Tên đề tài: Đánh giá tác động của gói kích cầu đến nền
kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008- 2009
Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn 2008 – 2009, một vấn đề bức thiết gây chấn động địa cầu đã xảy ra
đó chính là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Nó bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ từ cuối năm 2007, kéo theo phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế của các
nước công nghiệp phát triển. Kết quả là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam bị
ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều khía cạnh. Một trong những giải pháp mà chính phủ các
nước đưa ra để cứu vãn tình thế này và khắc phục hậu quả của nó là tung ra các gói kích
cầu nhằm kích thích nền kinh tế phát triển, thoát khỏi tình trạng suy thoái. Chính phủ Việt
Nam cũng hành động như vậy. Sau hơn 2 năm hội nhập với nền kinh tế thế giới thì nền
kinh tế Việt Nam đang đứng trước một nguy cơ và thách thức to lớn. Để đối phó với khủng
hoảng kinh tế, vào cuối năm 2008 chính phủ Việt Nam đã đưa ra gói kích thích kinh tế trị
giá 9 tỉ đôla chia làm 2 giai đoạn thực hiện. Kế hoạch kích thích kính tế này của chính phủ
không nằm ngoài mục đích phục hồi nền kinh tế và duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên hiện nay
vẫn chưa có một đánh giá cụ thể nào về tác động của gói kích cầu này đến nền kinh tế Việt
Nam. Với mục đích như vậy, đề tài nghiên cứu này cũng nhằm bày tỏ quan điểm cũng như
cách nhìn riêng của chúng tôi về tác động của gói kích cầu đến nền kinh tế Việt Nam trong
giai đoạn 2008-2009. Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi hi vọng có thể có một cách nhìn
khái quát về vấn đề tác động của gói kích cầu để từ đó rút ra được những kinh nghiệm, bài
học cũng như những mặt còn hạn chế để từ đó định hướng cho việc tiếp tục thực hiện gói
kích cầu trong năm 2010.
2. Tóm tắt nội dung chính
Đề tài nghiên cứu được chia làm 2 chương chính:
Chương 1: Lý thuyết kinh tế về vai trò điều tiết của chính phủ.
Chương 2: Thực trạng áp dụng các gói kích cầu ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận
1
Đề tài chủ yếu dùng phương pháp phân tích hệ thống, thống kê, so sánh. Do những
hạn chế khách quan nên đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra phân tích. Tuy nhiên,
thuyết kích cầu.
1.1.1 Tư tưởng kích cầu
Đầu tiên chúng ta nên dành một chút thời gian để tìm lại gốc gác làm nền tảng cho
nguyên lý kích cầu trong kinh tế vĩ mô.
Quay trở lại thời kỳ trước khủng hoảng kinh tế thế giới thứ 2: Nền kinh tế thế giới
phát triển ổn định nhưng đến năm 1929 nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa,
vấn đề này đã làm cho nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng lớn và chịu những hậu quả
nghiêm trọng. Nhưng thời kỳ trước cuộc đại khủng hoảng này tư tưởng điều tiết nền kinh tế
vĩ mô vẫn theo hướng lý thuyết kinh tế mà chủ yếu đó là trường phái cổ điển và tân cổ
điển. Nội dung cơ bản của lý thuyết này đó là ủng hộ tư tưởng tự do kinh doanh, tức là sự
3
điều tiết của cơ chế thị trường sẽ đưa nền kinh tế tới sự cân bằng, không cần có sự can
thiệp của nhà nước vào nền kinh tế - Chính tư tưởng này đã không giúp ích gì cho việc
khắc phục khủng hoảng và tình trạng thất nghiệp mà cuộc đại khủng hoảng suy thoái 1929-
1933 gây ra. Cụ thể là, vào những năm 30 của thế kỷ XX, ở các nước phương Tây, khủng
hoảng kinh tế diễn ra thường xuyên, tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng. Như vậy là lý
thuyết kinh tế tự điều chỉnh bị thất bại trước thực tế phũ phàng của nền kinh tế Tư Bản Chủ
Nghĩa, đặc biệt là cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 đã làm tan rã tư
tưởng tự do kinh tế. Mặt khác, vào đầu thế kỷ XX, lực lượng sản xuất và sự xã hội hóa sản
xuất phát triển, độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thế lực. Tình hình này đòi hỏi phải
có sự điều chỉnh của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế ở các nước Tư Bản Chủ Nghĩa.
Xuất phát từ thực trạng của cuộc khủng hoảng này đã hình thành nên lý thuyết kinh tế “
Chủ Nghĩa Tư Bản có điều tiết ” ra đời – hay còn gọi là trường phái Keynes – cần có sự
can thiệp của chính phủ vào kinh tế. Bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa
và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng
nổ kinh tế gây ra.
Sau đây là đôi nét giới thiệu về Keynes – người có ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh
tế học phương Tây hiện đại và chính sách kinh tế của các chính phủ. John Maynard
Keynes (1883-1946) là một nhà kinh tế học người Anh đã có thành công lớn trong việc
hình thành nền kinh tế học Keynes, có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trị
suy thoái ( khiến các khu vực khác như các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình, các nhà đầu
tư hoàn toàn thoái chí, không muốn chi tiêu, không muốn đầu tư sản xuất). Trên cơ sở đó,
Keynes đã đề xuất một phương án mà về căn bản theo nguyên lý sau: Dịch chuyển sức mua
từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ nhằm tăng cầu hiệu lực, đưa nền kinh tế ra
khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua. Tóm lại, với quan điểm trọng cầu, Keynes đã xây
dựng nên mô hình kinh tế vĩ mô, trong đó yếu tố trung tâm là vai trò điều chỉnh, can thiệp
của nhà nước thông qua các giải pháp kích cầu để tác động vào các khuynh hướng tâm lý
chung của xã hội: khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, khuynh hướng ưa
chuộng tiền mặt… với mục đích là để chống đỡ khủng hoảng, thất nghiệp. Đây chính là
nền tảng của tư tưởng kích cầu.
5
Vậy kích cầu chính là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ ( hay còn gọi
là tiêu dùng công cộng ) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Tư tưởng này của học thuyết Keynes dần dần trở thành kim chỉ nam cho các hoạt
động kinh tế của các nước trên toàn thế giới. Theo thời gian cùng với một loạt các công cụ
điều hành chính phủ khác, nó đã trở thành phương tiện cơ bản của các chính sách can thiệp,
và là phương án tối ưu cho các nước trong điều kiện nền kinh tế suy thoái rơi vào khủng
hoảng. Biểu hiện là lý thuyết của Keynes đã có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ tư tưởng của
kinh tế tư sản và được vận dụng một cách rộng rãi ở nhiều nước Tư Bản phương Tây và ở
Mỹ trong những năm 40, 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, đến đầu thập
niên 60 của thế kỷ 20 Milton Freidman – một nhà lý thuyết kinh tế Mỹ có ảnh hưởng lớn
nhất trong nửa sau thế kỷ 20. Nếu nói học thuyết Keynes là một cuộc cải cách lớn lao của
kinh tế học. Và đương nhiên nó được tiếp nối bằng một cuộc chống cải cách, trong thời
gian này một số nhà kinh tế đã đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi kinh tế học cổ
điển trong giai đoạn từ năm 1950-2000, nhưng không ai có ảnh hưởng lớn như Freidman
(Theo thời đại mới số 10/tháng 3/ năm 2007). Ông được đánh giá cao như vậy bởi những tư
tưởng mới mẻ của ông, ông nhận diện được nhược điểm của trường phái Keynes. Điều này
thể hiện rõ nét ở lời nhận xét mà ông đưa ra năm 1962 trong một tác phẩm kinh điển bảo vệ
nền kinh tế thị trường, rằng các chính sách này đều biến thái theo chiều hướng đơn giản
hóa. Tùy tiện và bị lạm dụng, theo một phiên bản “ phân tích kiểu Keynes thô sơ
1.1.2 Khái niệm kích cầu
Vậy kích cầu được hiểu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ ( hay còn
gọi là tiêu dùng công cộng ) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai. Kích
cầu chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đang cần vực dậy. Trong
hai loại biện pháp này, biện pháp thứ hai được cho rằng có hiệu suất kích thích tổng cầu
cao hơn.
Nguyên tắc kích cầu: Theo nhà kinh tế Lawrence Summers, để biện pháp kích cầu
có hiệu quả thì việc thực hiện nó phải đảm bảo 3 nguyên tắc:
1. Đúng lúc (kịp thời – timely)
2. Trúng đích (đúng đối tượng – targeted)
3. Vừa đủ (ngắn hạn - temporary)
7
Để áp dụng biện pháp này đạt được hiệu quả cao nhất thì chính phủ các nước và các
nhà lãnh đạo phải chú ý thực hiện theo đúng 3 nguyên tắc nói trên.
Phần tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu lý thuyết về tổng cầu và kích cầu.
1.2 Lý thuyết về tổng cầu và kích cầu
1.2.1 Chính sách tài khóa
Như chúng ta thấy, trước sự suy thoái của nền kinh tế, biện pháp mà được hầu hết
các chính phủ các nước sử dụng đó là chính sách tài khóa mở rộng: tăng chi, giảm thu với
mục tiêu cuối cùng là đưa sản lượng về mức sản lượng tiềm năng.
Trước khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem tổng cầu là gì? chính
sách tài khóa là gì? Tại sao và khi nào chính phủ chúng ta sẽ áp dụng phương pháp đó.
Theo định nghĩa trong sách giáo trình kinh tế vĩ mô (NXB Giáo dục – 2000 của Việt Nam
hiện nay, trang 79) thì “ tổng cầu là toàn bộ số lượng hàng hóa, dịch vụ mà các hộ gia đình
và các doanh nghiệp dự kiến chi tiêu, tương ứng với mức chi tiêu của họ”. Còn “chính sách
tài khóa là việc chính phủ sử dụng thuế khóa và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu
chung của nền kinh tế ”. Nguyên lý thì như vậy, nhưng chúng ta phải áp dụng thế nào cho
phù hợp và đạt được kết quả cao nhất, đó chính là câu hỏi khó nhất mà các nhà lãnh đạo
các nước gặp phải. Và họ phải nghiên cứu để đưa ra các phương án giải quyết phù hợp với
phủ, tăng mua sắm hàng hóa, dịch vụ hoặc giảm thuế. Nếu làm được điều này thì đường
tổng cầu AD
1
sẽ dịch dần lên trên, và khi AD
1
tiến đến AD tức là Y
1
dần tới Y*, sản lượng
thực tế sẽ bằng sản lượng tiềm năng. Lúc này thị trường ổn định, thất nghiệp sẽ giảm và
điều tất nhiên là tỉ lệ thất nghiệp thực tế sẽ trở về với tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Như vậy là
vấn đề đã được giải quyết.
Y
P
P0
P1
y
1
y
0
E
0
AS
E1
AD
AD
0
9
Nhưng trên thực tế, khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng cần lưu ý
đó là: Khi AD
1
y
2
AS
AD2
AD
0
0
10
trong thực tiễn, chúng ta cùng xem xet một cơ chế đặc biệt của chính sách này. Đó là cơ
chế ổn định tự động.
Thật vậy, hệ thống tài chính hiện đại có những yếu tố tự ổn định mạnh mẽ, đó là:
Những thay đổi tự động về thuế. Hệ thống thuế hiện đại bao gồm thuế thu nhập lũy tiến với
thu nhập cá nhân và lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi thu nhập quốc dân tăng lên, số thu về
thuế tăng theo, và ngược lại khi thu nhập giảm, thuế giảm ngay mặc dù Quốc hội chưa kịp
điều chỉnh thuế suất. Vì vậy, hệ thống thuế có vai trò như là một bộ tự ổn định tự động
nhanh và mạnh.
Yếu tố thứ hai sau tự ổn định sau thuế chính là hệ thống bảo hiểm. Bởi trong quá
trình sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội, cải tạo và chinh phục tự nhiên, dù có tri thức
ngày càng cao, con người vẫn phải đối mặt nhiều hơn với khả năng xảy ra tai họa từ nhiều
phía, do chính bản thân con người, do những phương tiện thiết bị của con người tạo ra.
Trước mối đe dọa thường ngày như vậy, các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện biện
pháp tự bảo hiểm, nhưng tự bảo hiểm là biện pháp hiệu quả thấp và không kinh tế. Do vậy
tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm và sử dụng nó để chia sẻ khi rủi ro xảy ra
thông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong nền kinh tế hiện nay, hệ thống bảo
hiểm bao gồm bảo hiểm thất nghiệp và các chuyển khoản mang tính chất xã hội khác. Hệ
thống này hoạt động khá nhạy cảm.
Điều này được hiểu như sau: Khi mất việc hay thất nghiệp thì người thất nghiệp sẽ
được nhận một khoản trợ cấp – đó là trợ cấp thất nghiệp từ nhà nước. Và đương nhiên là
khi có việc làm thì khoản trợ cấp này sẽ không còn nữa. Như vậy, hệ thống bảo hiểm bơm
tiền vào và rút tiền ra khỏi nền kinh tế, ngược lại chiều hướng của chu kỳ kinh doanh góp
huy ảnh hưởng đối với nền kinh tế. Loại độ trễ này xuất hiện vì chính sách không tác động
ngay lập tức tới chi tiêu, thu nhập và việc làm.
Với chính sách tài khóa, cả hai độ trễ khá dài, phụ thuộc vào các yếu tố chính trị và
cơ cấu tổ chức bộ máy. Chính vì vậy những quyết định đưa ra không đúng lúc có thể làm
rối loạn thêm nền kinh tế thay vì ổn định nó.
Trên thực tế, chính sách tài khóa thường được thực hiện thông qua các dự án công
cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển việc làm và trợ cấp xã hội. Thực tế cho thấy, ngoài
một số dự án công cộng thực hiện thành công, đa số các dự án tỏ ra kém hiệu quả kinh tế.
2.2 Tác động của chính sách tài khóa
12
Khi chính phủ tăng chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ một lượng ∆G, tổng cầu của nền
kinh tế tăng lên làm dịch chuyển đường IS sang phải. Kết quả tổng hợp là làm cho thu nhập
tăng từ Y
1
lên Y
2
và lãi suất theo đó cũng tăng từ i
1
lên i
2
.
Khi chính phủ giảm thuế 1 lượng là ∆T,thay đổi của chính sách này làm tăng tổng
cầu.Sự gia tăng AD làm dịch chuyển IS sang phải,kết quả tổng hợp là thu nhập tăng từ Y
1
lên Y
2
và lãi suất tăng từ i
1
lên i
2
suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu tư, kìm
hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, trường hợp này chính sách tiền tệ nhằm chống
lạm phát.
Y
P
P
2
P
0
y
0
y
2
AS
AD2
AD
0
0
14
Do vậy, chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay
ngân hàng Trung Ương để đạt được những mục tiêu đặc biệt như kiềm chế lạm phát, duy
trì ổn định tỉ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.
1.2.3.2 Các công cụ chính sách tiền tệ mở rộng
Ngân hàng Trung Ương điều chỉnh mức cung tiền và các tỉ lệ lãi suất bằng
nhiều công cụ khác nhau nhằm tác động vào lượng tiền và số nhân tiền tệ: mức cung tiền
hoặc lãi suất.
1.2.3.2.1 Nghiệp vụ thị trường mở
Là việc các ngân hàng trung ương mua và bán các chứng khoán có giá trị, mà chủ
yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng. Ngân hàng
Thứ nhất: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc tác động lên cơ chế tạo tiền gửi của các ngân hàng
thương mại:
Tiền gửi mới được tạo ra = Tiền dự trữ ban đầu x (1 / tỉ lệ dự trữ bắt buộc)
Trong đó: 1/tỉ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số nhân tiền tệ với 2 giả thiết:
Các ngân hàng thương mại không có tiền dự trữ thừa so với tỉ lệ dự trữ bắt buộc mà
ngân hàng trung ương yêu cầu.
Các khoản tiền gửi do các ngân hàng thương mại tạo ra đều được giữ lại trong hệ
thống ngân hàng.
Do vậy ngân hàng trung ương quyết định tăng hoặc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm
cho hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên.
Thứ hai: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng
thương mại. Tiền dự trữ bắt buộc đều phải mở tài khoản và gửi tại ngân hàng trung ương và
không được hưởng lãi, dù các ngân hàng thương mại vẫn phải trả lợi tức cho các khoản tiền
gửi ở ngân hàng mình.
Do vậy trong trường hợp này: Ngân hàng trung ương sẽ giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc,
các ngân hàng thương mại có cơ hội giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, giá các
khoản vay rẻ hơn, tăng khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại và theo đó lượng
tiên cung ứng tăng lên.
Tuy nhiên hiện nay công cụ dự trữ bắt buộc ít được sử dụng trong quá trình thực thi
chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương ví nó phức tạp, kém linh hoạt, ảnh hưởng đến
lợi nhuận của các ngân hàng kinh doanh.
16
1.2.4 Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng
1.2.4.1 Tác động của tăng cung tiền tới lãi suất cân bằng
Ban đầu mức cung tiền ở mức MS
0
và lãi suất cân bằng là i
0
Khi ngân hàng tăng lượng tiền cung ứng lên MS
1
đến Y
1
1.2.4.3 Chính sách tiền tệ mở rộng trong hệ trục mức giá - sản lượng
Y
i
i
2
i
1
Y
1
Y
2
LM
0
IS
2
IS
1
B
A
18
Tăng cung tiền làm tăng tổng chi tiêu tại mỗi mức giá. Vì mức sản lượng cân
bằng tại mỗi mức giá cân bằng cho trước, đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải. Sự
dịch chuyển của đường tổng cầu được chuyển thành sự gia tăng của tổng sản lượng từ Y
0
đến Y
1
.
Do vậy khi nền kinh tế có các nguồn lực chưa được sử dụng và giá cả cứng nhắc,
Y
1
Y
0
P
0
Y
1
Y
0
AS
AD
0
AD
1
Y
20
Lượng tiền
0
I
0
I
0
I
1
i
0
i
1
I
Y
1
P
0
45
0
EA
1
EA
0
AS
AD
0
AD
1
P
Y
0
Y
1
C D
22
Các nhà kinh tế gọi chính sách tiền tệ như vậy là chính sách thích ứng bởi vì chính
sách tiền tệ thích ứng với sự thay đổi của chính sách tài khóa.
Tuy nhiên nếu chính sách tiền tệ không thay đổi (cung tiền không đổi) thì việc tăng
chi tiêu của chính phủ sẽ làm tăng cầu tiền, và để cho cầu tiền bằng cung tiền cố định thì
phải tăng lãi suất. Khi tăng lãi suất sẽ làm giảm chi tiêu cho đầu tư và giảm tổng cầu. Sự
suy giảm tổng cầu vì lãi suất tăng khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng
được gọi là hiệu ứng lấn át. Ảnh hưởng mở rộng đến nền kinh tế sẽ nhỏ hơn so với khi áp
dụng chính sách thích ứng.
việc xem xét cơ cấu thu chi trong những năm vừa qua và phân tích tình hình tác động có
thể có của gói kích cầu tới cán cân ngân sách và nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn
2008-2009.
Cụ thể hơn, chúng ta sẽ nghiên cứu các tác động qua lại giữa các vấn đề về chi tiêu,
vấn đề thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế của nhà nước.Trong nhiều năm qua đã có
nhiều nghiên cứu kinh tế, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, tập trung xem xét vai trò của chi
tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách đôi khi
không thống nhất với nhau về việc liệu chi tiêu chính phủ có vai trò thúc đẩy hay làm chậm
tăng trưởng kinh tế. Những người ủng hộ quy mô lớn của chi tiêu chính phủ cho rằng, các
chương trình chi tiêu của chính phủ sẽ giúp cung cấp các hàng hóa công cộng như cơ sở hạ
tầng và giáo dục. Họ cũng cho rằng sự gia tăng chi tiêu chính phủ có thể đẩy nhanh tăng
trưởng kinh tế thông qua việc làm tăng sức mua của người dân như lý thuyết của trường
phái Keynes đã chỉ ra.
Tuy nhiên, những người ủng hộ quy mô nhỏ của chi tiêu chính phủ lại có quan điểm
ngược lại. Họ giải thích rằng, chi tiêu chính phủ quá lớn và sự gia tăng chi tiêu chính phủ
sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế, bởi vì nó sẽ làm dịch chuyển nguồn lực từ khu vực sản
xuất hiệu quả trong nền kinh tế sang khu vực chính phủ kém hiệu quả. Họ cũng chỉ ra rằng,
sự mở rộng chi tiêu công sẽ làm phức tạp thêm những nỗ lực thực hiện các chính sách thúc
đẩy tăng trưởng. Ví dụ như những chính sách cải cách thuế và an sinh xã hội, bởi vì những
24
người chỉ trích có thể sử dụng sự thâm hụt ngân sách làm lý do để phản đối những chính
sách cải cách nền kinh tế này.
Thật vậy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong gần một thập kỷ qua phần nhiều
dựa vào các luồng chi tiêu kích cầu. Chủ yếu thông qua ba nguồn: chi tiêu chính phủ; Đầu
tư trực tiếp nước ngoài; Tăng trưởng tín dụng( cung tiền ).
Tăng chi tiêu chính phủ và mở rộng tín dụng doanh nghiệp, một mặt giúp nền kinh
tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như
lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ
chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính.
Giờ chúng ta sẽ nghiên cứu tới tác động của chính sách tài khóa tới vấn đề thâm hụt