Luận văn: "Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường giai đoạn từ năm 2000 đến nay tại Việt Nam" - Pdf 15



- 1 - Luận văn: "Chính sách lãi suất và tác động
của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị
trường giai đoạn từ năm 2000 đến nay tại
Việt Nam" - 2 -MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 03

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH

2. Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường Việt Nam
giai đoạn từ năm 2000 đến nay 14 - 4 -

3. Dự báo ảnh hưởng và thay đổi của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị
trường Việt Nam sau khi gia nhập WTO 17

CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI
SUẤT TRONG THỜI GIAN TỚI 18

I. GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VÀ KIỂM SOÁT LÃI SUẤT THỊ
TRƯỜNG TIỀN TỆ 18
1. Hoàn thiện cơ chế tự do hoá lãi suất bằng VNĐ 19
2. Nâng cao hiệu quả của các công cụ lãi suất 20

II. GIẢI PHÁP TẠO ĐIỀU KIỆN VÀ CƠ SỞ CHO VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT 22

III. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 22
1. Từ thất bại của Hàn Quốc từ năm 1988 23
2. Bài học đối với Việt Nam 24
- 5 -

KẾT LUẬN 25

và tác động của nó đến nền kinh tế, để từ đó cố gắng đưa ra những giải pháp và
những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công cuộc phát triển hệ thống tài
chính nói chung và cải cách chính sách lãi suất nói riêng.
Nội dung đề tài gồm ba phần: - 7 -

Chương I: Những vấn đề cơ bản về lãi suất và chính sách lãi suất.
Chương II: Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường tại
Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Chương III: Giải pháp để hoàn thiện chính sách lãi suất trong thời gian sắp tới.

CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI
SUẤT ĐẾN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG I. - 8 -

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT
VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT

tham gia. Do vậy, mỗi NHTM, TCTD muốn phát triển được hệ thống của mình đều
phải đưa ra được một mức lãi suất có khả năng cạnh tranh đối với các NHTM,
TCTD khác nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình.
Tính linh hoạt: Lãi suất tín dụng hình thành một cách linh hoạt, nhạy bén, thích
ứng với mọi hoàn cảnh, đối tượng. Sự thay đổi thường xuyên của chính sách tín
dụng phù hợp với sự biến đổi của cung, cầu về vốn vay, tỷ lệ lạm phát, thu chi
Ngân sách Nhà nước, yếu tố tâm lý của người đi vay và người cho vay trên thị
trường tài chính.

II. CÁC LOẠI HÌNH LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT - 10 -1. Các loại hình lãi suất:
Lãi suất có thể có nhiều cách phân chia khác nhau như phân loại theo nội tệ và
ngoại tệ, phân theo nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD, phân loại theo thời gian
hay phân loại theo nội dung kinh tế Ở đây, ta chia lãi suất trên thị trường theo các
nhân tố tác động thành 2 nhóm:
Lãi suất thị trường tự do, thay đổi do ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu
trên thị trường: Bao gồm lãi suất các loại tín phiếu kho bạc, tiền gửi, chứng chỉ
tiển gửi (L/C), lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng, lãi suất của các khoản tín
dụng ngắn hạn của các NHTM cho các doanh nghiệp vay, là mức lãi suất cao nhất
trên thị trường tiền tệ, lãi suất của các NHTM lớn áp dụng cho các doanh nghiệp có
uy tín là mức lãi suất thấp nhất trên thị trường này và thường gọi là lãi suất cho vay
cơ bản(Prime Rate Bank Loans).
Lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố: Được xác định dựa trên quan hệ
cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước xác định tuỳ thuộc vào
mục tiêu chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế vĩ mô… Bao gồm: lãi suất chiết


- 12 -

trường. Theo đó sẽ xoá bỏ những “dị biệt” trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam để
dần tiến tới hội nhập thị trường tín dụng Quốc tế.
Chính sách lãi suất ưu đãi: Chính sách lãi suất ưu đãi là chính sách dành cho
một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, gia đình chính sách với lãi suất thấp.
Việc thực hiện chính sách này làm người đi vay không hoặc ít chú ý đến hiệu quả
dẫn đến việc dùng vốn đổ vào những dự án không mấy hiệu quả.Điều đó không
giúp tăng trưởng vốn và phần lớn chính sách này lấy từ Ngân sách nhà nước.Các
đối tượng được vay vốn với lãi suất ưu đãi thường là những hộ nghèo,các khu vực
ở vùng sâu vùng xa, hải đảo, miền núi Việc vay vốn với lãi suất ưu đãi tuy tạo
điều kiện cho người vay, nhưng lại hạn chế phát triển thị trường vốn vay.

III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LÃI SUẤT

Trong các nền kinh tế thị trường, nhà nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều
tiết vĩ mô, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian. Các nước có nền
kinh tế thị trường chủ yếu theo đuổi chính sách tự do hoá tài chính, do vậy cơ chế
hình thành lãi suất chủ yếu dựa trên cơ chế thị trường. Đó là sự thay đổi về cung-
cầu của vốn vay ảnh hưởng tới sự hình thành và biến đổi lãi suất trên thị trường.
Cung về vốn vay bắt nguồn từ những người có thu nhập dôi ra mà họ muốn tiết
kiệm và cho vay kiếm lời, qua đó cho thấy rằng tiết kiệm là nguồn cung về vốn - 13 -

vay. Còn cầu về vốn vay bắt nguồn từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn
vay tiền để đầu tư, mua nhà đất hay xây dựng nhà máy Như vậy, đầu tư là nguồn
gốc làm phát sinh nhu cầu về vốn vay.

3. Thuế thu nhập
Thuế thu nhập luôn tác động đến lãi suất giống như khi thuế tác động đến giá cả
hàng hóa. Thông thường người ta quan tâm nhiều đến lợi nhuận sau thuế hơn là thu
nhập danh nghĩa. Nên khi thuế thu nhập tăng lên, nó làm giảm đi một phần thu
nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người
tham gia chứng khoán. Nghĩa là khi thuế thu nhập tăng, phần tiết kiệm của các cá
nhân và tổ chức sẽ giảm đi, do đó lượng tiền cho vay trên thị trường sẽ giảm đi.
Qua đó làm giảm cung về vốn vay, đường cung vốn vay dịch chuyển sang trái, lãi
suất tăng lên. Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm đi sẽ là nhân tố làm giảm lãi suất.
- 15 -

4. Ngân sách của chính phủ
Ta biết rằng :
Tiết kiệm quốc dân = Tiết kiệm tư nhân + Tiết kiệm Chính phủ.
Khi Chính phủ chi tiêu nhiều hơn thu nhập từ thuế, tình trạng thâm hụt ngân
sách làm giảm tiết kiệm quốc dân, cung về vốn vay giảm, đường cung vốn vay dịch
chuyển sang trái và làm tăng lãi suất cân bằng. Bên cạnh đó, Chính phủ bội chi
ngân sách như vậy sẽ tác động đến tâm lý dân chúng về sự gia tăng của lạm phát và
nó sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất.

5. Các yếu tó khác của đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất trên thị trường còn chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố về đời sống xã hội khác như: sự đa dạng của các công cụ
tài chính, sự thay đổi trong cơ cấu chứng khoán, sự phát triển của các thể chế tài
chính trung gian, hiệu suất sử dụng vốn trong các thời kỳ khác nhau do những thay
đổi trong công nghệ và sự phát triển mang tính chu kỳ của nền kinh tế, và cả các
biến động về kinh tế, chính trị, cũng ít nhiều ảnh hưởng đến lãi suất.


Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hay mở rộng đầu tư ở
ngành này.
Bên cạnh vai trò hướng dẫn điều hành nền kinh tế, lãi suất tín dụng còn đóng vai
trò tích cực trong kìm chế lạm phát. Tháng 3 năm 1989, Việt Nam chủ trương áp
dụng chế độ siêu lãi suất tiền gửi đã nhanh chóng đem lại kết quả là chặn đứng lạm
phát: từ 7% trong tháng 1; 9,2% trong tháng 2 đã giảm xuống 4,5% trong tháng 3;
3,5% trong tháng 4 và tiếp tục giảm trong những tháng sau. Điều này khẳng định
sức mạnh của công cụ lãi suất trong điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô dù có gây nên
hiệu ứng tiêu cực đến hoạt động kinh tế. Từ năm 1989 đến nay, chính sách lãi suất
luôn được sử dụng để điều chỉnh nền kinh tế ở Việt Nam. Sau khi đã kiềm chế và
giữ được lạm phát ở mức độ ổn định, Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện hạ thấp
dần khung lãi suất để khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh,khôi phục kinh tế.
Có thể nói chính sách lãi suất là một bộ phận của chính sách tiền tệ của nhà
nước nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, kích thích, điều tiết và hướng dẫn sản suất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Lãi suất cho vay được sử dụng để mở rộng cung
ứng tiền tệ, thu hẹp đầu tư và kiềm chế lạm phát.
Thực hiện vai trò đòn bẩy kinh tế, lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
mục tiêu kinh tế ở những giai đoạn khác nhau. Những ưu đãi về lãi suất, về điều
kiện cung ứng tín dụng và thanh toán là công cụ của nhà nước nhằm khuyến khích
các doanh nghiệp vào các loại sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển - 18 -

kinh tế. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nước chậm phát triển muốn có
những bước nhảy vọt để đi ngay vào công nghệ hiện đại trong thời đại hiện nay.
Như vậy, có thể coi lãi suất là công cụ trực tiếp của chính sác tiền tệ. Nó ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, từ đó đạt

Nếu hoàn trả nợ không đúng kì hạn, lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất đúng hạn
(bằng 1,5 lần lãi suất đúng hạn) điều này thúc đẩy các doanh nghiệp phải cố gắng
kinh doanh tốt, đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn. Hoạt động tài chính của ngân
hàng kinh doanh và TCTD là huy động vốn để cho vay. Khi huy động vốn, ngân
hàng phải trả lãi cho người gửi, khi cho vay sẽ thu lãi của người vay. Ngân hàng
phải tính toán mức lãi suất cho vay và đi vay hợp lý để bù đắp các khoản chi phí
nghiệp vụ và có lợi nhuận cho mình.
Mặt khác, lãi suất chính là công cụ để cạnh tranh giữa các TCTD.Thời gian gần
đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ khống chế “trần” tối đa về lãi suất cho vay
và mức độ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay nhằm đảm bảo các - 20 -

lợi ích cho người gửi, người vay và ngân hàng kinh doanh có khả năng bù đắp chi
phí và một phần rủi ro nếu có. Trong kinh tế thị trường, do yêu cầu của quy luật
cạnh tranh, mọi thành phần kinh tế đều có sự cạnh tranh quyết liệt vì sản phẩm tiêu
thụ, giá bán, phương thức phục vụ, dịch vụ bán hàng…. Đứng vững được trong quá
trình cạnh tranh đó là điều khồng đơn giản. Với phương châm “đi vay để cho vay”,
hoạt động huy động và sử dụng vốn của ngân hàng có liên quan chặt chẽ với nhau.
Vì vậy, các ngân hàng thương mại đều phải đổi mới phương thức phục vụ và huy
động vốn để huy động được vốn tối đa đồng thời cũng phải đẩy mạnh cho vay.
Ngoài ra, các TCTD khác cũng cần phấn đấu hạ thấp chi phí, tạo cơ sở hạ thấp lãi
suất”đầu ra” để thu hut được nhiều khách hàng đến mở tài khoản và vay vốn.

đối với vốn ngắn hạn và 0.5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn.
Lãi suất cho vay của các Ngân hàng luôn cao hơn mức lãi suất cơ bản nhưng
biến động theo lãi suất cơ bản. Trong năm 2000 và 2001, cả hai mức lãi suất này
đều giảm song lãi suất tiền gửi lại tăng lên trong thời gian này. Cạnh tranh giữa các
Ngân hàng làm giảm đi rõ rệt chệnh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Đến tháng 11/2001, lãi suất cho vay ngoại tệ được tự do hoá, cho phép người đi
vay có thể thương lượng lãi suất với Ngân hàng cho vay. Từ ngày 1/6/2002, NHNN
thay cơ chế điều hành lãi suất đồng Việt Nam thông qua lãi suất cơ bản và biên độ
bằng việc áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại
bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng. Theo đó, các TCTD xác định
lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ
tín nhiệm của khách hàng. NHNN không quy định biên độ lãi suất cho vay so với
lãi suất cơ bản nhưng vẫn tiếp tục công bố lãi suất cơ bản để làm tham khảo và định
hướng lãi suất thị trường. Có thể nói, đó là bước tiến quan trọng trong quá trình tự
do hóa lãi suất ở Việt Nam. Để định hướng lãi suất thị trường, từ tháng 3/2003,
NHNN đã bước đầu hình thành khung lãi suất với lãi suất tái cấp vốn được điều
chỉnh dần theo hướng làm lãi suất trần, lãi suất chiết khấu được quy định theo
hướng làm lãi suất sàn của thị trường liên ngân hàng; đồng thời áp dụng phân bổ
hạn mức chiết khấu. Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được điều hành linh hoạt
trong khung lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. - 23 -

Quá trình đổi mới kiểm soát lãi suất nền kinh tế từ cơ chế lãi suất trần sang cơ
chế lãi suất thỏa thuận (thực chất là tự do hóa lãi suất) là những bước đi rất thận
trọng và đến nay đã đạt được một số thành công nhất định.
Tuy nhiên, trong thực tế, các lãi suất do NHNN công bố chưa có tác động hiệu
quả đến lãi suất thị trường bởi các nguyên nhân chủ yếu sau: Thị trường tiền tệ liên
ngân hàng còn thấp kém, chưa phát triển, diễn biến lãi suất chưa phản ánh xác thực

(%/năm)
Lãi suất cho
vay thực tế
(%/năm)
Tỷ lệ
LSCVTT/TP
(%)
2001 9.0 0.8 8.2 1052.0
2002 9.2 4.0 5.2 130.0
2003 9.6 3.0 6.6 220.0
2004 10.0 9.5 0.5 5.2
2005 - - - -

Bảng 1: Tình hình lãi suất cho vay qua các năm(2001-2005).
- 25 -Năm
Lãi suất huy
động (%/năm)

Lạm phát
(%/năm)
Lãi suất huy
động thực tế
(%/năm)
Tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status