1
M U
Lch s trit hc nhõn loi, tri qua quỏ trỡnh phỏt trin ó cú s phõn
vựng v phõn k lch s trit hc. Sự phân chia các vùng lịch sử triết học
ch yu da vo yu t điều kiện tự nhiên. Bi triết học là một hình thái ý
thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do ú t tởng triết học ít nhiều phán
ánh và mang nột c thự của những điều kiện không gian, địa lý, tự nhiên.
Trong s phõn vựng lch s trit hc nhõn loi, ngời ta đã da vào phơng
vị mặt trời (Đông hoặc Tây) để phân chia vùng lịch sử triết học. Theo ú,
vựng lch s trit hc phng ụng ch phng mt tri mc, vựng lch
s trit hc phng Tõy ch phng mt tri ln.
Khi núi n lch s trit hc phng Tõy chỳng ta khụng th khụng
nhc n trit hc Hy Lp c i mt trong nhng cỏi nụi ca trit hc
nhõn loi. Trit hc Hy Lp c i l mt trong nhng im xut phỏt ca
lch s trit hc th gii. Vỡ vy, cho n ngy nay, nhng t tng trong
trit hc Hy Lp c i vn sỏng lờn ỏnh ho quang ca nhng trớ tu bỏch
khoa k diu, ca nhng kh nng t duy trit hc him thy nh Mỏc ó
núi: Ngi Hy Lp mói mói vn l bc thy ca chỳng ta. Trong trit
hc Hy Lp khụng ch cú ch ngha duy vt m cũn cú phộp bin chng t
phỏt, ngõy th l tin cho trit hc nhõn loi k tha v phỏt trin, nh
cao l trit hc Mỏc.
Vỡ vy, vic chn ti, nghiờn cu v lm rừ T tng bin chng
trong trit hc Hy Lp c i l rt cn thit ỏnh giỏ ỳng nhng úng
gúp to ln ca trit hc c i Hy Lp i vi lch s trit hc nhõn loi c
bit l lch s hỡnh thnh v phỏt trin ca phộp bin chng.
2
NỘI DUNG
I. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ
TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
của cải trong xã hội có dư thừa dẫn đến xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, của cải chủ yếu tập trung trong tay một số cá nhân- chủ nô và như thế
chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ đã ra đời xác lập quyền sở hữu của chủ nô đối
với tư liệu sản xuất và người nô lệ. Chế độ tư hữu ra đời đã làm cho mỗi
người cần phải ý thức, suy nghĩ về bản thân mình và cần thiết phải có một
cách sống cho riêng mình phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới. Con người giờ
đây không chỉ phải tuân theo những quan niệm của xã hội trước đây mà cần
phải phê phán những giá trị, chuẩn mực xã hội cũ và xây dựng cho mình một
thế giới quan mới. Chính những điều kiện và nhu cầu thực tiễn đó đã làm cho
triết học nói chung và tư tưởng biện chứng nói riêng ra đời ở Hy Lạp cổ đại.
Sự phát triển của sản xuất dẫn đến xã hội phân chia thành những giai cấp
có lợi ích đối lập nhau: giai cấp chủ nô giữ địa vị thống trị; giai cấp nô lệ chỉ
là “ công cụ biết nói”, là “ hàng hóa” đặt dưới sự thống trị hà khắc của giai
cấp chủ nô. Xã hội phân chia giai cấp dẫn đến có sự phân công lao động lần
thứ ba. Đó là phân công lao động trí óc và lao động chân tay làm cho trong xã
hội có một bộ phận chuyên nghiên cứu triết học – khoa học. Chính sự phân
chia giai cấp và phân chia lao động đã làm xuất hiện các tri thức triết học và
khoa học làm phá vỡ các ý thức hệ thần thoại và tôn giáo ngự trị trong thời kỳ
đó. Như Ăngghen trong “ Chống Đuyrinh” đã nhận xét: “Không có chế độ nô
lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp,
không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là
nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có châu Âu hiện đại
được”.Vì vậy, ngay từ khi mới xuất hiện, tư tưởng triết học đã mang tính giai
cấp sâu sắc. Triết học là thế giới quan, phương pháp luận, hệ tư tưởng thống
trị của giai cấp chủ nô.
Trên lĩnh vực khoa học: Những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa
lý, hệ thống đo lường, lịch pháp,…đã xuất hiện do nhu cầu buôn bán, vượt
4
5
quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại như Mác viết: “Các nhà triết học
không phải những cây nấm mọc trên đất. Họ là sản phẩm của thời đại mình,
dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy
nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học”.
2. Đặc điểm của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế
giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ
thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.
Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình - phương pháp tư duy về sự
vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập, tách rời, tĩnh tại và không
phát triển.
Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phép biện chứng đã qua ba
giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của
nó: phép biện chứng tự phát, ngây thơ; phép biện chứng duy tâm; phép biện
chứng duy vật.
Phép biện chứng tự phát, ngây thơ thời cổ đại. Các nhà biện chứng cả
phương Đông cổ đại và phương Tây cổ đại đã thấy các sự vật, hiện tượng của
vũ trụ sinh thành, biến hóa trong một dòng chảy và những sợi dây liên hệ vô
cùng tận. Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực
quan, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.
Phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện
trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là
Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại,
các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan
trọng nhất của phép biện chứng. Tuy nhiên, theo họ biện chứng ở đây bắt đầu
từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép “ý
niệm tuyệt đối” nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện
chứng duy tâm.
học thời Hy Lạp cổ đại mặc dù đã có những thành tựu đáng kể nhưng vẫn là
chưa đủ, chưa phục vụ tích cực cho triết học. Cùng với yếu tố khoa học chưa
7
phát triển, những yếu tố về tâm linh và tôn giáo với những câu chuyện về thần
thoại chứa đựng tính chất thần bí vẫn ảnh hưởng tới sự phát triển của triết
học. Chính vì thế tư tưởng biện chứng trong các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
còn phảng phất yếu tố thần thoại.
Như vậy, có thể khẳng định tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ
đại mang tính tự phát, ngây thơ. Tính chất ngây thơ, tự phát do nhu cầu thực
tiễn nhận thức của con người, trình độ khoa học chưa phát triển và yếu tố thần
thoại trong xã hội Hy Lạp cổ đại quy định.
8
II. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp qua một số đại biểu
tiêu biểu
Tư tưởng biện chứng được thể hiện ở nhiều nhà triết học trong triết học
Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, đề tài chủ yếu tập trung làm rõ tư tưởng biện
chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại qua một số đại biểu tiêu biểu sau:
a. Tư tưởng biện chứng trong triết học của Ta-lét (625-547 trCN)
Như chúng ta đã biết, thành tựu nổi bật và có ý nghĩa thế giới quan duy
vật của Talét là quan niệm duy vật về thế giới. Ông cho rằng bản nguyên đầu
tiên của thế giới là nước. Thế giới các sự vật được sinh ra từ nước rồi lại phân
hủy biến thành nước. Thế giới là một chỉnh thể thống nhất ở nước. Bản
nguyên của vũ trụ là nước – vật chất tồn tại vĩnh viễn, mọi vật được tạo thành
từ nước luôn phân hủy, biến đổi không ngừng, có quá trình sinh ra và mất đi.
trong thế giới không chỉ các sự vật vật chất mà cả những hiện tượng tinh thần,
kể cả linh hồn con người. Thế giới thống nhất ở lửa, lửa sinh ra mọi vật. Vũ
trụ không phải do một lực lượng siêu nhiên thần bí nào sáng tạo ra mà nó “
mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và
tàn lụi”. Đánh giá quan niệm này của Hêrclít, Lênin đã nhận xét rằng đó là “
một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.
Tuy nhiên, trong quan điểm về lửa là bản nguyên đầu tiên của vũ trụ và là
nguồn gốc sinh ra vạn vật, Hêrclít vẫn còn mang tính vật hoạt luận. Ông đã
không nhìn thấy có sự phát triển từ thấp đến cao trong cái “ dòng chảy” và sự
biến đổi phổ biến liên tục của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Thứ hai, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất-học thuyết về
“dòng chảy” của Hêraclít. Xuất phát từ quan niệm lửa là bản nguyên đầu tiên
của vũ trụ sinh ra mọi vật, thế giới thống nhất ở lửa nên Hêraclít khẳng định
vận động của vật chất chính là sự vận động của lửa, lửa là nguồn gốc của mọi
sự biến đổi trong thế giới. Ngọn lửa mà Hêraclít quan niệm là ngọn lửa “ đang
không ngừng bùng cháy và tàn lụi” nên ông cho rằng trong thế giới không có
sự vật, hiện tượng nào đứng im tuyệt đối, mà trái lại chúng đều trong trạng
10
thái vận động, biến đổi và chuyển hóa liên tục từ sự vật hiện tượng này sang
sự vật hiện tượng khác và ngược lại. Hêraclít nói: “ Nước sinh ra từ cái chết
của đất; không khí sinh ra từ cái chết của nước; lửa sinh ra từ cái chết của
không khí”.
Quan niệm về vận động – học thuyết về “dòng chảy” của Hêraclít được
nhân loại biết đến và làm cho tên tuổi của ông nổi tiếng bởi câu nói: “Chúng
ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Cũng chính mệnh đề này
của Hêraclít đã gây ra nhiều tranh luận, giải thích khác nhau về quan niệm
vận động – học thuyết dòng chảy của ông. Quan niệm vận động là phổ biến,
mọi vật đều vận động, biến đổi không ngừng của Hêraclít đã được học trò của
phổ biến của thế giới, về “ sự trao đổi của những mặt đối lập”, về sự tồn tại và
thống nhất của các mặt đối lập. Những tư tưởng đó được Hêraclít phát biểu
qua những câu châm ngôn hết sức độc đáo và sâu sắc: “ Cùng một cái ở trong
chúng ta sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già. Vì rằng cái này mà biến đổi, là
cái kia và ngược lại cái kia mà biến đổi là cái này”; “ Cái lạnh nóng lên, cái
nóng lạnh đi, cái ướt khô đi, cái khô ướt lại”; “ Bệnh tật làm cho sức khỏe quý
hơn, cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn,
mệt mỏi làm cho nghỉ ngơi dễ chịu hơn”.
Khẳng định tính thống nhất của thế giới là ngọn lửa vĩnh hằng, nguồn
gốc của vạn vật do lửa sinh ra, Hêraclít cho rằng thế giới hiện thực hay vũ trụ
đang tồn tại là cái duy nhất, đồng thời cũng là cái đa dạng. Với quan niệm này
đã đưa tư tưởng của Hêraclít đến một trình độ khái quát triết học cao và trừu
tượng về sự thống nhất của các mặt đối lập trong trong thế giới. Ông cho
rằng, mọi cái đồng nhất đều luôn tồn tại trong sự khác biệt và đó là cái hài
hòa của những cái vốn được coi là “ bất đồng”. Bởi "thiện và ác chỉ là một",
sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già trước sau cũng đều là một"; "Đối lập tạo
ra hài hòa, giống như cây cung và chiếc đàn sáu dây". “ Tất cả mọi sự vật
trong vũ trụ đều tồn tại trong thể thống nhất của cái phân chia được và cái
không phân chia được, cái toàn bộ và cái bộ phận, cái đồng nhất và cái không
đồng nhất, cái được sinh ra và cái không được sinh ra, cái toàn bộ và cái
12
không toàn bộ, cái quy tụ và cái phân tán, cái đồng và cái bất đồng...”. Khi
đánh giá về luận điểm này của Hêraclít, Lênin cho rằng: “ Phân đôi cái thống
nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của nó là thực chất của phép biện
chứng”.
Các mặt đối lập của sự vật, theo Hêraclít chúng luôn trao đổi với nhau
trong sự thống nhất, như lạnh trao đổi với nóng để nóng lên và ngược lại,
nóng trao đổi với lạnh để lạnh đi; ướt trao đổi với khô và khô trao đổi với ướt.
động. Tính hài hòa, ổn định của vũ trụ đều có thể bị phá vỡ bởi sự tranh giữa
các mặt đối lập là vốn có của nó. Thông qua sự đấu tranh, trao đối và chuyển
hóa giữa các mặt đối lập mà mọi sư vật, hiện tượng và cả vũ trụ có thể chuyển
hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là
cái nội tại, vốn có nằm trong sự hài hòa, là nguồn gốc của mọi sự vận động và
biến đổi, là cái tạo nên “dòng chảy" liên tục của vũ trụ. Ông viết: “Sự hài hòa
được tạo ra bởi cái chỉnh thể và cái chưa chỉnh thể (cái bộ phận), cái phù hợp
với nhau và cái không phù hợp với nhau, cái tích tụ và cái phân tán, cái hòa
điệu và cái không hòa điệu, và từ cái chỉnh thể (đối lập) sinh ra cái một và từ
cái một sinh ra cái chỉnh thể”.
Khi các mặt đối lập được hình thành và ngày một tăng lên “làm suy yếu”
sự hòa hợp, tính hài hòa, tính chính thể nội tại của sự vật. Đó là cuộc đấu
tranh giữa các mặt đối lập. Các mặt đối lập càng mất đi sự phù hợp với nhau,
tạo ra sự đấu tranh giữa chúng. Trong sự đấu tranh đó khi có sự thắng lợi của
một mặt đối lập, cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập sẽ tạo ra một sự vật mới,
một chỉnh thể hòa hợp mới, chỉnh thể mới này lại tuân theo quy luật của
“dòng chảy" vĩnh hằng và biến đổi phổ biến để đến lượt mình, nó lại sinh ra
trong bản thân nó những sự khác biệt mới, những mặt đối lập mới và theo đó,
một cuộc đấu tranh mới giữa các mặt đối lập mới lại xuất hiện. Khẳng định sự
đấu tranh của các mặt đối lập là vĩnh hằng, Hêraclit còn cho rằng, đấu tranh là
nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt trong "sự
sống" của mọi cái đang diễn ra. Mặt khác trong "sự sống” ấy là tính hòa hợp,
tính có trật tự, tính hài hòa. Một chỉnh thể thống nhất bao giờ cũng tồn tại với
14
các mặt đối lập của nó, giống như cái ác bao giờ cũng tồn tại với mặt đối lập
của nó là cái thiện, cái chết với mặt đối lập của nó là cái sống... và ngược lại.
Như vậy, Hêraclít cho rằng mâu thuẫn tồn tại phổ biến trong mọi sự vật,
hiện tượng. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là tương đối tạo ra sự hài hòa,
dạng, đồng thời cũng đa dạng về các mối quan hệ. Để nhận thức được tính đa
dạng trong các mối quan hệ đó và nắm được quy luật phổ biến của thế giớilogos của vũ trụ thì chủ thể nhận thức trước tiên phải có năng lực quan sát.
Hêraclít cho rằng nhận thức phải bắt đầu từ cảm giác, không có cảm giác thì
không có bất cứ nhận thức nào. Ông nói: “ mắt, tai là người thầy tốt nhất,
nhưng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai”. Hêraclít đã coi logos chủ quan
là đối tượng của nhận thức, coi trọng nhận thức cảm tính nhưng ông không
tuyệt đối hóa nó mà cho rằng trong quá trình nhận thức không được dừng lại
ở logos chủ quan, nhận thức cảm tính mà phải hướng tới nhận thức logos
khách quan của sự vật tức là nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật.
Bởi theo ông “ thị giác thường bị lừa, bởi vì tự nhiên thích giấu mình”.
Những nội dung tư tưởng biện chứng của Hêraclít mặc dù chưa được
trình bày thành hệ thống nhưng rất độc đáo và khá sâu sắc. Vì thế, Mác –
Ăngghen đã đánh giá một cách rất khách quan giá trị quan trọng triết học của
Hêraclít, coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại.
c. Tư tưởng biện chứng trong triết học của Xôcrát( 469-399 trCN)
Xôcrát cho rằng triết học là sự nhận thức của con người về chính bản
thân mình nên tư tưởng biện chứng được thể hiện trong nhận thức luận và đạo
đức học. Ông nói: “ con người hãy nhận thức chính mình”.
Xôcrát là nhà hùng biện nổi tiếng trong các cuộc đàm thoại và tranh luận.
Ông phủ nhận ý kiến chủ quan của mỗi người là chân lý. Vì vậy, Xôcrát đã
nêu ra những nguyên tắc chung trong các cuộc đàm thoại để phát hiện ra chân
lý: phải có ngôn ngữ chung với những nội dung xác định mang tính khách
quan, nhờ đó khám phá ra chân lý đích thực mà ai cũng phải thừa nhận; ý
thức chủ quan của mỗi người trong đàm thoại về sự vật ngoài yếu tố chủ quan
phải có nội dung khách quan; tri thức chung mang tính phổ biến tổng quát đó
16
là chân lý khách quan thu được trong các cuộc đàm thoại mà ai cũng phải
thừa nhận.
linh hồn đã có được trước đây nhưng rồi lại quên đi. Yếu tố quan trọng nhất
trong phương pháp hồi tưởng lại đó là nghệ thuật đàm thoại trực tiếp ( hỏiđáp) – nghệ thuật biện chứng, Platon gọi đó là phương pháp Đi-a-léc-tích.
Phương pháp này được Platon hiểu với khía cạnh:
Một là, phép biện chứng là khả năng đặt câu hỏi và giải đáp nó. Về thực
chất, Platon đã sử dụng phép biện chứng của Xôcrát trong các cuộc tranh luận
và đàm thoại.
Hai là, phép biện chứng là khả năng sử dụng và tiếp cận các khái niệm,
tổng hợp các ý kiến khác nhau trong tranh luận để đi đến ý tưởng thống nhất.
Như vậy, với cách hiểu về phép biện chứng ở hai khía cạnh trên, Platon
đã kế thừa quan niệm của Xôcrát cho rằng muốn hiểu được bản chất của sự
vật, hiện tượng phải định nghĩa được chúng thông qua các mức độ khái niệm.
Phương pháp Đi-a-léc-tích của Platon là phương pháp đối lập những khái
niệm theo từng cặp để nhận thức chân lý. Nhận thức chân lý(ý niệm) thông
qua những khái niệm đối lập và phương pháp đối chiếu những mặt đối lập.
Tuy nhiên, Platon đã coi biện chứng là tối cao trong mọi khoa học và tuyệt
đối hóa vai trò của phép biện chứng trong nhận thức khi ông đẩy nó đến mức
cực đoan coi đó là công cụ nhận thức về thế giới ý niệm, tách rời thế giới các
sự vật cảm tính.
Tìm hiểu tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại theo tiến
trình lịch sử qua một số đại biểu trên chúng ta có thể nhận định rằng: tư tưởng
biện chứng được hình thành mầm mống trong triết học của Talét, sau đó được
tiếp tục hình thành và phát triển ở triết học của Hêraclít, Xôcrát, Platon và
một số đại biểu khác trong triết học Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, có thể nói tư
tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại được thể hiện sâu sắc nhất
trong triết học của Hêraclít.
2. Những đóng góp của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp
cổ đại đối với sự phát triển của phép biện chứng
18
19
chứng tự phát, ngây thơ thời cổ đại trong đó có tư tưởng biện chứng Hy Lạp
cổ đại. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của tư tưởng biện chứng
trong triết học Hy Lạp cổ đại là tư tưởng biện chứng của Hêraclít, một trong
những đại biểu xuất sắc đã trình bày khá sâu sắc những nội dung tư tưởng của
phép biện chứng như: Quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất, mối
quan hệ giữa vận động và đứng im, tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của mâu
thuẫn, sự thống nhất(hài hòa) và đấu tranh giữa các mặt đối lập, học thuyết về
dòng chảy không ngừng…
Có thể nói rằng, tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại có
một vị trí, vai trò rất đáng trân trọng, nó là bước khởi đầu trong quá trình phát
triển của phép biện chứng mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng duy vật do
Mác- Ăngghen sáng lập. Vì vậy, mặc dù triết học Mác – Lênin nói chung và
phép biện chứng duy vật do Mác – Ăngghen sáng lập ra nói riêng là sự kế
thừa thẳng và trực tiếp phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của
Phoiơbắc trong triết học cổ điển Đức thì không có nghĩa là tư tưởng biện
chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại không có vai trò gì. Mà trái lại, tư tưởng
biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại với tính chất tự phát, ngây thơ
nhưng hết sức đặc sắc đó có vai trò là tiền đề, là những hòn đá tảng để Mác –
Ăngghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách mạng và khoa học.
Đánh giá về vai trò của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại đối
với lịch sử triết học nhân loại Ăngghen viết: “ Quan niệm về thế giới một
cách nguyên thủy, ngây thơ nhưng căn bản là đúng, ấy là quan niệm của nhà
triết học Hy Lạp thời cổ, và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm
ấy là Hêrclít: mọi vật tồn tại, nhưng đồng thời không tồn tại, vì mọi vật đều
trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn luôn ở trong quá
trình xuất hiện và biến đi”.
Bên cạnh những giá trị đóng góp cho sự phát triển của phép biện chứng,
tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn bộc lộ những hạn
những hòn đá tảng để các nhà triết học xây dựng và phát triển phép biện
chứng mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật của Mác – Ăngghen.
22
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
I.
ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ
ĐẶC
ĐIỂM
CỦA
TƯ
TƯỞNG
BIỆN
CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ
1.
ĐẠI
Điều kiện lịch sử hình thành tư tưởng biện
Nexmeyanov, Nxb Đà Nẵng.2002
3. Lịch sử triết học, PGS.Vũ Ngọc Pha, Nxb Thống Kê.2004
4. Giáo trình triết học ( dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh
không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý Luận Chính Trị.2006
5. Từ điển triết học giản yếu, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp,
HN.1987
6. Đại cương lịch sử triết học, Nxb Thống Kê. 1997