Tiểu luận vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và CNXH vào con đường đi lên CNXH của đảng CSVN - Pdf 28

Mục lục
Trang
Mở đầu 2
I. Sự lựa chọn và kiên định con đờng XHCN của Đảng ta 4
1. Sự lựa chọn con đờng XHCN trong t tởng Hồ Chí Minh 4
2. Kiên trì con đờng XHCN mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn 7
II. Quan điểm về mục tiêu, mô hình CNXH 14
1. Trong t tởng Hồ Chí Minh 14
2. Sự vận dụng của Đảng 16
III. Con đờng đi lên CNXH 19
1. Đặc điểm thời kỳ quá độ 19
2. Về cơ cấu kinh tế 24
3. Mở rộng quan hệ đối ngoại 30
Kết luận 33
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại, tên tuổi và sự
nghiệp của Ngời đã in đậm dấu ấn vào lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại. Quá
trình hình thành t tởng của Ngời cũng chính là quá trình hình thành con đờng
cách mạng Việt Nam. Đó là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
1
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác Lênin cào điều kiện cụ thể của nớc ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại. Đó là cả hệ thống quan điểm nhất quán xuyên suốt từ cách mạng dân tộc
dân chủ, tiến lên CNXH, không qua giai đoạn phát triển TBCN; độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH. T tởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở
Việt Nam là lý luận về công việc cuộc sống xây dựng một nớc Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự
nghiệp cách mạng thế giới
Trong bối cảnh thời đại đổi thay khó lờng hiện nay, Đảng cộng sản Việt

đất nớc ta hiện nay.
3. Nhiệm vụ
- Phân tích làm rõ quá trình vận dụng t tởng HCM về CNXH và con đờng
đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta.
- Tiếp tục khẳng định tính đúng đắn và giá trị của t tởng HCM đối với
CMVN và công cuộc đổi mới đất nớc hiện nay.
4. Phạm vi, phơng pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài.
- Đề tài đề cập đến t tởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đờng đi lên
CNXH cùng với quá trình vận dụng của Đảng ta trong công cuộc xây dựng và
phát triển đất nớc.
- Trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành,
chủ yếu là phơng pháp lịch sử kết hợp với phơng pháp logic, phơng pháp so sánh,
phơng pháp phân tích tổng hợp,
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài đợc trình bày theo 3
mục:
I. Sự lựa chọn và kiên định con đờng XHCN của Đảng ta
II. Quan điểm về mục tiêu, mô hình CNXH
III. Con đờng đi lên CNXH
I. Sự lựa chọn và kiên định con đờng XHCN của Đảng
ta.
1. Sự lựa chọn con đờng XHCN trong t tởng Hồ Chí Minh.
Sau 10 năm bôn ba nớc ngoài khảo sát kinh nghiệm của cách mạng thế
giới, năm 1920 Nguyễn ái Quốc đã bắt gặp chủ nghĩa Mác Lênin, Ngời đã
sung sớng đến phát khóc khi đọc bản Sơ thảo luận cơng về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa của Lênin. Ngời đã nói Luận cơng của Lênin làm cho tôi rất cảm
động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên.
ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên nh đang nói trớc quần chúng đông
đảo: Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là
con đờng phát triển giảI phóng chúng ta.

triển mà phải tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế chính trị văn hoá - xã hội
mỗi nớc đê định ra đờng lối cách mạng đúng đắn, cách mạng dân tộc dân chủ
dẫn tới thắng lợi của cách mạng tháng 8 1945, đa Việt Nam trở thành một nớc
độc lập, thống nhất.
Đến 2 1930, Đảng CSVN ra đời, ngời đã soạn thảo Chánh cơng vắn tắt,
Sách lợc vắn tắt, Chơng trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng CSVN. Cơng lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng ta đã nêu rõ: Chủ trơng làm dân quyền của cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
(1)
4
. Nh vậy, đến 1930 thì
sự lựa chọn của Hồ Chí Minh về CNXH đã từ t tởng đi vào thực tiễn đờng lối
chính trị của Đảng. So với Đảng cách mạng thì cơng cơng lĩnh dầu tiên của Đảng
do Hồ Chí Minh soạn thảo là bớc phát triển mới của t duy Hồ Chí Minh về chiến
lợc, sách lợc cách mạng VN.
Quán triệt tinh thần cách mạng triệt để và cách mạng không ngừng, Nghị
quyết TƯ 8 (5 1941) đã nêu: Cách mạng giải phóng dân tộc phải đi đến cách
mạng t sản dân quyền và cách mạng XHCN. Vậy nên không thể làm cách mạng
giải phóng dân tộc rồi ngừng lại, mà phải tiến lên làm trọn nhiệm vụ t sản dân
quyền và chinh phục chính quyền vô sản
(2)
5
. Nh vậy, Nghị quyết TƯ 8 đặt ra:
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc là trên hết, nhng vẫn không
quên nhiệm vụ cải cách điền địa. Đờng lối đúng đắn, sáng tạo đó đã động viên
toàn dân tộc dấy lên cao trào khởi nghĩa, tiến hành thắng lợi cách mạng tháng 8
2
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T9, Tr.314, NXB. CTQG
3
(3),(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T2, Tr.280, NXB. CTQG

(2)
9
. Đây
cũng là một sự sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta: một nớc,
một dân tộc, một Đảng mà tiến hành đồng thời hai chiến lợc cách mạng khác
nhau, có quan hệ, tác động, thúc đẩy lẫn nhau.
Vậy là, mục tiêu CNXH đã đợc Bác khẳng định trong t tởng của mình
ngay từ 1920 của thế kỷ XX, đó là sự lựa chọn biểu hiện kết quả của một quá
trình, xuyên suốt từ khi Bác đọc Bản luận cơng của Lênin tới tác phẩm Đờng
cách mệnh, đến Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Bác soạn thảo, đến Hội
nghị TƯ lần thứ 8 và cho đến những bài nói, bài viết của Bác trong các thời điểm
sau này, và sự lựa chọn đó của Bác một lần nữa đợc Ngời khẳng định trong bản
Di chúc của mình: mong muốn toàn Đảng, toàn dân đoàn kết, xây dựng thắng lợi
CNXH ở nớc ta.
Việc Hồ Chí Minh tìm đợc con đờng đúng đắn cho cách mạng Việt Nam
ngay từ đầu đã khẳng định vai trò quyết định của Hồ Chí Minh đối với cách
mạng Việt Nam. Với quan niệm giải phóng dân tộc bằng con đờng cách mạng vô
sản, Hồ Chí Minh đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đờng lối cứu nớc của
dân tộc Việt Nam, đồng thời đã đa dân tộc ta vào đúng quỹ đạo cách mạng của
thời đại, gắn liền cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng thế giới, đa cách
mạng giải phóng gắn liền với cách mạng XHCN. Đây thực sự là một phát hiện,
6
(3) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 1950), NXB Sự thật, HN, 1986, T1,Tr.30
31.
7
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T5, Tr.551, NXB. CTQG
8
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T6, Tr.174, NXB. CTQG
9
(2) ) Hồ Chí Minh: Sđd, T10, Tr.198

là phải lùi về con đờng dân chủ nhân dân và họ còn cho rằng, cách mạng dân tộc
dân chủ t sản kiều mới, đi lên CNXH qua 3 giai đoạn chứ không phải là con đ-
ờng cách mạng vô sản thực hiện CNXH chỉ qua 2 giai đoạn nh lý luận cách
mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Trớc sự xuyên tạc của kẻ thù đối với con đờng XHCN, Đảng ta đã nhiều
lần khẳng định mục đích, lý tởng của cách mạng nớc ta là xây dựng thành công
CNXH trên đất nớc ta. Và thực tế suốt mấy chục năm qua, Đảng đã lãnh đạo
nhân dân phấn đấu, hy sinh cho mục đích này. Đảng vẫn kiên định lập trờng
nguyên tắc đó. Các thế lực thù địch rất khó chịu và bực bội về sự khẳng định này
6
và đang tìm mọi cách để chuyển hoá, làm thay đổi lập trờng của chúng ta, ép
chúng ta đi sang quỹ đạo của CNTB.
Đảng CSVN và đại đa số nhân dân ta hiểu rằng, lựa chọn mục tiêu, lựa
chọn hớng đi không phải là việc làm tuỳ tiện, cũng không phải vấn đề tình cảm,
ý chí chủ quan, mà đây thực sự là vấn đề khoa học rất nghiêm túc, là trách
nhiệm thiêng liêng trớc đất nớc và dân tộc. Sở dĩ chúng ta kiên định con đờng
XHCN mặc dù biết đây là sự nghiệp vô cùng gay go phức tạp và hiện thời
CNXH đang lâm vào thoái trào, là vì đây là con đờng phát triển hợp quy luật
khách quan. Sau CNTB nhất định phải là một xã hội tốt đẹp hơn.
Loài ngời đã từng mơ ớc đến một xã hội tốt đẹp: đạo phật mơ đến một cõi
Niết bàn; đạo thiên chúa mơ ớc đến chốn thiên đàng; ngời Pháp, ngời Anh đã có
lúc mơ đến CNXH kiểu Phurie, Xanh Ximôn, Ôoen Nhng đó chỉ là mơ ớc, chỉ
dựa trên tình cảm nên không thể nào thực hiện đợc. Chỉ đến chủ nghĩa Mác mới
vạch ra đợc cơ sở khoa học, quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, để đi
tới CNXH khoa học một chế độ xã hội xây dựng trên cơ sở giải phóng triệt để
giai cấp cần lao, giải phóng triệt để xã hội và con ngời.
Thực tế hơn 70 năm qua, mặc dù có những khuyết điểm, sai lầm chủ quan,
CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu vẫn thể hiện rõ sức sống và tính u việt
từ trong bản chất của nó. Đó là việc xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa con ngời với
con ngời, chăm lo con ngời, tạo ra sức mạnh cộng đồng đánh thắng chủ nghĩa

không thể nào giải quyết đợc mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn cố hữu từ trong bản
chất của nó. Đó là mâu thuẫn giữa sự xã hội hoá sản xuất ngày càng rộng lớn
(đến mức đa quốc gia, siêu quốc gia, khu vực hoá, toàn cầu hoá) với sự chiếm
hữu t nhân về t liệu sản xuất ngày càng sâu (tập trung trong tay một số ít nhà t
bản kếch xù). Thậm chí những mâu thuẫn đó còn gay gắt hơn trớc rất nhiều.
Tình trạng cạnh tranh cá lớn nuốt cá bé phân hoá giàu nghèo càng ngày càng
quyết liệt, xã hội đầy rẫy những tệ nạn tiêu cực, bất công, đạo đức băng hoại, sự
bất bình đẳng về sở hữu và phân phối của cải ngày càng tăng Rõ ràng, CNTB
không phải chỉ toàn là tốt đẹp nh ngời ta ca ngợi, không phải là xu thế phát triển
của thời đại và do đó nó không phải là mục tiêu, lý tởng của chúng ta.
Tóm lại, con đờng mà Đảng cộng sản Việt Nam lựa chọn và kiên định đi
theo là con đờng XHCN theo t tởng Hồ Chí Minh. Điều này đợc Đảng ta khẳng
định ngay trong Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930: Đảng chủ tr-
ơng làm t sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản. Đến Luận cơng tháng 10 1930, Đảng cũng đi đến khẳng định: tiến
hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến
lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn t bản chủ nghĩa.
Nh vậy, t tởng độc lập dân tộc gắn liền CNXH đã đợc Đảng ta đặt ra ngay
từ đầu và nhanh chóng trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đờng lối của Đảng,
là quy luật của cách mạng Việt Nam. Sự kiên định đờng lối CNXH của t tởng Hồ
Chí Minh trong Đảng ta đợc thể hiện rõ qua các kỳ đại hội, các Nghị quyết, chỉ
thị của Đảng.
Tháng 2 1935, tại Đại hội lần thứ nhất Đảng đã khẳng định: Đảng đại
hội của chúng tôi cam đoan với quốc tế cộng sản rằng ĐCS Đông Dơng hết sức
tổ chức và dẫn đạo quần chúng lao động trong xứ ta tranh đấu, bênh vực quyền
lợi hằng ngày của họ và thực hiện những nhiệm vụ của cuộc cách mạng phản đế
8
và điền địa ở Đông Dơng để dọn đờng đi tới thời kỳ XHCN là bớc đầu của
CNCS
(1)

.
Năm 1976, Đại hội IV của Đảng đã phát triển thêm một bớc đờng lối của
Đại hội III, vạch ra đờng lối xây dựng CNXH trên phạm vi cả nớc. Đó là đờng
lối: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản
xuất, cách mạng khoa học kỹ thật và cách mạng t tởng và văn hoá, trong đó
cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh CNH XHCN là nhiệm
vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập
thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền văn hoá mới, con
ngời mới XHCN
(3)
13
.
Trên cơ sở phân tích những chủ trơng, đờng lối, chính sách đề ra từ Đại
hội IV, Đại hội VI đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc nhằm nhận thức
đúng hơn và thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng CNXH. Đại hội VI
10
(1) Văn kiện Đảng, Toàn tập, NXB. CTQG, HN, 1999, T5, Tr.281
11
(2) Đảng cộng sản Việt Nam, Sđd, T7, Tr.120 - 121
12
(1), (2) ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T36, Tr.187, Tr.308, NXB. CTQG, 2004
13
(3) ) Đảng cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCHTƯĐ tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, NXB.
Sự thật, Hà Nội, 1997, Tr67
9
là một cột mốc đánh dấu bớc chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về
CNXH và con đờng đi lên CNXH ở nớc ta.
Đại hội VII của Đảng họp tháng 6 1991. Lúc này chế độ XHCN ở các
nớc Đông Âu đã bị sụp đổ và Liên Xô đã đi chệch hớng cải tổ, đang có nguy cơ

ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nớc Việt Nam từng bớc
quá độ lên CNXH, định hớng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong
những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nớc Việt Nam
theo con đờng XHCN trên nề tảng chủ nghĩa Mác Lênin và t tởng Hồ Chí
Minh
(3)
16
. Sự khẳng định này là rất cần thiết nhất là vào thời điểm hiện nay, khi
đất nớc cùng nhân loại bớc vào thế kỷ XXI, trên thế giới có những diễn biến rất
nhanh và phức tạp, trong nớc cũng đứng trớc nhiều nguy cơ và thách thức mới.
14
(1) ĐCSVN: Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên XHCN, NXB Sự thật, HN, 1991, Tr.4
15
(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB. CTQG, HN, 1996, Tr.68
16
(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB. CTQG, HN, 2001, Tr.83
10
Hiện nay, phát triển đất nớc theo định hớng XHCN là một nhu cầu tất yếu
khách quan. Nhu cầu đó bắt nguồn từ sự hình thành quan điểm của Đảng về
CNXH, đồng thời cũng bắt nguồn từ quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng
CNXH của dân tộc ta trong suốt hơn 70 năm qua. Nhu cầu đó gắn liền với tên
tuổi Hồ Chí Minh, ngời Mác xít đầu tiên đã truyền chủ nghĩa Mác Lênin vào
nớc ta và cũng là ngời đầu tiên quyết định sự lựa chọn con đờng đi lên CNXH
của Việt Nam. Dới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, trờng kỳ và giành đợc độc lập,
đa đất nớc ta tiến dần từng bớc lên CNXH. Định hớng trên đã ảnh hởng nhất
định đến sự hình thành quan điểm của Đảng ta về CNXH và con đờng đi lên
CNXH. Đây cũng chính là nguyên nhân chỉ rõ vì sao trong giai đoạn cách mạng
hiện nay giai đoạn đòi hỏi phải cósự đổi mới toàn diện thì Đảng ta vẫn kiên
trì chủ trơng lấy chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t t-

mô hình lý tởng đợc xây dựng sẵn trong t tởng, nhận thức để từ đó bắt thực tiễn
phải khuôn vào nh Mác - Ăngghen đã từng phê phán. Khi đề cập đến những
nội dung cơ bản, những mục tiêu lâu dài của CNXH, của sự nghiệp xây dựng
CNXH ở Việt Nam, Ngời viết: Xây dựng CNXH là thay đổi cả xã hội, thay đổi
cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn ngời bóc lột ngời, không còn đói rét,
mọi ngời đều đợc ấm no hạnh phúc
(1)
18
. CNXH là không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trớc hết là nhân dân lao động và cuộc
cách mạng XHCN là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta
phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xa nay cha từng có trong lịch sử, lịch sử
dân tộc ta
(2)
19
. Hồ Chí Minh đã từng nhiều lần đặt câu hỏi và tự trả lời: CNXH
là cái gì ? là mọi ngời đợc ăn no mặc ấm, sung sớng, tự do. Nhng nếu muốn tách
riêng một mình mà ngồi ăn no mặc ấm, ngời khác mặc kệ, thế là không tốt.
Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi ngời đợc ăn no mặc
ấm, nh thế mới đúng
(3)
. Quan niệm về CNXH của Ngời thật giản dị, dễ hiểu mà
sâu sắc, đáp ứng nguyện vọng khao khát của toàn thể nhân dân lao động Việt
Nam. Trong quan niệm ấy hàm chứa nội dung tốt đẹp của CNXH: vì dân sinh,
dân trí, vì cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và cả tính công
bằng, dân chủ thực sự. Với Ngời, CNXH không chỉ là ớc mơ, lý tởng mà cần đợc
thể hiện cụ thể từng bớc ngay ở nhiệm vụ trớc mắt.
Khi miền Bắc bớc vào thời kỳ quá độ tiến lên XHCN, Ngời đã giải thích
về CNXH một cách cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm và đẽ đi vào lòng dân. Ngời
nói: Chủ nghĩa xã hội trớc hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần

xây dựng CNXH, làm cho nớc ta mạnh, dân ta giàu. Những mục tiêu trớc mắt
Hồ Chí Minh đề ra tuy có khác nhau về chi tiết tuỳ thuộc vào đối tợng thời điểm
Ngời nói hoặc viết, song nổi lên những điểm chủ yếu sau:
Dân làm chủ, mọi quyền hành đều thuộc về dân, mọi lực lợng đều thuộc
về dân
Dân giàu nớc mạnh từng bớc xoá bỏ bất công, xoá bỏ bóc lột trên cơ
sở phát triển sản xuất, dần biến nớc ta từ một nớc nông nghiệp lạc hậu thành
một nớc có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học tiên tiến
Gắn phát triển kinh tế với chính sách xã hội, với công bằng xã hội, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc, bảo
đảm mọi ngời đều có ăn, có mặc, có chỗ ở, đợc học hành. các dân tộc miền núi
tiến kịp các dân tộc miền xuôi
Phát triển văn hoá khoa học giáo dục biến nớc ta từ một nớc dốt nát, cực
khổ thành một nớc văn hoá cao, có đời sống tơi vui, hạnh phúc. Triệt để thay
đổi những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn
năm.
Bình đẳng, hữu nghị với các dân tộc, các quốc gia trên thế giới, trên tinh
thần hợp tác, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, hai bên cùng có lợi.
Tiến lên CNXH là sự nghiệp của toàn dân, dới sự lãnh đạo của Đảng tiên
phong. Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu CNXH
vì tiến lên CNXH thì nhân dân mình ngày một ấm no thêm, tổ quốc ngày một
giàu mạnh thêm. Đó là sự nghiệp to lớn, đẹp đẽ, phải làm từng bớc, phù hợp
tình hình, điều kiện khách quan, không thể nôn nóng chủ quan.
Luận điểm cực kỳ quan trọng là Ngời luôn tin ở nghị lực sáng tạo vô cùng
to lớn của nhân dân, luôn nhấn mạnh CNXH là do nhân dân tự xây dựng lấy.
Những mục tiêu cụ thể thiết thực cần đạt tới trong thực tiễn theo quan
niệm của Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam chính là cơ sở lý luận và thực tiễn
để Đảng và nhà nớc ta kế thừa, phát triển khi xác định mục tiêu, mô hình của
XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
2. Sự vận dụng của Đảng.

đó ngời làm chủ chân chính là cộng đồng xã hội, là tập thể nhân dân lao động có
tổ chức, mà nòng cốt là liên minh công nhân nông dân và do giai cấp công
nhân lãnh đạo.
Xây dựng nền sản xuất lớn XHCN nhằm mục đích thoả mãn ngày càng tốt
hơn nhu cầu vật chất và văn hoá ngày càng lớn của toàn xã hội bằng cách không
ngừng phát triển và hoàn thiện sản xuất, trên cơ sở làm chủ tập thể và một nền kỹ
thuật hiện đại.
Nền văn hoá mới là nền văn hoá có nội dung XHCN và tính chất dân tộc.
Là nền văn hoá có tính Đảng và tính dân tộc.
Con ngời mới là con ngời làm chủ tập thể, lao động yêu nớc XHCN và
tinh thần quốc tế vô sản.
14
Mô hình xã hội XHCN mà Đảng ta xác định trong Đại hội IV (1976) đợc
tiếp tục khẳng định tại Đại hội V (1982) và Đại hội VI (1986) của Đảng. Trong
đó, Đảng có nêu lên vấn đề cần phải đặc biệt chý ý là: Nắm vững chuyên chính
vô sản, xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động và tiến hành
công nghiệp hoá XHCN
(1)
21
.
Tuy nhiên, chúng ta đã phạm phải một số sai lầm và khuyết điểm trong
việc thiết kế các mô hình cụ thể và tổ chức chỉ đạo thực hiện. Đó là những sai
lầm về chủ trơng, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lợc và tổ chức thực hiện. Đại
hội VI của Đảng (12 1986) đã phân tích nguyên nhân sâu xa của những sai
lầm đó là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ hành động giản đơn, nóng vội,
không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về CNXH không đúng với thực
tế Việt Nam.
Đại hội VII của Đảng họp vào tháng 6 1991, đã thông qua Cơng lĩnh
xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH và Chiến lợc ổn định và phát
triển kinh tế xã hội đến năm 2000. Cơng lĩnh đã chỉ ra xã hội XHCN mà nhân

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB. CTQG, HN, 2001, Tr.85.
15
dựng và phát triển đất nớc của mình với mô hình xã hội XHCN là: Dân giàu, n-
ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phát triển một đất nớc thực sự
là của dân, do dân và vì dân.
III. Con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt nam.
1. Đặc điểm thời kỳ quá độ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Đặc điểm to nhất của ta trong thời
kỳ quá độ là từ một nớc nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
không phải kinh qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa
(3)
24
. Việc tiến thẳng
lên chủ CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu không qua giai đoạn phát triển
TBCN đòi hỏi chúng ta phải vợt qua nhiều khó nhăn, thử thách, với nỗ lực rất lớn
xây dựng những cơ sở vật chất cho CNXH. Hồ Chí Minh nhận thức đợc những
khó nhăn ấy và Ngời đã nhiều lần chỉ rõ điều đó. Khi trả lời phỏng vấn báo chí
phơng Tây năm 1946, Ngời nói: Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện đợc,
cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi ngời đều dợc phát triển hết khả
năng của mình. ở nớc chúng tôi, những điều kiện ấy cha có đủ
(2)
25
. Theo Hồ Chí
Minh, xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải làm mau đợc mà phải làm dần
dần. Mặc dù khó khăn, gian khổ song Ngời vẫn khẳng định: Nhân dân lao
động ta sẵn có truyền thống cực kỳ anh hùng, đã làm cách mạng thành công,
kháng chiến thắng lợi. Hiện nay, chúng ta đang làm cách mạng XHCN, một cuộc
cách mạng tuy trờng kỳ gian khổ song nhất định thắng lợi, chỉ phải đổ mồ hôi
mà không đổ máu, một cuộc cách mạng nhằm đánh thắng lạc hậu và bần cùng,
để xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta, cho con cháu ta

CNXH. Do vậy, Ngời luôn nhấn mạnh tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trên
con đờng tiến lên CNXH của chúng ta, không đợc bắt chớc theo các nớc có nền
kinh tế phát triển một cách dập khuôn máy móc, giáo điều, phải xuất phát từ việc
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của ta và lấy đó làm chủ yếu: Ta không thể
giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lí khác
Ta có thể đi con đờng khác để tiến lên CNXH
(1)
28
. Do đặc điểm đi lên CNXH
của nớc ta nh vậy nên bớc đi và phơng thức xây dựng CNXH ở ta phải là dần
dần, từng bớc một, thận trọng và vững chắc. Tính đến những truyền thống, tập
tục lạc hậu vẫn còn cha đợc cải tạo hết, những thói h, tật xấu và định kiến trong
quá khứ, những tàn d do chế độ cũ để lại còn khá nặng nề, Ngời cho rằng công
cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta cần phải có thời gian vừa cải tạo vừa xây dựng,
vừa đổi mới, vừa phát triển, vừa làm vừa học, rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn.
Mọi nhiệm vụ đề ra phải rất thiết thực, chú trọng hiệu quả, trên cơ sở tổng kết
thực tiễn và khái quát lý luận, học tập kinh nghiệm của các nớc anh em nhng
không sao chép máy móc, phải độc lập, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh Việt
Nam. Ngời viết: Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói đợc, làm đợc. Việc gì
cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao.
Một chơng trình nhỏ mà thực hành đợc hẳn hoi là hơn hẳn một trăm chơng trình
to tát mà không làm đợc
(2)
29
.
Trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm lớn nhất của Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đi đến xác định nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn quá
độ lên CNXH ở Việt Nam là: Phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của
CNXH, đa miền Bắc tiến dần lên CNXH có công nghiệp và nông nghiệp hiện
đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN chúng

lên CNXH, bỏ qua đợc một giai đoạn phát triển.
Xây dựng CNXH ở một nớc kém phát triển nh nớc ta là một quá trình phấn
đấu đầy khó khăn cha từng có tiền lệ trong lịch sử, vì thế có những khuyết điểm
sai lầm là điều khó tránh khỏi. Cần phải thừa nhận và tìm cách khắc phục, sửa
chữa những khuyết điểm sai lầm ấy. Chính do hiểu sai, hiểu không đúng quan
điểm của Hồ Chí Minh mà khi ta xây dựng miền Bắc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, ta đã dập khuôn máy móc, giáo điều theo mô hình của Liên Xô, tồn tại
một cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Ta đã không nhận thấy sự cồng kềnh
của cơ chế đó nên chậm khắc phục những khuyết tật của nó dẫn tới trì trệ và
khủng hoảng kinh tế xã hội. Thực tế xây dựng CNXH ở nớc ta trong suốt 20 năm
đã đặt ra cho Đảng ta những yêu cầu mới, cần phải nhận thức cho đúng CNXH,
phải tìm ra con đờng đi lên CNXH theo đúng quy luật, đúng đặc điểm của đất n-
ớc, của thời đại và CNXH hiện thực. Phải luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan,
từ hiện thực vận động của lịch sử cụ thể, không giáo điều, chủ quan. Ta cần phải
quay về với chính t tởng Hồ Chí Minh: Ta không thể giống Liên Xô, vì ta có
phong tục tập quán khác, lịch sử địa lý khác nên ta có thể đi con đờng khác lên
CNXH.
Đến năm 1975, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nớc hoàn
toàn độc lập, thống nhất, Đảng ta đã đa ra những quan điểm mà ta đã thấy lại đ-
ợc t tởng Hồ Chí Minh ở trong những quan điểm đó. Trong bài Diễn văn của Lê
Duẩn Bí th thứ nhất Ban chấp hành Trung ơng Đảng lao động Việt Nam tại lễ kỷ
niệm 45 năm ngày thành lập Đảng, đồng chí đã nói: Đó là lịch sử của một dân
tộc từ một nền sản xuất nhỏ đang tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát
18
triển TBCN, cùng một lúc làm hai nhiệm vụ chiến lợc hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ ở miền Nam, xây dựng CNXH ở miền Bắc, đem lại những biến đổi
căn bản trong đời sống kinh tế, chính trị và tinh thần của xã hội, đa nhân dân lao
động miền Bắc nớc ta lên địa vị làm chủ tập thể
(1)
30

sản xuất và kiến trúc thợng tầng t bản chủ nghĩa, nhng tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt đợc dới chế độ t bản, nhất là về khoa học và công
nghệ, để phát triển nhanh lực lợng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại
(1)
33
.
Đồng thời, phải từng bớc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo
định hớng xã hội chủ nghĩa, chống t tởng duy lực lợng sản xuất, chủ nghĩa kỹ trị.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi
về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn, phức
30
(1). Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, T. 36, tr. 52
31
(2). Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, T. 36, tr.308 - 309
32
(3). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.8
33
(1). Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001, tr. 21
19
tạp, có sự đan xen và đấu tranh quyết liệt giữa cái mới và cái cũ, giữa cái xã hội
chủ nghĩa và cái không phải xã hội chủ nghĩa, phải sử dụng một số hình thức
trung gian, cho nên tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều
chặng đờng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Nh
chúng ta phải chấp nhận còn nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất, nhiều
thành phần kinh tế, nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau.
Thực tế, trớc đổi mới do ta nôn nóng muốn nhanh chóng đi lên chủ nghĩa xã
hội với t duy dập khuôn, máy móc đã đa nền kinh tế nớc ta rơi vào khủng hoảng.
Nhng sau đổi mới, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí

không xoá bỏ quyền sở hữu về t liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà ra sức
34
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T10, Tr.61, NXB. CTQG
20
hớng dẫn họ hoạt động làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh
tế nhà nớc, khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức công
t hợp doanh và những hình thức cải tạo phù hợp.
Sự phân tích về các thành phần kinh tế và những loại hình sở hữu t liệu sản
xuất cho thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần để có thể huy động và phát triển mọi tiềm năng trong xã hội, giải phóng
sức sản xuất, đồng thời Ngời cũng chỉ ra mục tiêu cuối cùng là tiến tới một nền
kinh tế thuần nhất, dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Trên lĩnh vực phân phối sản phẩm lao động: Ngời coi trọng thực hiện
nguyên tắc phân phối theo lao động: phân phối phải theo mức lao động. Lao
động nhiều thì đợc phân phối nhiều, lao động ít thì đợc phân phối ít không nên
có tình trạng ngời giỏi, ngời kém, việc khó, việc dễ cũng cộng điểm nh nhau. Đó
là chủ nghĩa bình quân.
(1)
35
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Không sợ thiếu, chỉ sợ
phân phối không công bằng
(2)
36
. Hồ Chí Minh cũng đã đề cập vấn đề khoán
trong sản xuất: chế độ làm khoán là một điều kiện của CNXH, nó khuyến khích
ngời công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung
và lại lợi riêng làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dới chế độ ta hiện
nay.
(3)
37

Ban Bí th trung ơng Đảng (khoá IV) về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và
ngời lao động trong hợp tác xã nông nghiệp; Các Quyết định 25/CP, 26/CP của
Thủ tớng chính phủ năm 1982 về nhiều nguồn cân đối và kế hoạch 3 phần;
Nghị quyết Đại hội V (3 - 1982) với việc xác định lại thứ tự u tiên trong phát
triển kinh tế, khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; Nghị quyết Hội nghị
trung ơng tám (khoá V, tháng 6 1985) về giá, lơng, tiền; kết luận của Bộ
Chính trị (khoá V, tháng 6 1986) về ba quan điểm kinh tế lớn Đại hội VI
của Đảng (1986) đã khẳng định: nớc ta trong quá trình chuyển từ nền kinh tế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đại hội đã đa
ra những nhận thức mới về cơ cấu kinh tế, về công nghiệp hoá XHCN trong
chặng đờng đầu tiên, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và
thị trờng, phê phán triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và khẳng định
chuyển hẳn sang hoạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trơng phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết
hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con
ngời, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Thành công đầu tiên của Đảng tại
Đại hội VI là tạo dựng niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Với
những phê phán nghiêm khắc của Đảng về hàng loạt những sai lầm chủ quan dẫn
đến thực trạng đất nớc rơi vào khủng hoảng kinh tế.
Quá trình thực hiện Nghị quyết cảu Đại hội VI là một quá trình đầy khó
khăn gian khổ, đang đứng trớc những thử thách mới, nhng toàn Đảng, toàn dân
ta vẫn kiên trì thực hiện đổi mới theo tinh thần lấy dân làm gốc. Sức mạnh
của toàn Đảng, toàn dân đợc huy động vào thực hiện đổi mới về cơ chế, chính
sách trong phân phối, lu thông, đặc biệt là trong nông nghiệp.
Điểm đột phá đầu tiên là Nghị quyết Trung ơng 2 (khoá VI) về lu thông
theo hớng xoá bỏ những rào cản làm mất cân đối cung cầu. Thị trờng đợc cởi
trói thoát khỏi sợi dây bao cấp, góp phần bình hoà về cung cầu đúng với
thực chất của nền kinh tế quốc dân, tạo cơ sở để thực hiện bớc cải cách tiếp theo
là xoá bỏ chế độ tem, phiếu một đặc trng cảu cơ chế tập trung quan liêu, bao
cấp. Việc thông qua ba chơng trình kinh tế lớn thì vấn đề phát triển lực lợng sản

doanh. Tích cực xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình
thành cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc bằng pháp luật, kế hoạch,
chính sách và các công cụ khác.
Đại hội VIII của Đảng đã tiếp tục khẳng định đờng lối phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần trên đất nớc ta: Xây dựng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, đi đôi với tăng cờng vai trò
quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Tăng trởng kinh tế gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi
trờng sinh thái.
(1)
40
. Kinh tế thị trờng có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản
chất của CNXH, nhng ta vận dụng các hình thức kinh tế và phơng pháp quản lý
nền kinh tế thị trờng là để sử dụng mặt tích cực cảu nó, phục vụ cho mục đích
xây dựng CNXH chứ không phải là đi theo con đờng TBCN.
Tuy nhiên, đến Đại hội VIII, Đảng ta vẫn cha chính thức dùng khái niệm
kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện
nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
38
(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ IV, NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, Tr.47
39
(2) Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, Tr.11
40
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII, NXB CTQG, Hà Nội, 1996, Tr.72
23
vận động theo cơ chế thi trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN
(2)
41
.

chúng tôi cũng muốn làm chủ nớc mình.
(2)
43
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có quan điêm cần phải mở rộng quan hệ
với tất cả các nớc trên thế giới. Theo Ngời, với nớc nông nghiệp lạc hậu nh nớc
ta thì phát triển nguồn nội lực là vô cùng quan trọng song cũng cần phải có sự
giúp đỡ của quốc tế. Trong t tởng của Ngời thì Việt Nam sẵn sàng bắt tay hữu
nghị với bất cứ quốc gia nào thừa nhận nền độc lập, tự chủ của Việt Nam. Quan
41
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ IX, NXB CTQG, Hà Nội, 2001, Tr.86
42
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, T5, Tr.220, NXB. CTQG
43
(2) Philippe Dévillers: Pari Sài Gòn Hà Nội, Gallimard Juliard, Pari, 1988, P.130 131
24
điểm của Hồ Chí Minh về hợp tác đầu t với nớc ngoài, đặc biệt là các nớc t bản
lớn nh Pháp, Mỹ thực sự là t tởng vợt trớc thời đại.
Đất nớc ta bớc đổi mới do chịu ảnh hởng nặng nề của cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, đồng thời có t tởng biệt xử đối với các nớc t bản, cho rằng
những gì của CNTB đều là xấu, đều là không tốt mà chỉ có CNXH là tốt đẹp.
Nên quan hệ ngoại giao của nớc ta với các nớc trên thế giới bị hạn chế, làm ảnh
hởng không nhỏ đến sự phát triển của đất nớc, đồng thời không tranh thủ đợc
công nghệ của các nớc t bản vào phát triển kinh tế xã hội nớc ta. Nhận thức đợc
điều này, Đảng ta đã đổi mới lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Đảng ta chủ trơng mở
rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Các chủ trơng của
Đảng đợc thể hiện rõ qua các Đại hội VI, VII, VIII và Đại hội IX của Đảng.
Bằng chính sách đối ngoại: độc lập, tự chủ, tự cờng, thêm bạn bớt thù;
nắm bắt thời cơ giành thắng lợi cho cách mạng; mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế
với tất cả các nớc; các tổ chức quốc tế; các tổ chức ở khu vực, công ty t nhân ở n-
ớc ngoài trên nguyên tắc độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Đặc biệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status