Tư tưởng biện chứng trong triết học của Platon - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************* NGUYỄN THỊ HUYẾN

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG
TRONG TRIẾT HỌC CỦA PLATÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
Hà Nội - 2012
1
PHN M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Trong cụng cuc i mi nc ta hin nay, cụng tỏc nghiờn cu v
ging dy lch s trit hc cú mt ý ngha quan trng i vi vic i mi t
duy lý lun núi chung v s phỏt trin cỏc khoa hc, trit hc núi riờng.
nc ta trong sut thi gian di, do nhiu nguyờn nhõn khỏc nhau,
cụng vic ny dng nh cha c quan tõm ỳng mc. Cú th núi, chỳng
ta ch yu ch bit n trit hc mỏcxit, v nghiờn cu mt phn t tng ca
dõn tc ta v cng ớt nhiu nghiờn cu trit hc ngoi mỏcxit, nhng hu nh
cha chỳ ý n lch s trit hc. Th nhng khi nghiờn cu trit hc Mỏc -
Lờnin chỳng ta khụng th khụng nghiờn cu xem trit hc cỏc thi i khỏc
nh th no, trit hc Mỏc Lờnin ó tip thu mt cỏch cú phờ phỏn nhng
yu t no t trit hc ca nhng thi i trc ú.
Ph. ngghen ó tng núi: Mt dõn tc mun ng vng trờn nh cao
ca khoa hc thỡ khụng th khụng cú t duy lý lun, nhng t duy lý lun y
cn phi c phỏt trin hon thin, v mun hon thin nú thỡ cho ti nay,
khụng cú mt cỏch no khỏc hn l nghiờn cu ton b trit hc i trc
[31, 487]

Ngược lại cách nghĩ cách làm chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đến sai
lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, gây tổn thất cho cách mạng và quá trình phát
triển xã hội nói chung. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn
đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là một minh chứng cho điều đó. Hiện nay, đất nước
ta đang trong giai đoạn triển khai sâu rộng công cuộc đổi mới, tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc nắm vững bản chất phép biện chứng
duy vật càng là một nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy. Tiếp thu và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng là biện chứng chủ quan phản ánh biện chứng khách quan
của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nó đang là định hướng tư tưởng và là
công cụ tư duy sắc bén để đưa cách mạng nước ta tiến lên giành thắng lợi trên
con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo con đường XHCN.
Tuy nhiên để nắm được phép biện chứng mácxít, không thể không nghiên
cứu sự hình thành và phát triển những tư tưởng biện chứng trong lịch sử.
Hy Lạp cổ đại là một cái nôi của văn minh loài người, cũng là một
trong những cội nguồn của tư tưởng nhân loại. Việc nghiên cứu lịch sử tưởng
3
triết học Hy Lạp cổ đại – nguồn gốc sâu xa của triết học hiện đại là một yếu tố
cần thiết và quan trọng, bởi vì như Ăngghen đã từng khẳng định: “từ các hình
thức muôn vẻ của triết học Hy Lạp đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết
các loại thế giới quan sau này” [31, 491].
Một trong những trang sáng trong sự phát triển của tư duy biện chứng
trong lịch sử triết học nhân loại là phép biện chứng Hy lạp cổ đại, việc nghiên
cứu những tư tưởng biện chứng trong hệ thống triết học Platôn cũng có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, nghiên cứu vấn đề này không những giúp
chúng ta hiểu rõ hơn quá trình phát triển của tư duy nhân loại, những nhận
thức đúng đắn về giá trị cũng như hạn chế của tư tưởng biện chứng Platôn, mà

mình bao giờ họ cũng phải nắm vững lịch sử triết học trước đó. Ở nước ngoài,
trong số các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học có đề cập đến học thuyết
của Platôn mà chúng tôi có được nghe đến qua bài giảng của các giáo viên, có
thể kể ra một số công trình của các nhà triết học Liên xô thuộc lớp đầu tiên như
M. Asmus, Ph. Lôxev, V. Charnưsev… Trên quan điểm duy vật, các tác giả
nêu trên chủ yếu soi xét khía cạnh duy tâm thể hiện qua học thuyết ý niệm hoặc
tư tưởng, đạo đức, chính trị - xã hội, mỹ học… trong triết học Platôn.
Ngay từ khi miền Bắc vừa được giải phóng (1957), học giả Đặng Thai
Mai đã dịch cuốn sách “Lịch sử triết học phương Tây” [54] của tập thể tác giả
Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, có thể nói đây là một trong những cuốn
sách đầu tiên về lịch sử triết học phương Tây được giới thiệu ở nước ta, trong
đó các tác giả cũng đã dành thời lượng đáng kể cho triết học Platôn; Mãi đến
cuối những năm 90 của thế kỷ trước bộ sách “Lịch sử phép biện chứng” cũng
của các nhà triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô mới được dịch
và giới thiệu ở nước ta, bộ sách đã cung cấp cho người đọc những tri thức có
hệ thống về lịch sử ra đời và sự phát triển của phép biện chứng qua các thời
đại lịch sử chủ yếu. Chúng tôi chú ý đến tập 1 của bộ sách có tiêu đề “Phép
biện chứng cổ đại” [55], bởi trong đó có thể tìm thấy những chỉ dẫn mang tính
định hướng về nội dung phép biện chứng và phương pháp triết học của Platôn
và sự đánh giá chủ yếu của các tác giả Liên Xô về nó.
5
Cũng liên quan đến đề tài, tác giả Karl Popper trong những năm giữa
thế kỷ XX đã viết cuốn “Xã hội mở và kẻ thù của nó” [47] và đến đầu những
năm 2000 cuốn sách gồm hai tập khá nổi tiếng này đã được dịch và xuất bản
bằng tiếng Việt, trong đó có phân tích sự phát triển của tư tưởng triết học từ
Hy Lạp cổ đại đến Hêghen và C.Mác. Tập 1 của cuốn sách trình bày những tư
tưởng của triết học Hy Lạp mà chủ yếu là Platôn. Như nhận định của Nguyễn

đối lập) chẳng qua chỉ là sự lặp lại các yếu tố của các nhà biện chứng duy tâm
trường phái Ele, của phái ngụy biện mà thôi. Ngoài ra tác giả còn trình bày
các quan niệm triết học của trường phái Xôcrát, Platôn và một số triết gia
khác… Dù sao vẫn có thể nói, trong công trình này, tư tưởng biện chứng
trong triết học Platôn đã ít nhiều được đặt ra bàn luận.
Cũng đề cập đến những vấn đề trên là một số công trình nghiên cứu về
triết học Hy Lạp cổ đại của các tác giả Hà Thúc Minh “Triết học cổ đại Hy
Lạp – La Mã” [34]; Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên): “Lịch sử triết học” [56];
Đinh Ngọc Thạch “Triết học Hy Lạp cổ đại” [52]. Ngoài những công trình đó,
còn có một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học trong đó có cả triết
học Xôcrát (được chúng tôi coi như một trong những tiền đề qua trọng của
triết học nói chung và phép biện chứng của Platôn nói riêng) và triết học
Platôn như của tác giả Lê Tôn Nghiêm “Lịch sử triết học Tây Phương” [37];
Bùi Thanh Quất (chủ biên) “Lịch sử triết học” [49].
Bên cạnh đó, còn một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học nói
chung, trong đó có bàn tới cả triết học Hy Lạp cổ đại, triết học Xôcrát và triết
học Platôn như “Lịch sử triết học”, tập 1 “Triết học cổ đại” [36] do các tác
giả Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính chủ biên, trong đó tư tưởng của Platôn
được trình bày chi tiết hơn với học thuyết ý niệm, tâm lý học, nhận thức luận,
lôgíc học, triết học xã hội, tư tưởng thẩm mỹ - nghệ thuật.
Cuốn sách “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” [21], do các tác giả
Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn biên soạn, đã thể hiện rõ
quyết tâm của các giảng viên triết học Việt Nam muốn trình bày các vấn đề rất
khó của triết học, trong đó có của Platôn, một cách giản dị và dễ hiểu so với
7
một số cuốn sách ngoài và trong nước khác. Trong cuốn sách tham khảo này,
quan điểm nhân học, học thuyết của Xôcrát, học thuyết ý niệm, nhận thức luận

luận văn kế thừa, tham khảo có chọn lọc ý tưởng của những nghiên cứu trước
liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn quán triệt nguyên tắc thống nhất
lôgíc và lịch sử, đồng thời sử dụng kết hợp một số phương pháp khác như
phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, so sánh…
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng biện chứng trong triết
học của Platôn.
Phạm vi nghiên cứu trong khoảng thời gian thế kỷ thứ V – IV tr. CN.
Trong khuôn khổ một số trước tác quan trọng nhất của Platôn, chúng tôi sử
dụng nguồn tư liệu là các tác phẩm của Platôn đã được dịch ra tiếng việt.
Trong khi nghiên cứu, trình bày tư tưởng của Platôn, luận văn có viện dẫn tới
quan điểm của một số tác giả khác làm cơ sở để đánh giá tư tưởng biện chứng
của Platôn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng biện
chứng của Platôn, làm thay đổi một vài quan niệm cố hữu khá tiêu cực trước
đây về hệ thống và phương pháp của triết học Platôn.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần vào nghiên cứu quá trình hình
thành và những nội dung chính của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy
Lạp cổ đại nói chung, triết học Platôn nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử triết học nói chung, lịch sử
triết học Hy Lạp nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 2 chương, 7 tiết.
10
Hy Lạp với các nước, các vùng văn minh khác thời kỳ đó không ngừng được
mở rộng về mọi mặt.
Từ cuộc di cư ồ ạt vào các thế kỉ VIII – VII Tr. CN., người Hy Lạp
chiếm thêm miền Nam Italia, đảo Sicily, vùng ven biển Đen. Sau này những
cuộc viễn chinh toàn thắng của Alêchxanđrơ vào cuối thế kỉ IV tr. CN. (đây là
những năm cuối đời của Platôn) đã đưa đến sự ra đời của các quốc gia Hy Lạp
trải rộng từ Sicily ở phía tây sang Ấn Độ ở phía đông, từ biển Đen ở phía bắc
đến tiếp giáp sông Nil ở phía nam.
Miền lục địa Hy Lạp có thể chia thành 3 khu vực: Bắc, Trung và Nam
Hy Lạp. Nét nổi bật của địa hình Hy Lạp là ở 3 khu vực đều có sự đan xen
của những cấu trúc đồng bằng, cao nguyên, rừng, núi, đồi, sông, suối… Từ
Bắc xuống Nam, về đường bộ, người Hy Lạp buộc phải vượt qua đèo
Técmôpin. Miền trung Hy Lạp có địa hình khác hẳn, ở đây có nhiều rừng núi
chạy dọc, ngang đã chia vùng này thành nhiều khu vực địa lý nhỏ. Đây là
vùng có nhiều đồng bằng trù phú như đồng bằng Áttích và Bêôxi. Đồng thời ở
đây còn có nhiều thành phố quan trọng, thành phố được biết đến nhiều nhất là
Aten. Nam Hy Lạp là một bán đảo nhỏ, hình bàn tay có 4 ngón duỗi thẳng
xuống Địa Trung Hải. Đây là vùng đất trù phú nhất với nhiều đồng bằng như
Lacôni, Métxêni. Người Hy Lạp gọi bán đảo này là Pêlôpône. Vùng bờ biển
phía đông của Hy Lạp khúc khuỷu, hình răng cưa tạo ra nhiều vịnh, nhiều hải
cảng tự nhiên, an toàn, thuận tiện cho việc đi lại của tàu thuyền, tạo điều kiện
phát triển hải cảng. Bờ biển phía tây của miền Tiểu Á cũng có địa hình tương
tự như bờ phía đông lục địa Hy Lạp. Vùng đất liền ven bờ biển Tiểu Á là
vùng đất trù phú, tạo thành hành lang nối Hy Lạp với các nền văn minh
phương Đông.
Hy Lạp cổ đại có nhiều đảo lớn, nhỏ nằm rải rác trên vùng biển Egiê

học cơ bản, đồng thời đây cũng là một quốc gia đầu tiên có tư duy triết học
đạt đến trình độ cao. Ăngghen từng nói: “ trong triết học cũng như trong
12
nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân
tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra
cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được
trong lịch sử phát triển của nhân loại” [31, 491].
Triết học Platôn gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành phát triển của
xã hội và nhà nước Hy Lạp chiếm hữu nô lệ. Đó đã là thời kỳ hoàn thành
bước quá độ từ xã hội thị tộc không giai cấp đến một xã hội phân chia thành
giai cấp chủ nô và nô lệ. Sự quá độ đó không phải là con đường bằng phẳng,
hòa bình mà là một cuộc đấu tranh một mất một còn gay gắt chịu sự tác động
ở một mức độ nhất định của lối sống và tổ chức xã hội từ phương Đông (Ai
Cập) cổ đại mà bản thân Platôn đã suy ngẫm rất nhiều và có tham khảo nhất
định khi xây dựng học thuyết của mình về nhà nước.
Chi tiết hơn có thể thấy, về nguồn gốc người Hy Lạp có tổ tiên là
những bộ tộc ngữ hệ Á – Âu từ hạ lưu sông Đanuyp di cư xuống miền Nam
bán đảo Bancăng rồi định cư ở khu vực ven biển Egiê. Khoảng năm 1700 tr.
CN, một bộ lạc của người Hy Lạp là Akêen chinh phục các bộ lạc địa phương
và làm chủ bán đảo Hy Lạp. Vào thế kỷ XV cho đến thế kỷ IX tr. CN., xu
hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã hiện dần và ngày càng lộ rõ.
Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ thứ
VII Tr. CN. là lực đẩy quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu trong khu
vực, dẫn đến sự ra đời các thành bang (Polis) và các trung tâm văn hoá lớn
như Aten, Spác.
Chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời. Xã hội
có giai cấp đầu tiên của loài người xuất hiện. Giai cấp chủ nô và nô lệ là hai giai

chân tay. Đây cũng chính là lần phân công lao động lần thứ hai, nó làm sâu sắc
hơn sự phân công lao động xã hội và là bối cảnh rất quan trọng thúc đẩy sự
hình thành tư duy trừu tượng khá sớm ở người Hy Lạp. Lúc này, những người
lao động trí óc đầu tiên cũng xuất hiện ở Aten. Họ là một bộ phận được học
14
hành trong giai cấp chủ nô giàu có. Điều này góp phần làm nảy sinh các ngành
khoa học, trong đó có triết học. Đi liền với sự phát triển kinh tế là sự hình thành
các đô thị - những trung tâm hành chính, thủ công nghiệp, buôn bán, văn hoá,
khoa học đầu tiên của nhân loại. Sự chia tách giữa lao động trí óc và lao động
chân tay tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học và là những tiền
đề cho sự ra đời của triết học ở thời kỳ trước Platôn.
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr. CN là thời kỳ hình thành và phát triển
các thành bang tại Hy Lạp, đó cũng là thời kỳ xác lập và củng cố chế độ nô lệ
ở Hy Lạp. Hai thành bang lớn nhất - hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa
của Hy Lạp Cổ đại là Aten và Spác. Aten nằm trên đồng bằng Attích – cũng
là nơi Platôn đã sinh ra và hoạt động, - có điều kiện thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Còn Spác nằm trên vùng
bình nguyên Laconi thích hợp cho phát triển chủ yếu là nông nghiệp.
Chế độ nô lệ ở Hy Lạp là chế độ nô lệ rất điển hình với hai giai cấp cơ
bản là chủ nô và nô lệ. Giai cấp chủ nô đã bóc lột nô lệ hết sức dã man, và do
đó các cuộc đấu tranh của nô lệ chống lại chủ nô cũng liên tục diễn ra. Quan
hệ nô lệ và chủ nô đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội Hy
Lạp cổ đại.
Giai cấp chủ nô của Hy Lạp cổ đại lại được chia ra thành chủ nô quý
tộc và chủ nô dân chủ. Trung tâm chính trị của chủ nô quý tộc là ở Spác, với
hình thức nhà nước chủ nô quân chủ. Trung tâm chính trị của chủ nô dân chủ
ở Aten với hình thức nhà nước chủ nô dân chủ. Đó cũng là hai hình thức nhà

trong lịch sử. Trong số 400 ngàn dân Aten lúc đó có tới 250 ngàn nô lệ -
những người không có quyền lợi về mặt chính trị, trong số 150 ngàn người
còn lại chỉ có số ít được đại diện để bàn bạc và quyết định những vấn đề của
quốc gia. Hội đồng Nguyên lão là cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia.
Thành bang Spác nằm trên bình nguyên Laconi thuộc Pelôpône, miền
Nam Hy Lạp. Tổ tiên người Spác thuộc dòng dõi Đôrien di cư từ miền bắc
xuống, sau đó chinh phục thổ dân Hiốt, biến họ thành nô lệ. Laconi là vùng
16
đất màu mỡ, phì nhiêu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Người Spác vấp
phải sư phản kháng thường xuyên của nô lệ Hilốt.
Để ngăn chặn những cuộc phản kháng đó, Spác đã dựng lên kiểu nhà
nước quân sự với chế độ cai trị hà khắc và phản động (trẻ em từ bảy tuổi phải
sống trong doanh trại để học quân sự cho đến hai mươi tuổi mới được coi là
công dân và phải đi lính đến sáu mươi tuổi). Những quan sát từ Spác đã có
ảnh hưởng rất lớn đến suy tư của Platôn về nhà nước“Lý tưởng”.
Ở đây có sự khác biệt rất lớn giữa hai chế độ chính trị của hai thành
bang Hy Lạp cổ đại, do đó cuộc chiến tranh giữa hai thành bang không chỉ
đơn thuần là sự tranh giành quyền lực kinh tế, mà còn phản ánh cuộc đấu
tranh giai cấp quyết liệt giữa một bên là Aten – do tầng lớp chủ nô dân chủ
đứng đầu và một bên là Spác do tầng lớp chủ nô quý tộc bảo thủ phản động
cầm đầu. Nếu như những người Aten muốn xây dựng một chế độ cộng hòa
dân chủ chủ nô phù hợp với xu hướng tiến bộ của lịch sử và phần nào có thể
phản ánh được lợi ích của giai cấp nô lệ bị trị, thì Spác lại muốn đàn áp chế
độ dân chủ, xây dựng chế độ quân phiệt độc tài. Cuộc chiến tranh diễn ra giữa
Aten và Spác còn có tên gọi khác là cuộc chiến tranh Pôlôpôle, diễn ra hàng
chục năm và do sự giúp đỡ của đế quốc Ba tư nên Aten đã bị bại trận trước
Spác. Điều này cũng là một bi kịch trong cuộc đời Plaiôn.

đó gần 2 thế kỷ Platôn đã tiên đoán được.
Cùng với sự phát triển về kinh tế và sự hình thành, phát triển xã hội nô
lệ, Hy Lạp đến thời Platôn sống đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về khoa
học, văn học, nghệ thuật, mà trước hết là các thành tựu trong khoa học tự
nhiên như thiên văn học, vật lý học, toán học v.v. Nói chung, Hy Lạp cổ đại
đã trở thành một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Triết học
Hy Lạp cổ đại cũng đã phát triển hết sức rực rỡ - trong đó có sự đóng góp to
lớn của Platôn, và trở thành nền tảng cho sự phát triển của triết học phương
Tây sau này.
Đó là do sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp,
thương nghiệp và hàng hải của Hy Lạp cổ đại đã đặt ra những nhu cầu thực tiễn
18
thúc đẩy sự phát sinh và phát triển những tri thức thiên văn học, khí tượng học,
toán học và vật lý học. Và người thời đó đã đạt được những thành tựu quan
trọng, ví dụ như Talét phát minh ra lịch một năm gồm 12 tháng với 365 ngày,
những phát kiến về toán học của Talét và Pitago, hình học của Ơcơlít, vật lý học
của Acsimét đã tạo điều kiện rất lớn thúc đẩy sự hình thành triết học, hình thành
những tư tưởng biện chứng. Những tri thức này đòi phải giải thích tự nhiên như là
tổng thể. Chúng làm cho các quan niệm thần thoại truyền thống và các tôn giáo
nguyên thuỷ vào khoảng thế kỷ VII -VI tr. CN đã không còn đáp ứng và lý giải
được những vấn đề mới của thế giới quan. Những khám phá khoa học đầu tiên
của con người cổ đại đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ quan và nhân
sinh quan của các tôn giáo và thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lý giải
mới về thế giới xung quanh và cuộc sống của mình. Trong hình thức sơ khai ban
đầu những tri thức này xen kẽ với tri thức triết học, với quan điểm chính trị và
chúng gắn quyện với nhau tạo thành một khối thống nhất chặt chẽ không thể chia
cắt được. Lúc này (qua cả Platôn cho đến tận sau Aristôt), triết học và các khoa

ra một trong những nền văn hoá rực rỡ nhất, sớm nhất của nhân loại. Nó vẫn
còn giá trị cho đến tận ngày nay. Quá trình lịch sử trên đây góp phần tạo lên
sự hình thành và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại,
trong đó có triết học.
Sự hình thành triết học cũng như tư tưởng biện chứng ở Hy Lạp Cổ đại
không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của việc kế thừa
những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân gian, trong thần
thoại, trong các hình thái sinh hoạt tôn giáo, trong các mầm mống của tri thức
khoa học và là kết quả của đời sống kinh tế - xã hội.
Những điều kiện lịch sử cụ thể, những cơ sở của một nền kinh tế - xã
hội phát triển đến một trình độ nhất định đã làm thành tiền đề cho những tư
tưởng triết học, biện chứng ngây thơ ở Hy Lạp cổ đại ra đời (và Platôn không
phải là ngoại lệ). Và sự xuất hiện của các nhà triết học đầu tiên đã làm sự phát
triển của thần thoại phải chấm dứt. Những viễn cảnh bóng bẩy do tư duy của
20
con người tạo ra đã bớt đi sự hấp dẫn trong khi những nhu cầu của đời sống
thường nhật đã trở nên bức bách đòi hỏi phải được cắt nghĩa bằng tri thức
chân thực. Niềm tin chất phác, ngây thơ vào sự tồn tại của thần thánh đã được
thay thế bằng những luận giải sâu sắc hơn của lý tính, của sự thông thái.
Với tính cách là tinh hoa tinh thần của thời đại, những tri thức triết học
đã cố gắng đem đến lời giải đáp nghiêm túc, sâu sắc, hợp lý, có hệ thống về
những gì diễn ra xung quanh, về vị trí của con người trong thế giới và thế giới
của chính con người, do con người tạo ra cùng những giá trị, chuẩn mực,
những định hướng cho mình (Và Platôn đã có những đóng góp không nhỏ
theo hướng này). Đó là lí do vì sao các nhà triết học lại được gọi là những
người yêu mến sự thông thái.
Triết học Hy Lạp không chỉ hình thành, ra đời ở một địa điểm, mà nó

nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy lạp” [31, 254].
Giữa thế kỷ IV tr. CN. ở Hy Lạp cổ đại đã bắt đầu xuất hiện những
mầm mống của xã hội mới, và đến thế kỷ II tr. CN Hy Lạp đã bị La Mã thôn
tính, từ đây nền văn minh Hy Lạp cổ đại bước vào giai đoạn suy tàn.
Cùng với sự tan rã của chế độ nô lệ Hy Lạp thì nền triết học mà nó đẻ
ra cũng bị chia rẽ sâu sắc. Platôn là người đã linh cảm và được chứng kiến
bước khởi đầu của quá trình đó. Thực trạng này đã biểu hiện vào trong sự
chuyển hướng của triết học. Triết học thời kỳ này chuyển sang đặc biệt chú ý
đến vấn đề giáo dục, phẩm hạnh của cá nhân hơn là sự nghiên cứu về bản thân
tự nhiên, về sinh hoạt của xã hội. Triết học bắt đầu bị hạn chế trong khuôn
khổ lợi ích của cá nhân. Người ta đã thảo ra bao nhiêu đề án về đạo đức, lẽ cố
nhiên chỉ có thể giúp cho giai cấp chủ nô đã già cỗi được sống khỏe thêm,
sống dai hơn và bình tĩnh hơn ít lúc nữa mà thôi. Sự suy tàn và tan rã của các
quan hệ xã hội, những chấn động xã hội mà Hy Lạp trải qua đã làm cho họ
thất vọng sâu sắc về những trật tự chính trị - xã hội hiện tồn và những quan
điểm, những lý tưởng gắn liền với chúng. Khi đó, họ hoàn toàn không nhận
22
thấy không những cần phải mà còn có thể thay thế những trật tự, những quan
điểm, những lý tưởng nào cho những trật tự, những quan điểm và những lý
tưởng đã trở nên lỗi thời.
1.2. Các tiền đề lý luận
Sẽ không thể làm sáng tỏ được bản chất của các tư tưởng biện chứng
của Platôn, nếu không nghiên cứu những tư tưởng được đưa ra một cách sơ
bộ và được phát triển từ khá lâu trước Platôn, nói cách khác, nếu không
nghiên cứu những tư tưởng mà Platôn sẽ phê phán để kế thừa hoặc phát triển
ở một chừng mực nào đó. Platôn sống vào thời kỳ kinh điển của triết học Hy
Lạp cổ đại, trước đó là thời kỳ tiền Xôcrat, mà ở thời kỳ này rất đáng lưu ý

"thức - ngủ” [53; 103] tất cả chúng đều "cặp đôi”, không thể được suy tư
thiếu nhau. Tính tương quan của các khái niệm đối lập là đặc trưng quan hệ
lôgíc quan trọng giữa chúng, và việc Hêraclit khám phá ra nó cho dù chưa
diễn đạt được bằng các công thức lôgíc chặt chẽ (để làm được điều đó thì còn
thiếu chính thủ thuật định nghĩa) đã là sự đi trước (chuẩn bị) cho "sự phân
đôi”, nguyên tắc phân chia khái niệm sau này ở Platôn.
Nếu tính tương quan của các khái niệm thể hiện mối liên hệ tất yếu của
các mặt đối lập, thì tính tương đối của chúng lại ghi nhận trước hết là sự khác
biệt các quan hệ, mà trong đó có sự tham dự của các khái niệm tương quan,
nhất là các đánh giá của con người: đẹp và xấu, tự hào và xấu hổ, lợi và hại.
Ai cũng biết những so sánh như "Con khỉ đẹp nhất cũng không sánh được một
người xấu nhất”, "Người sáng suốt nhất so với Thượng đế cũng chỉ là con khỉ
xét về trí tuệ, sắc đẹp, v.v.” [53, 104] của Hêraclit. Tính tương đối của các
khái niệm do Hêraclit xác lập ở đây đã mở đường cho việc hình thành nguyên
tắc phi mâu thuẫn quan trọng nhất của lôgíc học hình thức sẽ được Platôn kế
thừa, theo đó mâu thuẫn là được phép trong các quan hệ khác nhau: các khái
niệm tương đối không loại trừ nhau, chúng có thể cùng tồn tại để phản ánh
các mặt khác nhau của khách thể.

Trích đoạn Học thuyết ý niệm của Platụn Về khỏi niệm “biện chứng” Phộp biện chứng như là lụgớc học trong học thuyết “sơ kỳ” về ý Mối liờn hệ giữa chủ nghĩa duy tõm khỏch quan với tư tưởng biện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status