Tư duy biện chứng trong triết học phật giáo và ảnh hưởng của nó đến tư duy của con người việt nam - Pdf 34

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài với những biến động và
thăng trầm của riêng mình. Gắn liền với nó là sự ảnh hưởng của rất nhiều các
trường phái triết học khác nhau đã du nhập, đã được chọn lọc và áp dụng trong
cách sống, cách tư duy của người Việt Nam chúng ta. Và không thể phủ nhận
rằng trong hàng loạt các tư tưởng triết học đó, Việt Nam nói riêng và Đông Nam
Á cũng như Châu Á nói chung đã bị ảnh hưởng khác sâu sắc và rõ rệt bởi mảng
triết học phật giáo. Tất nhiên khi du nhập vào một đất nước, một quốc gia hay
một dân tộc thì triết học phật giáo nói riêng cũng như các loại triết học khác đều
có những biến chuyển để phù hợp và mang đậm dấu ấn riêng của các quốc gia
đó. Cùng bị ảnh hưởng bởi triết học phật giáo nhưng tại sao người ta không bao
giờ đồng quy Việt Nam với các vương quốc phật giáo khác như Thái Lan,
Campuchia hay Mianma…? Có lẽ câu trả lời nằm trong chính nhận thức của

1


mỗi một cá nhân mang dòng máu Việt Nam, cũng như chính bản thân những
người viết bài nghiên cứu này. Chúng ta có những tư duy riêng của mình, có
những cảm thụ cũng như cách chắt lọc riêng về những lý luận hay tri thức mà
triết học phật giáo mang lại cho chúng ta. Đến với Việt Nam, những người nước
ngoài không bao giờ quên được những hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình,
những cánh đồng sen tỏa ngát hương thơm, hay cong cong mái chùa nghi ngút
khói hương, hay thân tình hơn là cách mà con người Việt Nam đối xử với nhau
và với xã hội. Vậy triết học phật giáo đã đến, đã ảnh hưởng và đã biến đổi như
thế nào ở Việt Nam là vấn đề mà chúng tôi muốn tìm hiểu và phân tích dưới góc
độ cảm nhận của cá nhân mình. Nhưng có lẽ triết học phật giáo với hàng chục
các vấn đề mang trong mình sẽ làm cho một bài nghiên cứu nhóm sẽ trở nên
phức tạp và không bao quát hết được các khía cạnh. Vì thế với bài nghiên cứu

về về thế giới và con người trong đó luận giải về các vấn đề sinh ra, tồn tại và
biến mất:
+ Con người nằm trong vòng sinh lão bệnh tử, quan niệm về con người
trong vòng luân hồi số kiếp và giải thoát.
+ Thế giới vô thường - vô tại, hiện tại này là nguyên nhân dẫn đến những
cái khác.
- Tư duy biện chứng thể hiện rõ nhất và trung tâm nhất là ở thuyết vô ngãvô thường và luật nhân quả.
+ Luật nhân-quả: Triết học phật giáo đề cao tính tự thân sinh thành, biến
đổi của vạn vật, không do sự chi phối quyết định của một lực lượng thần linh
hay thượng đế tối cao nào. Trái lại vạn vật đều tuân theo tính tất định và phổ
biến của luật nhân-quả. Điều này được quán triệt trong việc lý giải những vấn đề
của cuộc sống nhân sinh như: Hạnh phúc, đau khổ, giàu nghèo, thọ,yểu…
+ Thuyết vô ngã-vô thường: Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật
giáo đặc biệt thể hiện rõ qua việc luận chứng về tính chất “vô ngã” và “vô
thường” của vạn vật.
2. Thuyết vô ngã-vô thường
Phạm trù “vô ngã” bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vụ trụ vốn
không có tính thường hằng nó chỉ là sự “giả hợp” do sự hội đủ nhân duyên nên
thành ra “có” (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua
cũng là do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hội hợp lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác),
tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức). Theo cách phân loại khác-“lục
tại”: Địa (chất khoảng), thuỷ (chất nước), hoả (nhiệt năng), phong (hơi thở),
không (khoảng trống) và thức (ý thức). Nói một cách tổng quát thì vạn vật chỉ là
sự “hội hợp” của hai loại yếu tố là vật chất “sắc” và tinh thần “danh”. Như vậy
thì không có cái gọi là “tôi” (vô ngã).
Phạm trù “vô thường” gắn liền với phạm trù “vô ngã”. Vô thường nghĩa là
vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt…(hay:

4


5


khác mà không còn nguyên vẹn như ban đầu chúng ta đang có cảm thọ là đám
mây kia vẫn ở vị trí cũ.
Tóm lại: Ngay từ đầu triết học phật giáo đã giả quyết các vấn đề một cách
biện chứng và duy vật. TH phật giáo đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các
đấng tối cao, của thượng đế và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan
và không do vị thần nào sáng tạo ra cả. Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng
trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn hình thức của vạn vật trong vận động,
nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào.Và có
thể nói qua thuyết vô ngã vô thường người ta nhận ra thế giới quan trong triết
học phật giáo hay nói cách khác là cách nhìn nhận thế giới của triết học phật
giáo. Đó là một thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng và triết học phật
giáo đã nhìn nhận thế giới trong sự hình thành, tồn tại, phát triển và biến mất.
Hay nói một cách khác triết học phật giáo đã nhìn nhận sự tồn tại thế giới trong
sự phức tạp của nó.
3. Luật nhân quả
Luật nhân quả được hiểu một cách thông thường như sau: cái nhân nhờ có
cái duyên mới sinh ra được mà thành quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân
khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới … Cứ thế nối nhau vô
cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài, cứ sinh sinh, hóa hóa mãi. Tất cả
vạn vật đều tuân theo luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá
ấy là thường còn(vĩnh viễn).
Do quy luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng,
thành, trụ, hoại, diệt( sinh thành, biến đổi, tồn tại và diệt vong). Qúa trình đó phổ
biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự
vật hiện tượng. Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của
vạn vật đã xây dựng nên thuyết nhân duyên. Trong thuyết nhân duyên có ba khái
niệm cơ bản là Nhân, Quả, Duyên:

- Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Chính trong Nhân hiện tại đã
hàm chứa cái Quả vị lai; cũng chính trong Quả hiện tại đã có hình bóng của
Nhân quá khứ. Một sự vật ta gọi là Nhân, là khi nó chưa biến chuyển, hình
thành ra cái Quả. Một vật đều có Nhân và Quả; đối với quá khứ nó là Quả,
7


nhưng đối với tương lai nó là Nhân. Nhân và Quả đấp đổi nhau, tiếp nối nhau
không bao giờ dứt. Nhờ sự liên tục ấy, mà trong một hoàn cảnh nào, người ta
cũng có thể đoán biết quá khứ và tương lai của một sự vật hay một người. - Sự
biến chuyển từ Nhân đến Quả có khi mau, khi chậm, chứ không phải bao giờ
diễn tiến trong một thời gian đồng đều. Có những Nhân và Quả xảy ra kế tiếp
nhau, Nhân vừa phát thì Quả xuất hiện, như khi ta vừa đánh xuống mặt trống
(nhân) thì âm thanh phát ra (quả). Nhiều khi Nhân gây rồi, nhưng phải đợi một
thời gian mới hình thành. Cái thời gian ấy phức tạp vô chừng. Như gieo hạt lúa
phải cần thời gian vài ba tháng. Có khi từ Nhân đến Quả hàng chục năm, như từ
khi đi học (nhân) đến lúc thành tài (quả). Có khi từ Nhân đến Quả phải đợi một
vài trăm năm hay hơn nữạ Điều nầy vượt qua mức sự kiểm soát của một kiếp
người nên có kẻ không tin luật Nhân Quả
Nhân Quả nơi con người: Nói đến con người thì có nhiều phương diện
nào vật chất, như con người do cha mẹ sanh ra (nhân) rồi hoàn cảnh cuộc sống
(duyên). Về phương diện tinh thần thì có tư tưởng tốt và xấu. Nói một cách tổng
quát dù vật chất hay tinh thần, hễ gieo nhân nào thì gặt quả nấỵ
Về thời gian thì Nhân trước, Quả sau. Nhân Quả tồn tại trong diễn biến
trước sau nối nhau, trong sự hòa hợp liên quan đến nhau. Có nguyên nhân thì tất
có kết quả, có kết quả thì tất có nguyên nhân. Mọi sự vật đều biến đổi sinh diệt
theo phép Nhân quả. Luật nhân quả là lý luận cơ bản mà triết học phật giáo dùng
để giải thích mối quan hệ tương hỗ của mọi sự vật.
4. Nhân sinh quan trong triết học phật giáo
Quan điểm về triết lý nhân sinh, ở phương Đông đã kết luận bản tính tự

nếu tất cả mọi người đều hiểu được sinh tử là quy luật tự nhiên thì họ sẽ sống
tích cực hơn và ra sức đóng góp cho đời nhiều hơn.

9


PHẦN II: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT
HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN TƯ DUY CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1 Ảnh hưởng của tư duy biện chứng trong phật giáo đến tư duy người
Việt Nam
Hơn tất cả các học thuyết khác của phương đông, Phật giáo chú ý đến mặt
phát triển tự nhiên của con người,đó là sinh, lão, bệnh, tử. Bốn chặng đó của
cuộc đời đã nói lên sự phát triển tất yếu của con người mà nếu ai đó nhận thức
được sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời thậm chí sống lạc quan bình
thản trước cái chết. Nhiều nhà sư trong Lý – Trần đã có quan niệm như thế.
Phật giáo đã đề cập đến vấn đề ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng,thành, thức là
những vấn đề có ý thức luận sâu xa. Tuy đối tượng đó là tâm và tính chất là duy
tâm nhưng trong quá trình ngũ uẩn chứa đựng một quá trình nhận thức hợp lý;
Từ sự vật khánh quan (Sắc), Con người cảm thụ được (Thụ), Suy nghĩ (Tưởng),
Rồi đem hiện (Hành), và cuối cùng là biết (Thức). Ở đây nếu đem bóc cái thần
bí ra ta thấy có những hạt nhân hợp lý.
Phật giáo đã đưa vào hệ tư tưởng Việt Nam những qua niêm biện chứng
với các khái niệm ‘vô thường’, ‘vô ngã’ Cho thấy phật giáo nhìn sự vật trong sự
vận động biến đổi liên tục không có gì là trụ lại mãi, không có ai là tồn tại
mãi.Tuy nhận thức đó chỉ nhìn thấy cái biến đổi mà không nhìn thấy cái ổn định
tương đối, chỉ thấy được cái vận động mà không thấy được của cái hình thức
vận động sẽ đi đến chiều hướng bi quan buông xuôi nhưng mặt khác phải thấy
nhận thức được như vậy là cũng có chiều sâu, là thấy được phương diện cơ bản
của sự phát triển sự vật.
Phật giáo đề cập đến mối nhân duyên đến mối quan hệ nhân quả, đến việc

tư duy vừa là công việc khẩn thiết vừa là công việc thường xuyên từng giờ,
từng phút với mỗi Phật tử. Chính vì quan tâm cứu vớt con người trước bất công
đau khổ nên người Việt đã tiếp thu và nhiệt tình ủng hộ đạo Phật.

11


Đạo hiếu là nền tảng đạo đức của người dân việt và chịu ảnh hưởng trực
tiếp của phật giáo. Đạo hiếu là truyền thống quý báu của dân tộc ta, là bản chất
người Việt Nam từ xa xưa. Tập tục của người Việt Nam thể hiện tinh thần hiếu
đạo qua việc thờ cúng tổ tiên trong mọi gia đình, mà chúng ta thường gọi là đạo
ông bà. Có thể nói, báo hiếu này là điểm tựa tinh thần cững chắc và cũng là nền
tảng đạo đức của dân tộc ta và nó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những lơi răn dạy
của Thế Tôn, của Phật giáo : “Tâm hiếu là tâm Phật, Hạnh hiếu là hạnh Phật”.
2.1.2. Chính tri
Phật giáo ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt của Văn hóa- Xã hội của đất
nước, Từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần cho đến ngày nay, trải qua nhiều thăng trầm
trong lịch sử nhưng Phật giáo vẫn có sức ảnh hưởng tới chính trị Việt Nam, tới
các nhà nước của Việt Nam.
Dưới hai triều Đinh và Lê, các nhà vua của hai triều này đều coi trọng
Phật giáo, nhiều nhà Sư đã trở thành cố vấn cho các ông vua về đường lối đối
nội và đối ngoại. Nhà chùa đã thực sự trở thành nơi hun đúc lòng yêu nước, một
trung tâm của ý thức và niềm tin vào độc lập dân tộc, có sức ảnh hưởng rộng
khắp trong dân gian. Tuy nhiên, Các vua Đinh – Tiền Lê chưa thực sự áp dụng
việc trị nước dựa vào tư tưởng từ bi, hỷ xả của đức Phật.
Sang thời Lý, nhận thấy tư tưởng và giáo lý của đạo Phật có nhiều điểm
phù hợp với việc trị quốc trong thời bình nên các vua nhà Lý coi trọng tăng đoàn
– một phần vì mến đạo nhưng cũng một phần vì lý do chính trị. Nhờ vào học
vấn và tài lực của chư tăng Phật tử thời Lý mà Đại Việt ổn định về chính trị và
phát triển hơn các thời trước về văn hóa xã hội. Không chỉ giữ vai trò ổn định hệ

hội nhập hiện nay là một cơ hội tuyệt vời cho khái niệm “Tri hành hợp nhất” của
Phật giáo có thể nói ngay bây giờ, rất cần những ngọn lửa bùng cao, tỏa rộng và
đồng thời liên tục mở ra các cuộc hội thảo quốc tế như thế này để nhân tài
hướng về, có vậy thì vượn khí của quốc gia mới hội tụ và vận hành theo chiều
hướng phát triển. Chính vì vậy triết học phật giáo cần phải phát triển, cập nhật
để luôn trở thành người bạn đồng hành tuyệt vời của chính phủ.
2.1.3. Văn hóa

13


Có thể thấy, đạo Phật ảnh hưởng rất lớn tới văn hóa của chúng ta. Đạo
Phật du nhập vào Việt Nam kết hợp với văn hóa bản địa đã tạo nên sự riêng biệt,
khác biệt so với giáo lý đạo Phật gốc. Chúng ta có thể thấy rất rõ điều này qua
ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, … Qua nhiều thế hệ, các tác phẩm dân gian đều
được truyền thụ cho thế hệ sau, thế hệ trước luôn dạy thế hệ sau phải ăn ở hiền
lành, chăm chỉ làm việc, phải biết yêu thương con người, luôn luôn ghi nhớ
nguồn gốc của mình…Đây chính là sự thể hiện khác đi của tư tưởng phật giáo
về sự tư bi, hỷ xả, về quy luật nhân quả. Dù trải qua hàng ngàn năm lịch sử, bị
đô hộ, bị chiến tranh, những tư tưởng biện chứng trong phật giáo vẫn phát triển
và ảnh hưởng lớn tới nước ta, là một giáo lý truyền thống mà mọi nhà, mọi
người đem ra để nghiền ngẫm, để truyền dạy cho con cháu mình: “lá lành đùm
lá rách”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”.
Đó là cách cư xử đầy yêu thương nhân ái giữa người với người, nhắc nhở con
người phải luôn làm việc thiện, nghĩ điều thiện có như thế mới có thể nhận được
những điều tốt đẹp. Nếu làm điều ác, nghĩ điều ác thì không chỉ mình mà con cái
mình cũng chỉ nhận được những điều xấu, điều gở.
Bên cạnh lối sống tốt đẹp, Phật giáo còn để lại những kiến trúc đẹp mang
hồn dân tộc, in đậm dấu ấn của từng thời kỳ: Đó là những ngôi chùa, mái đình
cổ. Kiến trúc của những ngôi chùa, ngôi đình của các thời rất khác nhau, nhưng

quan trọng đối với sự sống chúng ta. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt
thì cái kia diệt. Con người trong từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày, nhờ
hít thở không khí mà sống, nếu thiếu không khí thì vạn vật đều bị hủy diệt.
Không khí trong lành, con người sống khỏe mạnh trường thọ. Không khí ô
nhiễm, con người bị đau yếu, bệnh tật, chết yểu. Không khí, cảnh vật tạo nên
môi trường sống. Vì vậy, môi trường chung quanh rất quan trọng trong đời sống
con người.
Hiện nay, nhân loại đang phải chịu đựng những biến chuyển bất thường
tai hại do chính con người tạo ra làm hủy diệt môi trường, ô nhiễm môi sinh,
chặt phá cây cối, đốt rừng làm rẫy, khai thác cây gỗ, đất đá, nước ngầm một
cách bừa bãi mà hậu quả là lũ lụt, hạn hán, sóng thần, động đất đe dọa đời sống
của nhân loại.
15


Người Phật tử ý thức điều này, từ xưa đến nay thích sống với thiên nhiên,
coi trọng thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên để tạo một cuộc sống tốt, hòa nhập
với thiên nhiên trong mọi sinh hoạt để nâng cao đời sống tâm linh, hướng
thượng và thánh thiện.
Ngày xưa, các vị vua chúa thỉnh thoảng tổ chức những cuộc tuần du, săn
bắn, mục đích săn thú thì ít mà dã ngoại để sống với thiên nhiên thì nhiều.
Người ta lúc về già hay lo nghĩ đến hậu sự cho mình, các vua chúa cũng tìm
trước cho mình nơi để xây lăng tẩm, mộ phần ở những nơi có núi, sông, cảnh trí
thiên nhiên thơ mộng.
Trong cuộc sống văn minh hiện nay, con người đang quan tâm, đang nỗ
lực bồi đắp trả lại những gì đã cướp mất của thiên nhiên nhưng không thấm vào
đâu so với những gì mà con người đã phá hoại. Song, có còn hơn không; nơi nào
còn và có thì cố gắng bảo tồn, nơi nào chưa hay không có cũng tìm cách tạo nên
cho có. Các công viên trong thành phố, các bồn hoa được chăm sóc chu đáo,
chính là để giảm bớt sự nặng nề, khô khan của nhà đúc, nhà xây, đường nhựa

Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt Đại Sư, nhà sư được quyền tham gia bàn luận
triều chính.
Ngay từ khi Pháp đặt chân xâm lược Nam Bộ, nhiều ngôi chùa được lập
ra để làm cơ sở tập hợp lực lượng kháng chiến chống Pháp như: chùa Tam Bửu
lập năm 1872 ở Ba Chúc, An Giang, do nhà sư Ngô Văn Lợi khởi xướng. Chùa
Long Khánh ở Gia Định là một cơ sở hội kín, nhà sư Đoàn Văn Huyên khởi
xướng Phật giáo Bửu Sơn Kì Hương mưu việc chống Pháp.
Khi đất nước bước vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng lãnh
đạo thì những ngôi chùa trên cả nước, với tính chất là những cơ sở tôn giáo,
được ở “ngoài vòng pháp luật” nên đã trở thành những cơ sở cách mạng, nhiều
nhà sư có lòng yêu nước đã giúp đỡ che chở cho những cán bộ cách mạng. Chùa
Đồng Kị ở Tiên Du- Bắc Ninh đã là nơi diễn ra Hội nghị ban thường vụ TW
Đảng họp bàn, ra nghị quyết “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Theo số liêu thống kê của Ủy ban TW giáo hội Phật giáo Việt Nam
(1997) trong cả nước ta có 392 ngôi chùa là di tích lịch sử cách mạng, có một bà

17


mẹ Việt Nam anh hùng là nhà sư, 3 liệt sĩ là nhà sư, và nhiều nhà sư tham gia
cách mạng.
Ngày nay giáo hội Phật giáo Việt Nam là một thành viên trong Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Phật giáo có đại biểu trong Quốc hội. Với khẩu hiệu hành
động của người tu hành Phật giáo là “Đạo pháp, dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” đã
làm cho Phật giáo ngày nay gắn liền với đời, làm cho Phật giáo vẫn hòa được
vào việc tăng cường văn hóa chính trị xã hội ở nước ta.
2.2.3. Hội nhập kinh tế thế giới
Đạo Phật du nhập vào nước ta đến nay đã trải qua khoảng 2000 năm lịch
sử. Hiện nay, Phật giáo Việt nam đang đứng trước một trào lưu mới, đó là trào
lưu đất nước đang bước vào ngưỡng cửa hội nhập và phát triển trong xu hướng

chuyển tải tiếng nói của Phật giáo đến khắp mọi nơi. Tuy đã tạo được sự quan
tâm, chú ý của nhiều đối tượng trong xã hội, góp phần đáng kể vào việc truyền
trì và hoằng dương chánh pháp. Song những vấn đề ấy chỉ thuộc phạm vi cá
nhân, chỉ theo xu hướng cảm hứng và tự phát, mà chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo
xuyên suốt. Cho nên, Giáo hội cần quan tâm đặc biệt và hợp thành một khối
thống nhất, có sự hoạt động đồng bộ và hợp thức hóa theo đúng định hướng hoạt
động của Giáo hội.
Đất nước Việt Nam có phát triển thế nào cũng không đi ngược lại với
truyền thống văn hóa dân tộc. Và Phật giáo Việt Nam có hội nhập ra sao cũng
không ngoài tinh thần giáo điển giác ngộ, giải thoát của đức thế Tôn. Tinh thần
nhập thế của Phật giáo qua bao thời đại đã luôn đi cùng dân tộc, được ví như
nước hòa với sữa. Dẫu có lúc thăng trầm, mỗi nơi mỗi khác, nhưng tính gắn bó
keo sơn của Phật giáo với dân tộc đã rút ra cho chúng ta một bài học quý báu vô
cùng. Đất nước đang chuyển mình trong sự hội nhập và phát triển trên mọi lãnh
vực của xã hội, chúng ta có quyền hy vọng một ngày nào đó, Phật giáo và dân
tộc sẽ tìm ra một giải pháp, cùng nhau đưa Phật giáo, đất nước ngày càng sống
động, huy hoàng và thịnh vượng hơn.

KẾT LUẬN

19


Qua đề tài nghiên cứu này, cái trước hết mà chúng ta có được là thực sự
hiểu trong hàng loạt các vấn đề mà triết học phật giáo đề cập đến thì một trong
cái tiến bộ nhất và cái sáng nhất là tư duy biện chứng. Tiếp đến là việc cung cấp
cho những người không thực sự hiểu sâu sắc về triết học phật giáo biết là tư duy
biện chứng thực sự là cái gì? Trong thực tế nó biểu hiện như thế nào, và quan
trọng hơn nó đã góp phần hình thành nên tư duy và nhân cách của con người
Việt Nam xuyên suốt một quãng thời gian dài từ xa xưa cho đến nay ra sao.

chiến lược đòi hỏi sự giáo dục kết hợp của xã hội- gia đình-nhà trường và cá
nhân, một sự kết hợp tự giác giữa truyền thống và hiện đại. Chúng ta tin tưởng
vào một thế hệ trẻ có sức khỏe, tri thức, và đạo đức để trinh phục mọi thứ, để kế
thừa cái nhân bản của truyền thống và triết học phật giáo để xây dựng và phát
triển đất nước.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô và các bạn đã có những đóng góp và
giúp đỡ bọn em trong lúc làm đề tài nghiên cứu này. Trong quá trình nghiên cứu
và viết bài, chúng em còn nhiều điều thiếu sót mong cô và các bạn thông cảm.
Chúng em đã cố gắng gửi đến cô bản viết hoàn chỉnh nhất, mong cô đọc và tiếp
tục góp ý với chúng em. Bài viết của chúng em có lẽ chưa đủ để phản ánh đến
từng chi tiết của vấn đề nhưng chúng em hứa sẽ tìm hiểu sâu hơn vấn đề này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status