Tư tưởng đạo đức trong triết học khai sáng Pháp - Pdf 25


1

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TRIẾT HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC
TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP

Mã số: 60 22 80
Người thực hiện: Lƣơng Mỹ Vân
Người hướng dẫn: TS. Đỗ Minh Hợp

Hà Nội 07/2006

2


CHƢƠNG 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CỦA TƢ TƢỞNG
ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP 12
1.1. Điều kiện kinh tế – xã hội 13
1.2. Tiền đề khoa học và văn hóa 19
1.2.1. Sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học
thực nghiệm, sự đề cao lý tính 20
1.2.2. Thái độ đối với Nhà thờ và tôn giáo 23
1.3. Tiền đề tư tưởng – lý luận 27
1.3.1. Tư tưởng đạo đức thời kỳ Cổ đại 28
1.3.2. Tư tưởng đạo đức thời kỳ Phục hưng 32
1.3.3. Tư tưởng đạo đức thời kỳ Cận đại 35

CHƢƠNG 2. TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC
KHAI SÁNG PHÁP QUA NHỮNG CHỦ ĐỀ CƠ BẢN 40
2.1. Tự do 44
2.2. Tinh thần duy lý, “khai sáng” 52
2.3. Khoan dung 67
2.4. Mấy nhận xét bước đầu về tư tưởng đạo đức trong triết học Khai
sáng Pháp 75

Kết luận 80

Danh mục tài liệu tham khảo 82
4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

5
Lênin đã nói tới, sẽ tạo cho chúng ta những thuận lợi to lớn. Mà muốn làm
được như vậy, chúng tôi xin nhắc lại tư tưởng của Ăngghen: không có cách
nào khác là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học [tư tưởng] thời trước.
Lý do thứ hai để chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài về tư tưởng đạo
đức của triết học Khai sáng Pháp xuất phát trực tiếp từ bản thân giai đoạn lịch
sử này. Thời kỳ “Khai sáng” là thời kỳ chuẩn bị về mặt tư tưởng cho Đại cách
mạng tư sản Pháp 1789. Cùng với cuộc cách mạng này, hàng loạt các cuộc
cách mạng tư sản khác đã diễn ra trên khắp lãnh thổ châu Âu và thế giới, tạo
điều kiện cho chủ nghĩa tư bản lớn mạnh, trở thành một hệ thống thế giới.
Cho đến ngày nay, chủ nghĩa tư bản vẫn là một lực lượng mạnh, thống trị ở
hầu như toàn bộ các nước giàu và có thế lực nhất. Thực tế này là nguyên nhân
để chúng ta đi tìm nguồn gốc sức mạnh của nó. Và một trong những đích mà
ta đạt đến trong quá trình tìm kiếm ấy là nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa tư
bản vào thời kỳ đầu phát triển của nó. Nền tảng ấy chính là tư tưởng Khai
sáng, trong đó triết học Khai sáng Pháp đóng góp một phần đặc biệt quan
trọng: quan điểm về chính trị và đạo đức. Ngày nay, rất nhiều tư tưởng của
triết học Khai sáng Pháp đã hòa chung vào cấu trúc tư tưởng đặc trưng của
chủ nghĩa tư bản: quan điểm tự do, bình đẳng, lối sống thị dân, vấn đề giáo
dục, vấn đề quyền con người, v.v Có thể thấy chủ nghĩa tư bản hiện đại đã
kế thừa khá nhiều tư tưởng chính trị và đạo đức của thời kỳ Khai sáng Pháp.
Để hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa tư bản ấy, ngoài việc phân tích tình hình
kinh tế – xã hội của nó, còn cần xem xét cả những lĩnh vực tư tưởng của nó từ
gốc rễ. Đề tài của chúng tôi nhằm giải quyết một phần nhiệm vụ này.
Trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam hiện tại, việc nghiên cứu đạo đức và
lịch sử các tư tưởng đạo đức còn có một ý nghĩa đặc biệt cấp thiết. Sự đảo lộn
của các thang bậc giá trị, sự thay đổi và xuống cấp về mặt đạo đức trong một
bộ phận không nhỏ người dân, là những lý do để các vấn đề đạo đức ngày

6

của Nga, Pháp và Bắc Mĩ trong thời gian khoảng hai thế kỷ, XVII và XVIII.
Riêng đối với triết học Pháp, các tác giả đặc biệt đề cao triết học Khai sáng
của thế kỷ XVIII, coi đó là “sự chuẩn bị về tư tưởng cho cuộc Cách mạng tư
sản ở Pháp”. Các nhà triết học cùng với những quan điểm cơ bản của họ cũng
được xem xét và đánh giá khá đầy đủ. Mặc dù vậy, do mục đích chính của các
tác giả là nghiên cứu tổng quát về triết học Pháp thế kỷ XVIII, với nội dung
bao trùm là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật chiến đấu của phái Bách
khoa và những khuynh hướng dân chủ tiến bộ với chủ nghĩa duy tâm, những
quan điểm bảo hoàng phong kiến, nên các tư tưởng đạo đức hầu như ít được
đề cập đến.
Lịch sử văn học phương Tây, tập 1, Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), nhà xuất
bản Giáo dục xuất bản năm 1963. Trong lời nói đầu, các tác giả cũng đã nói
rõ phần văn học Pháp được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn các trào lưu văn
học khác, do chỗ các tác phẩm văn học Pháp đã được dịch và giới thiệu ở Việt
Nam nhiều hơn. Mặc dù viết về lịch sử văn học, nhưng bởi trong thời kỳ Khai
sáng Pháp, nhà văn và nhà triết học là một, nên các nhà nghiên cứu Việt Nam
cũng đã làm rõ những tư tưởng chủ đạo chi phối thời kỳ văn chương đó và tư
tưởng riêng biệt của các đại biểu văn chương Pháp – tất cả đều là triết gia tiêu
biểu (Voltaire, Diderot và Rousseau). Khi xem xét các tác phẩm cụ thể của
họ, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã xem xét cả khía cạnh đạo đức (bởi trong
văn chương, cái đẹp đích thực bao giờ cũng gắn liền với cái chân và cái
thiện). Công trình này do đó rất có ích đối với chúng tôi.
Về trước tác của chính các nhà tư tưởng Khai sáng Pháp, cho đến nay chỉ
có thể kể đến Candide, chàng ngây thơ của Voltaire do dịch giả Tế Xuyên
dịch, xuất bản tại Sài Gòn năm 1974 và hai tác phẩm mới được phát hành gần
đây Bàn về khế ước xã hội của Rousseau và Bàn về tinh thần pháp luật của

8
Montesquieu, cả hai đều do dịch giả Hoàng Thanh Đạm dịch, Nhà xuất bản
Lý luận chính trị phát hành năm 2004. Trong Lời giới thiệu, Hoàng Thanh

của ý thức xã hội như chính trị, pháp lý, nghệ thuật và qua đó xác định
“những đặc trưng khái quát của đạo đức trên bình diện triết học” [2, tr.9]. Đây
là một trong những sách tham khảo có giá trị, mặc dù do mục đích của nó –
“thử trình bày một hệ thống đạo đức học mácxít”, – tác giả đã không đề cập
đến lịch sử những tư tưởng đạo đức của nhân loại.
Ngoài ra, viện Triết học đã từng tổ chức tập hợp, biên soạn và xuất bản
(trong năm 1972) tác phẩm Bàn về đạo đức của các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cũng được quan tâm
nghiên cứu và năm 1993 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã phát hành tác
phẩm Về đạo đức, tập hợp những bài viết và bài nói của Hồ Chí Minh về vấn
đề này. Đó là những tác phẩm tra cứu hữu dụng, góp phần đưa chúng ta tiếp
cận những tư tưởng của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về đạo đức
thông qua tác phẩm gốc của các ông.
Như vậy, có thể thấy mặc dù hiện nay số lượng tài liệu về đạo đức học
không phải ít, nhưng những công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử tư
tưởng đạo đức của mỗi thời kỳ trong lịch sử nhân loại vẫn hầu như vắng bóng
ở Việt Nam.
Trên thế giới, việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức đã được bắt đầu từ rất
sớm. Do những hạn chế của tác giả, luận văn chỉ xin tập trung vào mảng tài
liệu tiếng Pháp về đề tài này.
Ngay từ thế kỷ XIX, ở Pháp đã xuất hiện tác phẩm viết về lịch sử đạo
đức của thời kỳ Khai sáng – tác phẩm Những bài giảng về lịch sử triết học
đạo đức thế kỷ XVIII – của Victor Cousin, nhà duy linh luận nổi tiếng. Tuy
nhiên, theo Lucien Sève, trong Triết học hiện đại Pháp và nguồn gốc của nó

10
từ năm 1789 đến nay, thì triết học của thế kỷ XVIII, triết học Khai sáng, đã bị
những nhà duy linh luận (như V.Cousin) và những tác giả của trào lưu “triết
học của giáo hội Thiên chúa” gạt bỏ không thương tiếc, vì những lý do chính
trị sâu xa. Đến thế kỷ XX, triết học Pháp tập trung phát triển những trường

Những nhà Khai sáng, tập trích tư tưởng của những nhà Khai sáng của
François Icher, Nhà xuất bản Martinière, Paris 2004, gần như một sự phổ biến
thêm một lần nữa những tư tưởng Khai sáng cho các thế hệ hiện nay.
Trào lưu Khai sáng là gì? – Jean-Michel Muglioni dịch và phân tích tác
phẩm nổi tiếng của Kant về trào lưu Khai sáng, xuất bản năm 2005.
Riêng về tư tưởng đạo đức của trào lưu Khai sáng, người ta có thể tìm
thấy trong công trình đồ sộ của một tập thể rộng lớn các nhà nghiên cứu nổi
tiếng của Pháp: Từ điển đạo đức học và triết học đạo đức, do Monique Canto-
Sperber chủ biên, xuất bản năm 1996, tái bản năm 2001 ở Paris. Với hơn
1700 trang in và hơn 400 mục từ – mỗi mục từ giống như một bài nghiên cứu
hoàn chỉnh, nội dung phong phú của nó đã đem lại rất nhiều thuận lợi cho
chúng tôi khi triển khai đề tài này.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên, ở những phương diện khác
nhau, đều có những đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu trào lưu tư tưởng
Khai sáng. Nhưng không có công trình nào trong số đó đề cập đến tư tưởng
đạo đức của trào lưu đó như một đối tượng nghiên cứu chủ đạo. Mặt khác, do
những điều kiện hạn chế, chúng tôi không có được những tư liệu tiếng nước
ngoài bàn trực tiếp về vấn đề kể trên. Trong tình hình đó, chúng tôi mong
muốn luận văn của mình có thể đem lại một cái nhìn cụ thể và bao quát, góp
phần làm sáng tỏ một lĩnh vực của giai đoạn tư tưởng quan trọng này.
12
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức của triết học Khai sáng
Pháp, qua đó rút ra những kết luận khái quát về tư tưởng đạo đức trong thời
kỳ đầu hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Nhiệm vụ:
- Phân tích bối cảnh lịch sử – xã hội của thời kỳ Khai sáng Pháp và

một mảng đề tài đang còn mỏng ở Việt Nam.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 7 tiết. 14
CHƢƠNG 1

nước của cuộc Cách mạng tư sản đầu tiên trong lịch sử, diễn ra vào năm
1579) và Anh quốc (đất nước của Cách mạng tư sản 1642-1688), thì đến thế
kỷ XVIII, trung tâm của những cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại
những giai cấp và tầng lớp đặc quyền đặc lợi đã chuyển sang nước Pháp. Đây
chính là thời kỳ mà Ăngghen đã nhắc tới, thời kỳ “nước Pháp đã đập tan chế
độ phong kiến và thiết lập nền thống trị thuần túy của giai cấp tư sản dưới một
dạng cổ điển mà không một nước nào khác ở châu Âu đạt được” [28, tr.384].
Sự kiện nổi bật nhất diễn ra trên nước Pháp trong thế kỷ XVIII, có ý
nghĩa không chỉ trong phạm vi châu Âu mà còn mang tính chất một chuyển
biến lịch sử căn bản, là cuộc Cách mạng tư sản 1789. Để cuộc đại cách mạng
này bùng nổ, trong suốt thế kỷ XVIII đã diễn ra những thay đổi làm lung lay
tận gốc tất cả những nền tảng xã hội cũ ở Pháp. Và tất cả những chuyển biến
dữ dội đó đã ghi những dấu ấn sắc nét lên đời sống tư tưởng, trong đó có lĩnh
vực tư tưởng đạo đức.

1.1. Điều kiện kinh tế – xã hội
Trong suốt thế kỷ XVIII, nước Pháp là nước phát triển thứ hai ở châu
Âu, chỉ sau nước Anh, nhưng vẫn là một nước nông nghiệp với 90% dân số
(trên tổng số 25 triệu người) là nông dân. Hơn nữa, Pháp lại là nước có nền
nông nghiệp lạc hậu hơn nhiều so với Anh quốc. Các phương thức canh tác cũ
kỹ, công cụ sản xuất cổ xưa, năng suất đặc biệt thấp, nạn mất mùa xảy ra
thường xuyên. Thế kỷ XVIII ở Pháp đã xảy ra 16 nạn đói trên phạm vi toàn
quốc, mà theo như lời tác giả Những cấu trúc sinh hoạt thường ngày thì
“những số liệu này lập vào thế kỷ XVIII, tất nhiên là đã được nêu lên với tất
cả sự dè dặt, chỉ có nguy cơ là hơi lạc quan vì đã bỏ qua hàng trăm và hàng

16
trăm trận đói từng vùng” [3, tr.54]. Chúng ta biết rằng nước Pháp ở vào khu
vực mà khí hậu và đất đai thuộc loại thuận lợi nhất ở Tây Âu cho sự phát triển
nông nghiệp.

Xã hội Pháp thế kỷ XVIII chia thành ba đẳng cấp. Đó là những đẳng cấp
tăng lữ, quý tộc và “đẳng cấp thứ ba”. Tăng lữ và quý tộc là những đẳng cấp
đặc quyền đặc lợi. Tăng lữ - giáo hội, giáo sĩ, người nắm quyền về đời sống
tinh thần, “nắm phần hồn”, của xã hội. Quý tộc - giới quyền chức tập hợp
quanh nhà vua và địa chủ quý tộc ở các vùng, nắm quyền chính trị thực tế.
Đẳng cấp thứ ba bao gồm toàn bộ thành phần dân cư còn lại: tư sản, nông
dân, người bình dân (plèbe), là đẳng cấp thấp nhất, không có một chút quyền
lực nào, không có được tiếng nói nào trong việc định đoạt đường hướng phát
triển của xã hội - xã hội mà trong đó họ chiếm đa số (khoảng 99% dân cư).
Trong nội bộ các đẳng cấp không có tính đồng nhất. Điều này thể hiện
ngay ở các đẳng cấp đặc quyền. Trong giới tăng lữ, có sự phân biệt giữa tăng
lữ cấp cao – hồng y, các giám mục, những chức sắc tôn giáo xuất thân đại quý
tộc – và tăng lữ “cấp thấp” – các cha xứ, những thầy trợ tế ở các giáo khu
nông thôn. Tầng lớp “cấp thấp” này gần gũi với nhân dân, đặc biệt là với
nông dân, và cũng bị tầng lớp “cấp cao” chèn ép, nên trong những cuộc đấu
tranh vì dân chủ do giai cấp tư sản khởi xướng, người ta cũng thấy những
giáo sĩ “cấp thấp” trong hàng ngũ đấu tranh, ở những hình thức trực tiếp hoặc
gián tiếp. Điển hình của tầng lớp tăng lữ “cấp thấp” trong việc phản kháng lại
chính đẳng cấp tăng lữ, là mục sư Jean Meslier (1664-1729)
2
. Trong giới quý
tộc, sự không đồng nhất thể hiện rõ ràng hơn. Quý tộc cung đình và quý tộc
nông thôn, quý tộc cung kiếm (dòng dõi kỳ cựu) và quý tộc áo dài (xuất thân

2
Jean Meslier là mục sư giáo xứ Êtrêpinhi, vùng Ácđen, sống trong thầm lặng và chết không tên tuổi, nhưng
để lại một tác phẩm - Di chúc - trong đó thể hiện phản ứng dữ dội đối với giáo hội và mang tính duy vật, vô
thần rõ nét.

18

lượng lớn, hoặc là tìm ra đủ thứ thuế khóa để trói buộc họ. Mâu thuẫn giữa
giai cấp tư sản và các đẳng cấp đặc quyền lúc đó đã trở thành thứ mâu thuẫn
đối kháng không thể không giải quyết, và nó đã bùng nổ thành Cách mạng tư
sản 1789. Hơn nữa, do các đẳng cấp đặc quyền không chỉ bóc lột giai cấp tư
sản, mà ách thống trị của chúng còn buộc lên cổ tất cả mọi giai cấp và tầng
lớp thuộc đẳng cấp thứ ba, nên lẽ tất nhiên là khi giai cấp tư sản đứng lên
chống lại giai cấp địa chủ phong kiến và đẳng cấp tăng lữ, những giai cấp và
tầng lớp khác của đẳng cấp thứ ba đã tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của họ.
Giai cấp tư sản được nhận thức – và tự nhận thức – với tư cách người đại diện
cho quyền lợi của toàn bộ đẳng cấp thứ ba, cũng có nghĩa là người đại diện
cho quyền lợi của đại đa số quần chúng nhân dân trong xã hội. Về vấn đề này,
Mác đã nhận xét rất xác đáng rằng: “Tính chất tiêu cực phổ biến của giới quý
tộc Pháp và của giới thầy tu Pháp đã là điều kiện của tính chất tích cực phổ
biến của giai cấp gần chúng nhất và đối lập với chúng nhất: giai cấp tư sản”
[27, tr.31].
“Tính chất tích cực phổ biến” của giai cấp tư sản Pháp thế kỷ XVIII
được nhận thức rộng rãi không chỉ trong giới trí thức tư sản mà ở cả những
người có xuất thân ngoài tư sản. Trong những nhà tư tưởng tiêu biểu và được
xếp vào trào lưu Khai sáng, chỉ có một số ít là trí thức tư sản, và người vừa là
nhà tư tưởng kiệt xuất vừa là một tư sản thành đạt và giàu có thì chỉ có một –
Voltaire. Các nhà tư tưởng tiêu biểu của trào lưu Khai sáng phần nhiều là quý
tộc và có quan hệ mật thiết với giới tăng lữ (Montesquieu, Holbach là quý tộc
dòng dõi, d’Alembert là con của quý tộc nhưng được nhà thờ nuôi dưỡng,
Bayle, Condillac, La Mettrie đều xuất thân từ giới chức tôn giáo). Trong số
những nhà Khai sáng nổi tiếng, chỉ có một người xuất thân đẳng cấp thứ ba và
không phải là tư sản: Rousseau. Điều này nói lên rằng chiều hướng phát triển

20
của lịch sử đã được giới trí thức nắm bắt rất nhanh chóng, cho dù họ có nguồn
gốc xuất thân khác nhau. Mặc dù tất cả các nhà Khai sáng tiêu biểu đều ra đi

đấu tranh chung chống lại phong kiến mà giai cấp tư sản phát động.
Như vậy, trong suốt thế kỷ XVIII, ở Pháp đã diễn ra những chuyển biến
to lớn trong đời sống xã hội. Những phương thức sản xuất cũ và mới đan xen
nhau, những tầng lớp xã hội ngày càng cố kết và phân tách rõ nét, những mâu
thuẫn xã hội ngày một gay gắt cho đến lúc bùng nổ. Cách mạng 1789 diễn ra
như là kết cục không tránh khỏi của những mâu thuẫn ấy, như là đòi hỏi “giải
quyết mâu thuẫn” của sự phát triển lịch sử. Tất cả những đảo lộn trong đời
sống được phản ánh vào các trào lưu tư tưởng, trong đó có tư tưởng đạo đức -
vốn là một hình thái ý thức xã hội ít chịu tác động trực tiếp của các sự kiện
lịch sử. Nhìn nhận một cách tổng quát, có thể thấy những biến động mạnh mẽ
trong suốt thế kỷ XVIII của xã hội Pháp đã tạo ra những hệ quả về mặt đạo
đức: lý tưởng đạo đức phong kiến được gây dựng bền vững trong nhiều thế kỷ
dần dần bị hạ thấp và hoài nghi; ở các nhà Khai sáng, lý tưởng ấy còn bị phê
phán mạnh mẽ. Trong khi đó, cùng với đà phát triển của chủ nghĩa tư bản,
chuẩn mực đạo đức tư sản dần dần trở thành phổ biến. Quan điểm về tự do,
dân chủ, bình đẳng, v.v., hoàn toàn đối lập với những chuẩn mực phong kiến,
được thừa nhận và ngày càng có được sự đồng tình rộng rãi.

1.2. Tiền đề khoa học và văn hóa
Chúng tôi muốn đề cập đến đời sống tinh thần của thế kỷ XVIII ở Pháp.
Bối cảnh đó đóng vai trò nền tảng tinh thần trên đó các nhà Khai sáng xây
dựng những quan điểm về đạo đức của họ. Có thể thấy, về mặt này, thế kỷ
XVIII được khắc họa bởi hai đặc trưng nổi bật: 1) sự phát triển của khoa học

22
tự nhiên, khoa học thực nghiệm và cùng với nó là sự đề cao lý tính; 2) những
đổi thay trong thái độ đối với Nhà thờ và tôn giáo.

1.2.1. Sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm,
sự đề cao lý tính

tục có những phát triển mới. Cùng với sự tiến triển tiếp theo của toán học và
cơ học, sinh học và hóa học đã có những phát hiện lớn đầu tiên. Những khoa
học khác như địa chất học, tâm lý học bắt đầu hình thành.
Ở thế kỷ XVIII, không thể nói đến “khoa học cơ bản” và “khoa học ứng
dụng” với nghĩa hiện đại. Nhưng rõ ràng là những khoa học thực nghiệm và
những nghiên cứu khoa học tự nhiên trong rất nhiều trường hợp chịu sự thúc
đẩy của nhu cầu thực tế và được gợi ý từ những hoạt động thực tiễn, để rồi
sau đó tiếp tục phục vụ cho sự tiến bộ của những hoạt động khai thác tự
nhiên. Các tác giả của Văn minh phương Tây đã nêu ra hàng loạt dẫn chứng:
“Các thợ thủy tinh đã chế ra những kính giúp khoa học thiên văn và sinh vật
học tiến rất xa; những thợ mỏ cuối thời Trung cổ khởi đầu tiến trình đưa đến
địa chất học, khoáng chất học và nhiều môn “địa học” khác; và cũng chính
những người này, vì cần bơm nước từ hầm mỏ ra, đã khởi đầu những suy luận
đưa đến việc phát minh máy hơi nước; những người Hà Lan tiên phong trong
nghề bảo hiểm, là một nghề đặc biệt của thời hiện đại, bắt đầu nghiên cứu hy
vọng sống lâu của con người và đã giúp nhiều cho khoa thống kê ngày nay”
[4, tr.430]. Không thể phủ nhận việc cách mạng công nghiệp Anh diễn ra vào
thế kỷ này đã được thúc đẩy hết sức mạnh mẽ do những cải tiến kỹ thuật xuất
phát từ những nguyên lý khoa học đã được phổ biến và trở thành nền tảng của
phong cách tư duy của thời đại.

24
Như vậy, không chỉ ở Pháp mà trên toàn châu Âu, vai trò của khoa học
tự nhiên và khoa học thực nghiệm ngày càng được đề cao. Từ đó dẫn đến tính
chất duy lý, duy khoa học trong phong cách tư duy của các nhà khoa học và
các nhà triết học. Ở đây chúng ta nên nhìn nhận vấn đề một cách lịch sử – cụ
thể: khuynh hướng duy khoa học trong các nhà khoa học của thời kỳ Khai
sáng không thể coi một cách đơn giản là một hạn chế, là sự bỏ qua hay lãng
quên những thành tố khác của tồn tại người, mà phải được nhìn nhận như đặc
điểm của thời đại đó – nghĩa là bất kỳ nhà khoa học, nhà triết học nào ở vào

. Nền tảng tư
tưởng, thế giới quan mang tính cơ giới luận, tự nhiên chủ nghĩa và duy lý chủ
nghĩa đã có ảnh hưởng rất mạnh đến quan điểm về đạo đức của các nhà Khai
sáng Pháp thế kỷ XVIII. Những luận điểm về nhu cầu tự nhiên, những lời kêu
gọi quay trở lại bản tính tự nhiên sẵn có của con người, sự đề cao giáo dục,
khai sáng, v.v., đều hình thành dưới tầm ảnh hưởng của thế giới quan này. Xét
đến cùng, đó chính là kết quả của sự phát triển khoa học tự nhiên và khoa học
thực nghiệm và của chủ nghĩa duy lý (nghĩa rộng) trong lịch sử.

1.2.2. Thái độ đối với Nhà thờ và tôn giáo
Đây là một trong những tiền đề quan trọng của sự hình thành và phát
triển quan niệm đạo đức của các nhà Khai sáng Pháp. Thái độ đối với Nhà thờ
và tôn giáo, hay nói đúng hơn là sự thay đổi trong thái độ đối với Nhà thờ và
tôn giáo, được chúng tôi xem xét với tư cách một tinh thần chung của thời đại
mà các nhà Khai sáng là đại biểu. Thái độ ấy không chỉ có vai trò như một
nền tảng trên đó nảy sinh những quan niệm đạo đức, mà trong thực tế nó còn
có tác động lớn đến những lĩnh vực khác của đời sống tinh thần của thời đại.

3
Nguyên văn:
“Con người chỉ là một cây sậy, vật yếu nhất của tự nhiên. Nhưng đó lại là cây sậy có tư duy. Toàn bộ vũ
trụ chẳng cần phải cầm vũ khí để nghiền nát nó. Một làn hơi, một giọt nước đủ để giết chết con người. Nhưng
ngay khi vũ trụ đã nghiền nát nó rồi, con người vẫn còn cao quý hơn cái đã giết chết nó, bởi lẽ nó biết là nó
chết và thắng lợi mà vũ trụ có được đối với nó thì vũ trụ chẳng hay biết gì.
Vậy là toàn bộ phẩm giá của chúng ta là nằm ở tư duy” [35, tr.421].

Trích đoạn Khoan dung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status