MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phép biện chứng là một khoa học triết học, xét trên nhiều phương diện,
nó là một hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học.
Chúng ta biết đến Hêghen (1770 - 1831) - một nhà triết học lỗi lạc người Đức
và triết học của Hêghen thì phép biện chứng lại giữ vị trí là linh hồn. Chúng ta
biết đến học thuyết triết học của chủ nghĩa Mác, thì V.I Lênin - một nhà kinh
điển chủ nghĩa Mác đã nói: Phép biện chứng duy vật là linh hồn của chủ
nghĩa Mác. Hay như Hồ Chí Minh sau này đã từng đánh giá “Chủ nghĩa Mác
có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng”.[3, 198] Như vậy, phép biện
chứng là mảng vấn đề có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong triết học. Lịch sử
phép biện chứng hình thành và phát triển từ khi triết học ra đời, mà đỉnh cao
của nó là phép biện chứng mácxít.
Ph.Ăngghen đã từng định nghĩa phép biện chứng là khoa học “về
những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài người và của tư duy” [8, 201]. Nội dung và phạm vi đi đến của phép
biện chứng là rất sâu và rộng. Nó là chìa khoá vàng để giúp con người nhận
thức và chinh phục thế giới. Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng đã
chứng minh rằng: khi nào chúng ta nắm vững lý luận biện chứng, biết vận
dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh cụ thể thì vai trò, hiệu lực cải tạo tự
nhiên được tăng cường. Ngược lại cách nghĩ cách làm chủ quan duy ý chí sẽ
dẫn đến sai lầm, gây tổn thương cho cách mạng và xã hội nói chung.
Nghiên cứu lịch sử phép biện chứng không thể bỏ qua những tư tưởng
biện chứng sơ khai thời cổ đại. Như ở trong cùng một dòng chảy, những
thành tựu phép biện chứng mà chúng ta có được ngày nay là kết quả tất yếu
1
của sự phát triển tư tưởng biện chứng liên tục từ thời cổ đại qua thời phục
hưng, cho đến thời cận đại.
Thời kỳ ra đời của triết học cổ đại và những tư tưởng biện chứng sơ
khai gắn liền với sự ra đời của các nhà nước chiếm hữu nô lệ trong lịch sử,
khi xã hội đã có sự phân hoá giai cấp rõ rệt, khi lao động chân tay và lao động
nghĩa Mác đã có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá sâu sắc vai trò ý
nghĩa của tư tưởng biện chứng Hy Lạp cổ đại. Ph.Ăngghen trong “Biện chứng
của tự nhiên” và “Chống Đuyrinh” đã bàn khá nhiều về triết học Hy Lạp cổ
đại trong đó cả phép biện chứng. V.I.Lênin trong “Bút ký triết học” và “Chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” đã có những nhận xét và
đánh giá về triết học Hy Lạp cổ đại một cách sâu sắc trên quan điểm duy vật
biện chứng. Cũng trong tác phẩm “Bút ký triết học” V.I.Lênin đã trực tiếp nói
đến phép biện chứng của Hêraclít.
Công trình quan trọng số một khi nghiên cứu lịch sử biện chứng, đó là
bộ sách “Lịch sử phép biện chứng” (6 tập) của Viện Hàn Lâm khoa học Liên
Xô, đã trình bày một cách có hệ thống các yếu tố cơ bản và hoàn cảnh ra đời
của phép biện chứng của từng thời đại. Tập 1 của bộ sách nói đến phép biện
chứng cổ đại qua tất cả các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tiêu biểu.
Trong “ Câu chuyện triết học” của Bryan Magee (người dịch Huỳnh
Phan Anh - Mai Sơn) đã nói đến những giai thoại, câu chuyện cực kỳ hấp dẫn
và lý thú về các nhà triết học, qua đó cũng làm nổi bật những tư tưởng quan
trọng của các nhà triết học. Cuốn sách như là ngưỡng cửa đầu tiên để bước
vào thế giới triết học.
Trong “Lịch sử triết học Phương Tây” của Nguyễn Tiến Dũng, tác giả
đã trình bày một cách hết sức cô đọng những quan điểm triết học và những tư
3
tưởng nổi bật của các nhà triết học. Cuốn sách cũng là nguồn tư liệu phong
phú giúp người học tiếp cận triết học một cách hiệu quả nhất.
Trong tác phẩm “Lịch sử triết học Hy - La Cổ đại” (2 tập) của Nguyễn
Quan Thông và Tống Văn Chung đã hệ thống hoá triết học Hy Lạp - La Mã
Cổ đại qua các giai đoạn phát triển. Cuốn sách cũng trình bày khá chi tiết các
quan điểm triết học của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại của các trường phái
triết học, qua đó người học có thể so sánh đối chiếu quan điểm triết học của
các nhà triết học, của các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại.
Cuốn “Lịch sử triết học” của Nguyễn Hữu Vui, tác giả cũng đã trình
- Cơ sở lý luận của đề tài:
Là các nguyên lý, quy luật, các cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy
vật biện chứng cho việc nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Là quán triệt các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, kết hợp với
các phương pháp đối chiếu và so sánh; phương pháp logíc và phương pháp
lịch sử.
5. Đóng góp của đề tài
Cũng như mục đích của đề tài đã đặt ra thì đề tài cũng muốn làm rõ tư
tưởng biện chứng trong triết học Hêraclít.
Đề tài cũng nêu ra những quan điểm đánh giá của các nhà nghiên cứu
về Hêraclít.
Đề tài cũng là một nguồn tài liệu giúp ích cho việc học tập và tìm hiểu
triết học của các bạn sinh viên.
5
6. Kết cấu của khoá luận
Khoá luận ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu
tham thảo, Nội dung được kết cấu thành hai chương (4 tiết).
6
Chương 1
PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ LỊCH SỬ PHÉP BIỆN
CHỨNG HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1. Khái niệm phép biện chứng và nguồn gốc của phép biện chứng.
Phép biện chứng là một khoa học triết học, Ph.Ăngghen đã từng định
nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”[5, 319].
Phép biện chứng ra đời cùng sự ra đời của triết học, phép biện chứng có một
quá trình phát triển lâu dài trước khi đạt đến khái niệm khoa học.
Ở Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng đã có trong triết học của hầu hết các
hình thức cơ bản sau:
Phép biện chứng tự phát ngây thơ; gắn liền với hình thức đầu tiên của
phép biện chứng là nền triết học Hy Lạp cổ đại. Đó là phép biện chứng dựa
trên sự cảm thụ trực tiếp thế giới vật chất xung quanh. Phép biện chứng đó
chưa phải là một hệ thống lý luận, quan điểm về phép biện chứng. Hình thức
đầu tiên này của phép biện chứng mang tính tự phát, bởi vì các nhà triết học
biện chứng Hy Lạp cổ đại nghiên cứu tự nhiên chỉ nhằm cốt sao cho vẽ được
bức tranh chung về thế giới và chỉ ra được nguồn gốc của nó chứ không có
chủ định nghiên cứu phép biện chứng. Phép biện chứng trong triết học Hy
Lạp cổ đại chỉ là những yếu tố biện chứng lẻ tẻ, rời rạc, chưa thành một hệ
thống, quy luật, phạm trù, tức là chưa trở thành một hệ thống lý luận nhận
thức, do đó vai trò nhận thức và cải tạo thế giới của nó còn có nhiều hạn chế.
Đồng thời với tính tự phát thì phép biện chứng Hy Lạp cổ đại còn mang tính
8
ngây thơ, hầu hết những quan điểm biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại đều mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở kinh nghiệm trực giác.
Các yếu tố khoa học kỹ thuật lúc này còn ở trình độ kém phát triển, do đó
những suy luận, phỏng đoán của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại chưa có cơ
sở được chứng minh bằng khoa học. Nhận xét về triết học và phép biện chứng
Hy Lạp cổ đại. Ph.Ăngghen khẳng định: “Hình thức thứ nhất là triết học Hy
Lạp. Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác
tự nhiên, chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu” và “nếu về chi tiết,
chủ nghĩa siêu hình đúng hơn so với những người Hy Lạp, thì về toàn thể thì
những người Hy Lạp lại đúng hơn so với chủ nghĩa siêu hình”.[5, 305].
Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức: đây là “hình thức
thứ hai” của phép biện chứng. Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ
điển Đức được khởi đầu từ Cantơ, qua Phíchtơ, Senlinh và phát triển đến đỉnh
cao trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Nếu phép biện chứng cổ đại
chủ yếu được đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày thì phép biện
chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã trở thành một hệ thống lý luận
phương pháp trước đó. Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả
của sự nghiên cứu tự nhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người. Mỗi nguyên
lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được khái quát và luận giải
trên cơ sở khoa học. phép biện chứng duy vật thực sự là chiếc chìa khoá vàng
trong việc nhận thức thế giới và cải tạo thế gới. Đánh giá về vai trò của phép
biện chứng duy vật như Mác từng nói: “Các nhà triết học trước kia chỉ có thể
giải thích thế giới theo cách này hay cách khác song vấn đề lại là cải tạo thế
giới”[7, 2].
10
Như vậy, lịch sử phép biện chứng là một quá trình lịch sử lâu dài, phát
triển từ những hình thức sơ khai, ngây thơ, tự phát cho đến hoàn thiện nhất,
đầy đủ nhất ở phép biện chứng duy vật. Ngoài ba hình thức cơ bản nêu trên
còn có phép biện chứng của các nhà tư tưởng xã hội dân chủ Nga. Song ở đây
chỉ nêu lên ba hình thức cơ bản như đã nêu trên để bạn đọc cũng có thể hình
dung được lịch sử phát triển phép biện chứng.
1.2. Hoàn cảnh lịch sử ra đời cho sự phát triển phép biện chứng Hy
Lạp cổ đại
Vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, những người Hy Lạp cổ
đại định cư trên vùng đất: người Đôrien định cư ở phía Nam bán đảo
Pêlôpône, đảo Creti và một số đảo khác nhỏ ở phía nam Êgiê; người Iônien
định cư ở vùng đồng bằng Áttích, đảo Ơbê và những vùng đất ven bờ phía
Tây Tiểu Á; người Akeen chủ yếu định cư ở miền trung Hy Lạp; người
Êôlien ở phía Bắc Hy Lạp, một số đảo trên biển Êgiê và vùng vên bờ biển
Tiểu Á đã cùng nhau xây dựng nên lịch sử các quốc gia ở thành thị Hy Lạp cổ
đại. Những tộc người cư trú trên bốn vùng đất này có cùng chung nguồn gốc,
cùng chung ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục, tập quán. Họ tự coi
mình là con cháu của thần Hêlen và gọi quốc gia của họ là Hêllas - tức là Hy
Lạp.
Vùng đất Hy Lạp cổ đại trước kia rộng lớn hơn rất nhiều so với ngày
nay với cấu trúc địa hình phức tạp, phong phú gồm phần đất liền cùng vô số
quan trọng giúp cho người Hy Lạp thoát khỏi kinh tế tự nhiên để tham gia vào
các quan hệ vật chất. Sự phát triển của công thương nghiệp đã tạo ra một tầng
lớp chủ nô mới. Tầng lớp giàu có vốn không phải chủ nô mới này ngày càng
khẳng định được địa vị của mình trong các nhà nước thành thị Hy Lạp. Việc
12
của cải, nô lệ nắm trong tay tầng lớp chủ nô mới này đã thúc đẩy chế độ tư
hữu tài sản phát triển nhanh chóng. Việc sử dụng các công cụ bằng sắt trong
sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp thoát khỏi sản xuất
nông nghiệp. Nghề thủ công phát triển cao trên quy mô lớn ở các thành phố
Hy Lạp cổ đại. Giữa thành phố và nông thôn có một sự đối lập gay gắt.
Sự phát triển của nhiều thành phố Hy Lạp cổ đại còn do quan hệ buôn
bán diễn ra ở những trung tâm lớn. Các thành phố Hy Lạp cổ đại trở thành các
trung tâm buôn bán và sản xuất hàng hoá hết sức sôi động, điều đó được minh
chứng bởi sự xuất hiện đồng tiền vào thế kỷ VII trước công nguyên. Điều đó
dẫn đến quan hệ trao đổi ngày càng gia tăng, như Mác nói - quan hệ vật chất
giữa các cá nhân mà địa vị xã hội của họ được xác định bằng các tài sản của
họ. Kinh tế phát triển, phân công lao động diễn ra sâu sắc là một trong những
nhân tố quan trọng dẫn đến sự tan rã của nền kinh tế tự nhiên mà cùng với nó
là những quan hệ huyết thống trong cộng đồng thị tộc ngày càng được thay
thế bởi chế độ tư hữu với vai trò của cá nhân ngày càng lớn khi họ tham gia
vào các quan hệ vật chất.
Về mặt xã hội: Ở Hy Lạp cổ đại sự phân hoá giai cấp của xã hội nô lệ
đã hình thành, đồng thời những mâu thuẫn giai cấp cũng xuất hiện. Mâu thuẫn
giữa giai cấp chủ nô và nô lệ nảy sinh và phát triển cùng với sự phát triển của
quan hệ nô lệ. Thời đại Hôme đã để lại một tầng lớp đông đảo bao gồm: tiểu
nông, các thành viên tự do của công xã nông thôn và đối đầu với nó là tầng
lớp quý tộc dòng dõi bao gồm các chủ điền lớn, các nhà quý tộc. Cơ cấu xã
hội đó đã trở nên phức tạp hơn nhiều trong điều kiện nhà nước - thành bang.
Sản xuất thủ công nghiệp, buôn bán, cuộc sống đô thị đã có ảnh hưởng mang
tính phá huỷ nông thôn. Những người nông dân đã bị phá sản đã bổ sung cho
14
trú của họ. Những cải cách đó đã xoá bỏ hoàn toàn những tàn tích cuối cùng
của xã hội thị tộc, xoá bỏ hẳn những ảnh hưởng chính trị của giai cấp quý tộc
thị tộc, đồng thời dẫn đến sự cải tổ lại các cơ quan quyền lực trong bộ máy
nhà nước Aten. Nét đặc trưng nhất của cả Aten và liên minh thành bang Aten
là sự thống trị của tầng lớp dân tự do, đó là đại bộ phận dân đem lại tính chất
phong phú, độc đáo của nền văn hoá Hy Lạp cổ đại. Một trong những nguyên
nhân quyết định sự hưng thịnh của nền văn hoá này là mức độ tách biệt cao
của lao động trí óc khỏi lao động chân tay. Điều này có được nhờ sự tách rời
thủ công nghiệp khỏi nông nghiệp với vai trò ngày một tăng của lao động nô
lệ - những người phải gánh vác một khối lượng công việc cơ bắp nặng nề
nhất. Các nhà khoa học đã xuất hiện từ tầng lớp thị dân khá giả, tầng lớp
thương gia, chính khách…
Về mặt tổ chức xã hội: Nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại với
những đặc trưng của mình được tổ chức theo lối thành bang (pônit). Đó là kết
quă của sự phát triển lực lượng xản xuất và sự phân hoá xã hội. Lịch sử Hy
Lạp cổ đại là lịch sử của những thành bang. Mỗi thành bang là một nhà nước
độc lập bao gồm một trung tâm đô thị với nhiều nhà cửa, công trình kiến trúc,
chợ búa, đền thờ, là trung tâm kinh tế chính trị văn hoá khoa học thương mại
được bao bọc bởi vùng nông thôn rộng lớn. Các thành bang phát triển sản
xuất nông nghiệp, có thành bang phát triển công - thương nghiệp. Trong đó
phải kể đến hai thành bang lớn là thành bang Aten và thành bang Spác.
Thành bang Aten nằm trên đồng bằng Áttích thuộc trung bộ Hy Lạp.
Trong thành bang có nhiều hải cảng lớn thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế
thông thương mậu dịch. Nhờ vậy quan hệ hàng hoá, tiền tệ ở đây phát triển
sớm và nhanh. Đây là cơ sở kinh tế làm xuất hiện ngày càng nhiều lao động
trí óc. Họ điều xuất thân từ giai cấp chủ nô giàu có với điều kiện học hành tốt
có thể đi giao lưu học hỏi, nghiên cứu ở các nước và trong khu vực. Vì thế
15
Aten trở thành một trung tâm văn hoá của Hy Lạp cổ đại và là cái nôi của triết
hoàng đế Philíp Maxêđônia chinh phục, kết thúc nền chính trị thành bang và
phân tranh của Hy Lạp.
Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, Hy Lạp bị đế quốc La Mã chinh
phục. Nhưng với nền văn hoá phát triển rực rỡ thì Hy Lạp đã chinh phục La
Mã về văn hoá. Chính vì vậy, đây là thời kỳ được gọi là thời kỳ Hy Lạp hoá.
Với vị trí địa lý thuận lợi và sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự mở
rộng giao lưu buôn bán với các nước khác đã tạo điều kiện cho người Hy Lạp
trao đổi giao lưu văn hoá, tạo điều kiện hình thành các giá trị văn hoá đặc
trưng trên cơ sở tiếp thu và phát triển sáng tạo những giá trị của các nền văn
hoá khác. Minh chứng điển hình cho điều này là sự xuất hiện chữ viết ở Hy
Lạp cổ đại vào khoảng thiên niên kỷ I trước công nguyên trên cơ sở tiếp thu
và cải tạo chữ viết người Phiniki. So với chữ tượng hình của Ai Cập và chữ
tiết hình của Lưỡng Hà phải sử dụng đến hàng trăm ký tự và hình vẽ phức tạp
thì chữ viết Hy Lạp chỉ sử dụng 24 chữ cái mà với cách ghép linh hoạt, mọi
kết quả của tư duy đều được biểu đạt trên mặt giấy. Chữ viết ra đời thể hiện
trình độ tư duy cao của người Hy Lạp mà thông qua nó, người Hy Lạp đã để
lại cho thế giới một di sản văn hoá vô cùng phong phú, trong đó phải kể đến
thần thoại.
Trong kho tàng văn hoá cổ đại, thần thoại Hy Lạp là một đỉnh cao xán
lạn. Ngay từ khi mới xuất hiện, thần thoại Hy Lạp không chỉ là nguồn cảm
hứng bất tận cho văn học, thơ ca, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc… mà còn trở
thành cội nguồn lý luận cho sự hình thành tư tưởng biện chứng trong triết học
Hy Lạp cổ đại.
17
Có thể thấy rằng thần thoại Hy Lạp là sự đối thoại đầu tiên về tính
hoang tưởng của con người với tự nhiên. Bị vây bọc trong sức mạnh của tự
nhiên, quyền lực của xúc cảm và trí tưởng tượng, thần thoại là phương tiện để
người Hy Lạp lý giải những mơ hồ về thế giới sự vật hiện tượng. Với nhiều
dân tộc thần thoại chỉ được coi là những câu chuyện cổ tích, là sự tưởng
tượng ngây thơ về một cái gì đó không có thực. Còn đối với người Hy Lạp cổ
bản nguyên đầu tiên của thế giới là lửa, các sự vật và lửa luôn chuyển hoá cho
nhau mà cơ sở của sự thống nhất các sự vật là ở ngọn lửa. Nước của Talét,
hay lửa của Hêraclít cũng mang những yếu tố phát sinh, sinh thành như
Khaôx đẻ ra các vị thần. Ở Hêraclít sự thống nhất (hài hoà) và đấu tranh của
các mặt đối lập cũng một phần lấy cảm hứng từ các cuộc đấu tranh của các vị
thần trong thần thoại.
Như vậy có thể nói thần thoại đã phản ánh thành công những nguyện
vọng của nhân dân, cũng như cuộc sống lao động và đấu tranh của người Hy
Lạp cổ đại. Đối với triết học Hy Lạp thì thần thoại là một yếu tố quan trọng
dẫn đến sự hình thành, mối quan hệ giữa thần thoại và triết học Hy Lạp cổ đại
là mối liên hệ phát sinh: “Mối liên hệ mang tính phát sinh này của triết học
Hy Lạp cổ đại với thần thoại thể hiện ở sự thống nhất phương pháp nhìn nhận
thế giới, phương pháp mang tính quyết định đối với các quan niệm thần thoại
đã trở thành một trong những phương pháp cơ bản trong các hệ thống triết
học - vũ trụ luận”[21,79 - 80].
Khoa học cũng là một yếu tố quan trong cho việc hình thành tư tưởng
biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng và nền triết học Hy Lạp
nói chung. Khoa học được phát triển mạnh mẽ trên cả hai phương diện: Tự
nhiên và xã hội, đặc biệt là khoa học tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu buôn
19
bán, vượt biển và những cuộc chinh phục của người Hy Lạp đến các vùng đất
mới. Hy Lạp là quê hương của nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã
hội, là nơi đã nảy sinh ra những phát minh vĩ đại về toán học, thiên văn học,
địa lý, hệ thống đo lường, lịch pháp… Những giá trị của khoa học Hy Lạp cổ
đại đã góp phần to lớn vào kho tàng tri thức của nhân loại. Khoa học Hy Lạp
cổ đại là nền tảng vững chắc để châu Âu đạt được những thành quả như ngày
nay.
Triết học Hy Lạp cùng với những thành tựu của nó có vai trò vô cùng
quan trọng đối với Châu Âu nói riêng và nhân loại nói chung. Hy Lạp là quê
hương của các triết gia lớn với những tư tưởng vĩ đại. Từ Talét, triết học đã ra
chết đi mà trong vòng tuần hoàn sinh sinh hoá hoá liên tục đó, mọi sự vật hiện
tượng trong thế giới thống nhất ở chỗ chúng được sinh ra từ nước.
Quan niệm nước là khởi nguyên của thế giới, một lẽ đương nhiên theo
Talét không chỉ có nước đang chảy trong sông ngòi mà nó hiện diện ở khắp
nơi, nó là một chất hoà tan luôn chảy đi nói chung, trong đó mọi thứ đều bị
tan ra và từ đó mọi thứ hình thành, chất cứng lắng xuống trong nước, chất nhẹ
bốc hơi lên từ đó.
Tư tưởng này của Talét tiếp tục được phát triển ở Anaximen khi ông
cho rằng khởi nguyên của thế giới là không khí, sự xuất hiện của vô số các vật
thể và sự quay lại khởi nguyên đầu tiên của chúng là quá trình cô đặc và làm
loãng ra của không khí.
Nếu ở Talét yếu tố trực tiếp và cảm tính chiếm ưu thế thì ở
Anaximenđrơ, tư tưởng về thế giới và sự thống nhất của thế giới được phát
triển một cách trừu tượng hơn. Anaximenđrơ cho nguồn gốc và cơ sở của mọi
21
sự vật là Apâyrôn - một cái không xác định vô hạn cả về đại lượng lẫn thuộc
tính, không thể chuyển hoá thành một khởi nguyên nào khác, là thứ mà từ đó
trong quá trình phát triển các mặt đối lập được tách ra: nóng - lạnh, khô -
ướt… Khởi nguyên ướt sẽ dẫn tới sự hình thành đất và cùng với khởi nguyên
nóng, nó quy định sự xuất hiện của sự sống.
Trong quan điểm về thế giới, Anaximenđrơ đã đưa ra một luận điểm
cho thấy sự phát triển vượt bậc về tư duy của ông - đó là sự lý giải về quá
trình không thuận nghịch và qua đó vấn đề khởi nguyên và kết thúc tồn tại
của vũ trụ.Ông đặt ra vấn đề: lẽ nào sự phát triển lại bắt đầu sau một trạng
thái bất động, đình trệ rất lâu và ngược lại, lẽ nào thời điểm đình trệ hoàn toàn
lại có thể bắt đầu sau một quá trình kéo dài? Từ vấn đề này Anaximenđrơ đã
đi đến một kết luận là phải thừa nhận sự thay thế lẫn nhau một cách bất tận
của sự xuất hiện và phân huỷ.
Trong sự giải thích về nguồn gốc của sự sống, Anaximenđrơ đã có
những phỏng đoán thiên tài. Ông cho rằng sự sống của con người nảy sinh
qua các trạng thái đối lập và chuyển hoá thành các mặt đối lập với nó. Ông
đưa ra sự giải thích: cùng một thứ ở trong ta như thức và ngủ, trẻ và già, vì
sau khi biến đổi cái này thành cái kia và ngược lại.
Thứ ba, đấu tranh của các mặt đối lập không chỉ là sự đối lập mà còn là
sự liên hệ thống nhất giữa các mặt đối lập, là điều kiện của tồn tại.
Hêraclít còn được mọi người biết nhiều đến bởi học thuyết dòng chảy
phổ biến (vận động là phổ biến) của ông. Ông đưa ra mệnh đề “người ta
không thể hai lần tắm trên một dòng sông”. Từ sự quan sát trực quan là sự
23
vận động chảy của dòng sông ông đã đi đến khẳng định mọi thứ “đều trôi đi,
đều chảy đi” như dòng sông.
Đại biểu tiêu biểu cho lập trường duy vật Hy Lạp cổ đại đó là
Đêmôcrít. Đêmôcrít cho rằng khởi nguyên của vũ trụ là từ các nguyên tử, thế
giới với sự đa dạng của nó được cấu thành từ sự đa dạng của các nguyên tử,
sự kết hợp của các nguyên tử. Sự khác nhau của các vật thể là do sự kết hợp
của các nguyên tử theo một trật tự nhất định.
Đêmôcrít khác với các nhà triết học thuộc trường phái Êlê khi ông thừa
nhận sự tồn tại của khoảng không (tức không tồn tại). Ông khẳng định:
“Không tồn tại hiện có chẳng kém gì so với tồn tại”.[15, 74] Cả hai (cái tồn
tại và không tồn tại) đều là nguyên nhân của vật chất, thậm chí không tồn tại
còn là điều kiện cho sự vận động của các nguyên tử.
Đêmôcrít là đại biểu tiêu biểu cho chủ nghĩa duy vật ở Hy Lạp cổ đại.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại có hai lập trường đối lập nhau: duy vật và duy
tâm trong triết học. Hai lập trường đó được đại diện bởi hai nhà triết học tiêu
biểu. Đó là Đêmôcrít (lập trường duy vật) và Platôn (lập trường duy tâm).
Trên cơ sở trình bày tóm lược phép biện chứng trong triết học Hy Lạp
cổ đại. Chúng ta có thể khái quát đặc điểm của phép biện chứng duy vật Hy
Lạp cổ đại.
Đặc điểm cơ bản và xuyên suốt trong phép biện chứng Hy Lạp cổ đại
đó là tính ngây thơ, tự phát. Tự phát vì các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên
thoại. Như Talét mặc dù xem nước là khởi nguyên của mọi thứ, song do hạn
chế của khoa học lúc bấy giờ nên ông đã viện đến thần linh khi không giải
thích được từ tính của nam châm và hổ phách cho rằng sở dĩ vạn vật vận động
được là nhờ các thần linh.
25