Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường giai đoạn từ năm 2007 đến nay tại Việt Nam - Pdf 64

MỤC LỤC
Trang
1
LỜI MỞ ĐẦU
Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước. Ở Việt Nam,
Ngân hàng Nhà nước đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhắm tác động
tích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi.
Trong nền kinh tế hiện nay, lãi suất là một chỉ số rất quan trọng và được theo dõi chặt chẽ
hằng ngày .Mỗi mức lãi suất được công bố sẽ ảnh hưởng đến những quyết định của cá nhân
cũng như doanh nghiệp; quyết định đầu tư hay gừi tiết kiệm. Và mỗi quyết định đó dù nhỏ
nhưng cũng góp phần tác động đến sự phát triển kinh tế của cả một quốc gia.
Chính vì những lý do đó mà từ năm 2007-năm 2009 này,vấn đề được quan tâm nhất là
lãi suất hay cuộc đua lãi suất giữi các ngân hàng thương mại. Không chỉ có những nhà kinh
tế,các doanh nghiệp mà các cá nhân cũng rất quan tâm.
Hiện nay, chúng ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của công cụ lãi suất trong nền kinh
tế, tác động và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế trong bối cảnh đất nước đang
tham gia ngày càng sâu rộng hơn và liên kết khu vực và hội nhập quốc tế. Với đề tài
“Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường giai đoạn
từ năm 2007 đến nay tại Việt Nam” nhằm nghiên cứu sâu hơn về lãi suất và chiều hướng
diễn biến của nó.
Nội dung đề tài gồm hai phần:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về lãi suất và chính sách lãi suất.
Chương II: Chính sách lãi suất ở Việt Nam hiện nay.
Vậy chính sách lãi suất là gì?.Tại sao lại có những biến động khó lường như vậy trên thị
trường tiền tệ Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay. Chúng ta hay cùng tìm hiểu.

2
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ
CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LÃI SUẤT

1. Các loại hình lãi suất
Lãi suất có thể có nhiều cách phân chia khác nhau như phân loại theo nội tệ và ngoại
tệ, phân theo nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD, phân loại theo thời gian hay phân loại
theo nội dung kinh tế...Ở đây, ta chia lãi suất trên thị trường theo các nhân tố tác động
thành 2 nhóm:
a. Lãi suất thị trường tự do, thay đổi do ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu trên
thị trường: Bao gồm lãi suất các loại tín phiếu kho bạc, tiền gửi, chứng chỉ tiển gửi (L/C),
lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng, lãi suất của các khoản tín dụng ngắn hạn của các
NHTM cho các doanh nghiệp vay, là mức lãi suất cao nhất trên thị trường tiền tệ, lãi suất
của các NHTM lớn áp dụng cho các doanh nghiệp có uy tín là mức lãi suất thấp nhất trên
thị trường này và thường gọi là lãi suất cho vay cơ bản(Prime Rate Bank Loans).
b. Lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố: Được xác định dựa trên quan hệ
cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước xác định tuỳ thuộc vào mục
tiêu chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế vĩ mô… Bao gồm: lãi suất chiết khấu, lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất định hướng trên thị trường liên Ngân hàng, lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở…
2. Các loại chính sách lãi suất
a. Chính sách lãi suất trần: Chính sách lãi suất trần là chính sách chỉ ấn định lãi
suất cho vay tối đa. Chính sách này khuyến khích việc huy động vốn và tăng khả năng kiểm
soát của chính phủ. Chính phủ đưa ra một mức lãi suất nhất định và áp đặt chung cho toàn
bộ hệ thống Ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế.
b. Chính sách lãi suất cố định: Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước
khống chế NHTM cả về lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Theo chính sách này thì sẽ
không có sự cạnh tranh về lãi suất trên thị trường tài chính tín dụng và do đó không thúc
đẩy sự phát triển kinh tế.
c. Chính sách lãi suất tự do: Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà chính
phủ sẽ can thiệp khi mức lãi suất vượt quá mức lãi suất chung.Lãi suất tăng giảm hoàn toàn
do những biến đổi trong cung và cầu về vốn vay trên thị trường.Tuy nhiên, nó chỉ thực hiện
được trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo. Như Việt Nam thì hiện tại chúng ta đang sử
dụng chính sách lãi suất thoả thuận.

vay, dưới dây ta chỉ phân tích những tác nhân có ảnh hưởng quan trọng đến đường cung và
đường cầu về vốn vay, qua đó tác động đến lãi suất.
5
1. Mức lạm phát kỳ vọng
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có
xu hướng tăng.
Ta thấy rằng : Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát
Do đó, để duy trì lãi suất thực tế không giảm, khi tỷ lệ lạm phát tăng thì lãi suất danh
nghĩa cũng phải tăng lên tương ứng.
Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, công chúng sẽ chuyển phần tiết kiệm của mình sang
dự trữ hàng hóa hoặc các dạnh thức tài sản phi tài chính khác như vàng, ngoại tệ mạnh hơn
là cho vay. Điều đó làm giảm cung về vốn vay, qua đó làm dịch chuyển đường cung sang
trái và làm lãi suất tăng lên. Ngược lại, ta thấy rằng, nếu lạm phát dự tính có xu hướng
giảm thì sẽ làm cho lãi suất giảm xuống.
2. Cung cầu của qũy cho vay
Bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu hoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng
một tỉ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị trường, mức độ biến động của lãi suất cũng
ít nhiều phụ thuộc vào các qui định của chính phủ và ngân hàng Trung Ương, song đa số
các nước có́ nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất. Từ điều
này cho thấy ,chúng ta có thể tác động vào cung câu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất
trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ: ví dụ như thay
đổi cơ cấu vốn đầu tư,tập trung vốn đầu tưcho cac dự an trọng điểm.
3. Thuế thu nhập
Thuế thu nhập luôn tác động đến lãi suất giống như khi thuế tác động đến giá cả hàng
hóa. Thông thường người ta quan tâm nhiều đến lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh
nghĩa. Nên khi thuế thu nhập tăng lên, nó làm giảm đi một phần thu nhập của những cá
nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia chứng khoán. Nghĩa
là khi thuế thu nhập tăng, phần tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức sẽ giảm đi, do đó
lượng tiền cho vay trên thị trường sẽ giảm đi. Qua đó làm giảm cung về vốn vay, đường
cung vốn vay dịch chuyển sang trái, lãi suất tăng lên. Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm đi

bằng cách sử dụng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước có thể tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển. Hoặc muốn kìm hãm tốc độ phát triển hay đẩy mạnh phát triển một ngành nào
đó,Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hay mở rộng đầu
tư ở ngành này.
Bên cạnh vai trò hướng dẫn điều hành nền kinh tế, lãi suất tín dụng còn đóng vai trò
tích cực trong kiềm chế lạm phát. Ở nước ta, tháng 5/2008 đánh dấu mốc quan trọng đối
với điều hành lãi suất cơ bản của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo Quyết định
16/2008/QĐ-NHNN, lãi suất cơ bản đã được sử dụng một cách hiệu quả và linh hoạt trong
điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước. Trước sư biến động của thị trường
7
trong nước và thế giới, ngân hàng Nhà nước đã phải điều chỉnh lãi suất cơ bản theo một
biên độ và tần suất kỷ lục.
Sau 10 lần thay đổi lãi suất cơ bản, từ 8,25%/năm lên đến 14%/năm và hạ xuống như
hiện nay là 7%/năm. Nhờ vào sự điều chỉnh lãi suất cơ bản của ngân hàng Nhà nước đã làm
ổn định thị trường tiền tệ. Lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại trở về mức
hợp lý hơn trong mối tương quan giữa tỷ lệ lãi suất và cơ cấu kỳ hạn, phản ánh đúng quan
hệ cung cầu vốn của thị trường, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người gửi, ngân hàng thương
mại và doanh nghiệp vay vốn.
Điều này khẳng định sức mạnh của công cụ lãi suất trong điều tiết nền kinh tế ở tầm
vĩ mô .Từ năm 2007 đến nay, chính sách lãi suất luôn được sử dụng để điều chỉnh nền kinh
tế ở Việt Nam. Sau khi đã kiềm chế và giữ được lạm phát ở mức độ ổn định, Ngân hàng
Nhà nước đang thực hiện hạ thấp dần khung lãi suất để khuyến khích hoạt động đầu tư mở
rộng sản xuất kinh doanh,khôi phục kinh tế.
Có thể nói chính sách lãi suất là một bộ phận của chính sách tiền tệ của nhà nước
nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, kích thích, điều tiết và hướng dẫn sản suất kinh doanh của
các đơn vị kinh tế. Lãi suất cho vay được sử dụng để mở rộng cung ứng tiền tệ, thu hẹp đầu
tư và kiềm chế lạm phát.
Thực hiện vai trò đòn bẩy kinh tế, lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với mục
tiêu kinh tế ở những giai đoạn khác nhau. Những ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cung ứng
tín dụng và thanh toán là công cụ của nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vào

điều này thúc đẩy các doanh nghiệp phải cố gắng kinh doanh tốt, đảm bảo khả năng trả nợ
đúng hạn. Hoạt động tài chính của ngân hàng kinh doanh và tổ chức tín dụng là huy động
vốn để cho vay. Khi huy động vốn, ngân hàng phải trả lãi cho người gửi, khi cho vay sẽ thu
lãi của người vay. Ngân hàng phải tính toán mức lãi suất cho vay và đi vay hợp lý để bù
đắp các khoản chi phí nghiệp vụ và có lợi nhuận cho mình.
Mặt khác, lãi suất chính là công cụ để cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng.Thời gian
gần đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ khống chế “trần” tối đa về lãi suất cho vay và
mức độ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay nhằm đảm bảo các lợi ích cho
người gửi, người vay và ngân hàng kinh doanh có khả năng bù đắp chi phí và một phần rủi
ro nếu có. Trong kinh tế thị trường, do yêu cầu của quy luật cạnh tranh, mọi thành phần
kinh tế đều có sự cạnh tranh quyết liệt vì sản phẩm tiêu thụ, giá bán, phương thức phục vụ,
dịch vụ bán hàng…. Đứng vững được trong quá trình cạnh tranh đó là điều không đơn
giản. Với phương châm “đi vay để cho vay”, hoạt động huy động và sử dụng vốn của ngân
hàng có liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, các ngân hàng thương mại đều phải đổi mới
phương thức phục vụ và huy động vốn để huy động được vốn tối đa đồng thời cũng phải
đẩy mạnh cho vay. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng khác cũng cần phấn đấu hạ thấp chi phí,
9
tạo cơ sở hạ thấp lãi suất”đầu ra” để thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản và
vay vốn.
CHƯƠNG II.
CHÍN H SÁCH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. THỰC TRẠNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ DIỄN BIẾN LÃI SUẤT
TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY.
Lãi suốt huy động và lãi suất cho vay được duy trì hká ổn định cho đến cuối năm 2007.
Từ tháng 1 năm 2008, do chính sách thắt chặt tiền tệ ngân hàng Nhà Nước đã thực hiện
nhiều biện pháp nhằm giảm lượng tiền trong lưu thông. Từ đó các ngân hàng bắt đầu tăng
lãi suất để huy động vốn, đảm bảo thanh khoản.
Tình hình lãi suất huy động: Lãi suất huy động VNĐ được duy trì tương đối ổn định từ
cuối năm 2007 cho đến tháng 12 năm2008. lãi suất huy động cho kỳ hạn 3 tháng dao động
ở mức 7,2%/năm – 17,14%/năm; lãi suất huy động cho kỳ hạn 6 tháng ở mức 7,56%/năm -

4
Loại kỳ hạn 12 tháng 7.84 - 9.45 4.60 - 5.40 16.98-
17.18
5.3-5.
6
8.5-8.8 4.7-5.
5
Nguồn: Báo cáo của NHNN
Tình hình lãi suất cho vay: Từ cuối năm 2007 đến tháng 12/2008, lãi suất cho vay
VNĐ ngắn hạn khoảng 15%/năm; trung dài hạn khoảng 16%/năm. Cho đến tháng 06/2009,
lãi suất cho vay ngắn hạn, trung dài hạn đều ở mức 10%/năm, giảm gấp 1.55 lần so với
năm 2008.
Đối với USD, trong năm 2007 và năm 2008, lãi suất cho vay dao động trong
khoảng 6,4%/năm – 8,9%/năm. Đến tháng 06/2009, lãi suất cho vay dao động trong khoảng
4%/năm – 7,5%/năm, giảm gấp 1.5 lần so với năm 2008.
Bảng 2. Lãi suất cho vay
T12/2007(%/năm) T12/2008 (%/năm) T6/2009(%/năm)
VNĐ USD VNĐ USD VNĐ USD
Cho vay
ngắn hạn
10.80 -
13.80
6.4 0 -
7.50
19.5-20.
2
8.20-8.9
0
9.5-10.5 4.5-6
Cho vay

gửi ngoại tệ kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24
tháng.
Ngày 30/01/2008, ngân hàng Nhà nước thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất
cơ bản từ 8.25%/năm tăng lên 8.75% năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm tăng lên
7,5%/năm; lãi suất chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6.0%/năm.
Ngày 01/02/2008, tăng dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% đối với VND
và từ 10% lên 11% đối với ngoại tệ, đồng thời mở rộng kỳ hạn tiền gửi phải thực hiện dự
trữ bắt buộc từ dưới 24 tháng thành tất cả các kỳ hạn (Quyết định 187/QĐ-NHNN, áp
dụng từ 01/02/2008 của ngân hàng Nhà nước).
Ngày 13/02/2008 ngân hàng Nhà nước ra quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát
hành tín phiếu ngân hàng Nhà nước bắt buộc. Theo đó, bắt buộc các tổ chức tín dụng mua
tín phiếu bắt buộc với tổng giá trị 20.300 tỷ đồng, lãi suất 7.8%/năm, ngày phát hành
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status