu về hàng hóa tăng lên, các doanh nghiệp
mở rộng sản xuất, làm kinh tế tăng trưởng trong ngắn hạn. Tuy nhiên việc đào
đất lấy tiền không làm tăng của cải cho xã hội mà chỉ làm tăng cầu về hàng hóa.
Do vậy, nền kinh tế sẽ rơi tiếp vào vòng xoáy lạm phát. Nền kinh tế lại rơi vào
khủng hoảng khi người dân không đủ tiền mua hàng hóa, vòng xoáy khủng
hoảng sẽ tiếp tục ở mức sau cao hơn mức trước. Như vậy thay vì chôn tiền
xuống đất, chính phủ sẽ thực hiện một dự án nông nghiệp trả tiền cho người dân
tham gia vào cày cuốc, vỡ hoang ruộng đất để trồng cấy hoa màu. Điều này
trong ngắn hạn vừa kích thích kinh tế, vừa làm tăng tổng cầu, đồng thời cũng
làm tăng năng lực sản xuất, tăng lượng cung ứng hàng hóa ra ngoài thị trường,
sẽ góp phần giải quyết khó khăn của nền kinh tế ổn thỏa hơn nhiều so với cách
chôn tiền.
Các gói kích cầu không chỉ có ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, EU,
Australia, … mà còn xuất hiện ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như

nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy uy giảm
kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập do
đó làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra dẫn đến các doanh nghiệp
phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp lên ở vòng tiếp theo
và cứ tiếp tục như vậy. Do vậy, mục đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì
việc làm.
Các nền kinh tế khác nhau có thể thiết kế các gói kích cầu kinh tế khác nhau.
Đối với các nước như Mỹ và EU, thì gói kích cầu được hiểu là gói kích thích
kinh tế, sử dụng các biện pháp tài khóa ( bao gồm tăng chi tiêu của chính phủ và
cắt giảm thuế) – Điều này là do thông thường, khi nền kinh tế gặp khó khăn, thì
các nước này thường sử dụng chính sách kinh tế là chính sách tiền tệ ( điều
2
chỉnh lãi suất cho vay, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở), và chỉ cân nhắc sử
dụng chính sách tài khóa khi dường như chính sách tiền tệ dường như không còn
tác dụng, hoặc không thể thực hiện được ( ví dụ như khi lãi suất đã giảm xuống
rất thấp). Trong trường hợp của Việt Nam, Chính phủ kết hợp cả hai chin sách
tiền tệ và tài khóa. Nhưng cho dù một chính sách kích cầu được kết hợp hay
thiết kế theo kiểu nào đi nữa thì một gói kích cầu muốn có hiệu quả phải tuân
thủ ít nhất 3 tiêu chí, đó là: kịp thời, đúng đối tượng và ngắn hạn hay nhất thời.
Riêng đối vơi nước ta, một nền kinh tế có độ mở cao với tỉ trọng nhập khẩu
chiếm gần 90% GDP, cần có thêm tiêu chí thứ 4 là ít rò rỉ ra hàng ngoại nhập.
3. Nguyên tắc sử dụng gói kích cầu:
 Nguyên tắc 1 – Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích cầu phải được chính
phủ thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện nguy cơ suy thoái, mà kịp
thời còn có nghĩa là một khi chính phủ thực hiện thì những biện pháp này sẽ có
hiệu ứng kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế. Do đó,
việc kích cầu chỉ có thể thực hiện được một cách có ý nghĩa trong một khoảng
thời gian nhất định. Các chính sách quá mất thời gian có thể không có tác dụng,
vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có khả năng phục hồi, và việc sử dụng gói kích

sách kích cầu nhắm vào các đối tượng khác nhau lại mang đến những kết quả
không giống nhau. Như vậy mức độ thành công của một gói kích cầu đến đâu là
phụ thuộc vào đối tượng mà gói kích cầu kinh tế hướng đến. Mức độ “đúng đối
tượng” của gói kích cầu chính phủ phụ thuộc vào:
(i) Mức độ chi tiêu của đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu
thông qua tác động của số nhân tổng cầu.
(ii) Mức độ rò rỉ ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu ( vì sẽ làm tăng M
trong đẳng thức tính tổng cầu Y của nền kinh tế).
Nhìn chung, những người có mức thu nhập thấp thường có mức tiêu dùng
cao (tức là mức tiết kiệm thấp) trên 1 đồng thu nhập có thêm được và lại thường
tiêu dùng hàng nội. Do vậy nếu kích cầu đúng nhóm đối tượng này, sẽ đạt được
đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng, khác với sự đánh đổi giữa
hiệu quả và công bằng mà ta thườn gặp trong kinh tế.
 Nguyên tắc 3 - Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được
cải thiện. Khi thực hiện các biện pháp kích cầu phải đảm bảo rằng các biện pháp
giảm thuế tăng chi tiêu của chính phủ đều chỉ có tính tạm thời và sẽ chấm dứt
khi nền kinh tế vượt qua suy thoái. Và thông thường, sau khi vượt qua suy thoái,
chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp để hạn chế và cắt giảm thâm hụt ngân sách.
Nguyên tắc ngắn hạn có 2 ý nghĩa:
(1)Ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu:
Những chính sách vẫn còn hiệu lực khi nền kinh tế phục hồi, ví dụ như chính
sách cắt giảm thuế cố định là những biện pháp kích cầu kém hiệu quả, vì những
biện pháp kích thích này sẽ trở thành những khoản chi phí của chính phủ hoặc
khoản thất thu khi thời gian kích cầu đã kết thúc. Hon thế nữa các biện pháp tín
dụng như đầu tư, hoặc ưu đãi khấu hao tài sản sẽ là những biện pháp kích cầu
hiệu quả hơn khi được thực hiện. Điều này là do các biện pháp nếu chỉ được
thực hiện trong ngắn hạn sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ
đầu tư để tận dụng ưu đãi. Những biện pháp dài hạn như cắt giảm thuế quá lâu
2

cao.
3. Việc hoạch định chính sách nói chung và gói kích cầu nói riêng
dược thực hiện trong một môi trường đầy biến động, sẽ gây ra
những trở ngại lớn trong việc hoạch định chính sách.
 Thuận lợi:
1. Nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng cung như bất động sản ở tất cả các
phân khúc còn rất lớn, tạo thuận lợi cho đầu tư công.
2. Tỉ trọng đầu tư công của Việt Nam thuộc loại cao nhất trên thế
giới, cùng với sự hiện diện của một số chương trình mục tiêu quốc
gia về giảm nghèo đã được thực hiện khoảng 10 năm nay, cũng là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status