tư tưởng biện chứng trong triết học của v ph hêghen - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TƢ TƢỞNG BIỆN CHỨNG TRONG
TRIẾT HỌC CỦA V.PH.HÊGHEN

Chuyên ngành : Sƣ phạm Giáo Dục Công Dân
Mã ngành : 52140204
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS. Lê Ngọc Triết Nguyễn Thị Diểm Kiều
MSSV: 6106621
Cần Thơ, 12/2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƢƠNG I 4
TƢ TƢỞNG BIỆN CHỨNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG BIỆN
CHỨNG 4
1.1. Tƣ tƣởng biện chứng 4
1.2. Lịch sử phát triển tƣ tƣởng biện chứng trong lịch sử triết học 7
CHƢƠNG II 29
TƢ TƢỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC CỦA V.PH.HÊGHEN 29
2.1. V.Ph.Hêghen và nội dung cơ bản trong triết học V.Ph.Hêghen 29
2.2. Quan điểm biện chứng trong triết học V.Ph.Hêghen 42
PHẦN KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của nền triết học đã trải qua rất nhiều giai đoạn. Triết học ra
đời khi năng lực tƣ duy trừu tƣợng của con ngƣời đạt đến trình độ nhất định và phát
triển ở đỉnh cao cho tới thời kỳ trung cổ là triết học cổ điển Đức.
Nƣớc Đức cuối thế kỷ XVIII, bóng dáng của các cuộc cách mạng tƣ sản còn xa
vời. Nhƣng bên cạnh tình trạng lạc hậu về chính trị và kinh tế lại xuất hiện một nền
văn hóa sáng lạng, đem lại cho con ngƣời những viễn cảnh tốt đẹp về tƣơng lai. Về
triết học có một trào lƣu làm nền “triết học ánh sáng” với những nhà tƣ tƣởng lớn nhƣ
I.Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh, V.Ph.Hêghen… Tuy bản chất là duy tâm, nhƣng đều có tƣ
tƣởng phản kháng chế độ xã hội đen tối lúc bấy giờ.

3. Mục đích nghiên cứu
- Nhận thức đúng về tƣ tƣởng biện chứng và lịch sử phát triển của tƣ tƣởng
biện chứng trong lịch sử triết học.
- Làm sáng tỏ những nội dung cơ bản về triết học V.Ph.Hêghen.
- Trình bày và làm rõ những quan điểm - tƣ tƣởng biện chứng trong triết học
của V.Ph.Hêghen qua đó muốn nói đến vị trí của triết học V.Ph.Hêghen cũng nhƣ tƣ
tƣởng biện chứng của ông trong nền triết học cổ điển Đức.
- Tìm ra tính tích cực và tính hạn chế trong quan điểm triết học của
V.Ph.Hêghen.
- Nghiên cứu về triết học V.Ph.Hêghen để nhận thức đúng những nét đặc thù
đồng thời cũng là để đánh giá chính xác hơn ý nghĩa về tƣ tƣởng biện chứng trong triết
học V.Ph.Hêghen đối với sự phát triển của tƣ tƣởng triết học nói chung; hiểu sâu về
triết học C.Mác - V.I.Lênin, để biết về tiền đề mà C.Mác và Ăng ghen đã dựa vào triết
học V.Ph.Hêghen nhƣ thế nào, có nghĩa là tìm hiểu xem V.Ph.Hêghen có đóng góp gì
cho triết học của nhân loại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Quán triệt các nguyên tắc của phép biện chứng duy tâm.
- Kết hợp các phƣơng pháp đối chiếu và so sánh, phân tích và tổng hợp,
phƣơng pháp logic, liệt kê, phƣơng pháp lịch sử… 3
5. Kết cấu đề tài
- Luận văn ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham
khảo thì phần nội dung đƣợc kết cấu thành hai chƣơng, bốn tiết.
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I
TƢ TƢỞNG BIỆN CHỨNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
TƢ TƢỞNG BIỆN CHỨNG

những phản ánh của chúng trong tƣ tƣởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của
chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và tiêu vong của chúng.
Phƣơng pháp biện chứng có nền tảng từ những cuộc đối thoại giữa hai hay
nhiều ngƣời với những ý kiến, tƣ tƣởng khác nhau và cùng mong muốn thuyết phục
ngƣời khác. Phƣơng pháp này khác với hùng biện, trong đó một bài diễn thuyết tƣơng
đối dài do một ngƣời đƣa ra - một phƣơng pháp đƣợc những ngƣời ngụy biện ủng hộ.
Nhiều dạng khác nhau của biện chứng nổi lên ở phƣơng Đông và phƣơng Tây theo
những thời kỳ lịch sử khác nhau. Những trƣờng phái chính theo phƣơng pháp biện
chứng là trƣờng phái Socrates, đạo Hindu, đạo Phật, biện chứng Trung cổ, trƣờng phái
Hêghen và chủ nghĩa Marx.
Ở Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng đã có trong triết học của hầu hết các nhà
triết học, nhƣ trƣờng phái triết học Milê mà đại biểu tiêu biểu là Talét, Anaximen.
Đến Hêraclít (khoảng 540 – 475 TCN) đã thể hiện khá rõ quan niệm về vận động và
phát triển. Ông khẳng định “mọi đều trôi đi đều chảy lại”. Ngƣời đầu tiên sử dụng
thuật ngữ “phép biện chứng” là Xôcrát với ý nghĩa là nghệ thuật tranh luận để tìm ra
chân nguyên lý. Đây cũng là cách hiểu phổ biến của ngƣời Hy Lạp cổ đại, về sau học
trò của Xôcrát và Platôn đã coi phép biện chứng là nghệ thuật đối thoại dƣới hình
thức hỏi – đáp, phân tích và liên kết các khái niệm để đạt tới định nghĩa đúng đắn về
khái niệm đó. Những quan niệm và tƣ tƣởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể
trong thế giới quan triết học của ngƣời Hy Lạp cổ đại. Về thực chất, những quan niệm
và tƣ tƣởng biện chứng đó đã xuất hiện cùng với triết học. Xét trên nhiều phƣơng diện,
có thể đánh giá phép biện chứng là một hiện tƣợng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn
cũng nhƣ triết học.
Cùng với sự vận động và phát triển của cuộc sống thực tiễn, và sự phát triển
của nhận thức của con ngƣời, thuật ngữ “Phép biện chứng” ngày càng đi xa hơn ý
nghĩa ban đầu và đƣợc bổ sung những nội dung mới, phong phú hơn. Đến
V.Ph.Hêghen (1770 – 1831), nhà triết học duy tâm khách quan ngƣời Đức, thuật ngữ
6
này đã đƣợc phát triển khá toàn diện. Ông là ngƣời đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép
biện chứng” sát với nghĩa hiện đại, C.Mác đã từng đánh giá V.Ph.Hêghen “lần đầu tiên

hiểu rõ cơ sở logic của nó” [20, tr60].
Tóm lại, Biện chứng: Là phƣơng pháp xem xét những sự vật hiện tƣợng và
những phản ánh của chúng vào tƣ duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của chúng,
trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng.
“Toàn bộ vấn đề của phép biện chứng là vấn đề là vấn đề lý giải về sự phát
triển, về tính mâu thuẫn của tự nhiên và tƣ duy, về sự đấu tranh và đồng nhất (thống
nhất) của các mặt đối lập, về các vấn đề gắn liền với nó (vấn đề về sự thống nhất và mối
quan hệ qua lại, về sự phủ định, về tính chất tiệm tiến của sự phát triển…” [20, tr44].
Nội dung và phạm vi đi đến của phép biện chứng là rất sâu và rộng. Nó chính
là chìa khóa vàng để giúp con ngƣời có thể nhận thức và chinh phục thế giới. Lịch sử
tƣ tƣởng và thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng: khi nào chúng ta nắm vững lý
luận biện chứng, biết vận dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh cụ thể thì vai trò, hiệu
lực cải tạo tự nhiên đƣợc tăng cƣờng. Ngƣợc lại, cách nghĩ cách làm chủ quan duy ý
chí sẽ dễ dẫn đến sai lầm, gây tổn thƣơng cho cách mạng và xã hội nói chung.
Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới
cao. Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại và lịch sử phát triển của nó trải qua một
số giai đoạn cơ bản.
1.2. Lịch sử phát triển tƣ tƣởng biện chứng trong lịch sử triết học
“Xét trên nhiều phƣơng diện, có thể đánh giá phép biện chứng là một hiện
tƣợng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn cũng nhƣ triết học” [20, tr43]. Trong lịch sử
triết học thì phƣơng pháp biện chứng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Phép biện
chứng đƣợc bắt đầu từ thời cổ đại, tiếp theo đó là phép biện chứng duy tâm cổ điển
Đức và sau cùng là phép biện chứng duy vật Mácxít.
- Phép biện chứng cổ đại
Phép biện chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ và mang tính
trực quan đƣợc hình thành trên cơ sở những quan sát tự nhiên, xã hội hoặc là kinh
nghiệm của bản thân. Trung tâm lớn của triết học thời bấy giờ là triết học trung hoa cổ
đại. Do đặc điểm văn hoá cũng nhƣ hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tƣ
tƣởng biện chứng. Trong học thuyết triết học cũng có những đặc điểm. Không giống
nhau, nhƣng nói chung cả 3 nền triết học lớn đều có những đặc điểm nêu trên.

9
Tuy nhiên, về bản thể luận, phái Samkhya theo quan điểm nhị nguyên khi thừa
nhận sự tồn tại song song của hai bản nguyên của vũ trụ là bản nguyên vật chất Prakriti
và bản nguyên tinh thần Prusa.
+ Triết học Jaina.
Jaina là một học thuyết triết học không chính thống. Jaina ra đời vào khoảng
thế kỷ thứ VI tr.CN và gắn liền với tên tuổi ngƣời sáng lập là nhà hiền triết Maharvira.
Đến năm 79 sau công nguyên, trƣờng phái Jaina đƣợc chia làm hai phái là phái không
y (lõa hình) và phái bạch y (mặc áo trắng).
Nội dung cơ bản của triết học Jaina là lý luận về thực thể tồn tại và thuyết
tƣơng đối. Theo quan niệm của phái Jaina thì thực thể là cái đầu tiên tạo nên thế giới,
họ chia thực thể ra làm hai loại là sống và không sống. Thực thể sống (Jiva) là thực thể
có lý trí, có linh hồn. Nó bao gồm các loại nhƣ thần, quỷ, ngƣời, động vật, và cây
cỏ…Còn thực thể không sống (Ajiva) là thực thể không có lý trí , không có linh hồn.
Nó bao gồm không gian, thời gian, vận động, nghỉ ngơi và vật chất. Giữa thực thể sống
và không sống luôn liên kết với nhau, tác động qua lại với nhau
Tƣ tƣởng biện chứng của phái Jaina thể hiện ở học thuyết tƣơng đối. Theo đó,
tồn tại vừa là bất biến lại vừa biến chuyển. Cái vĩnh hằng là bản thể còn cái không vĩnh
hằng luôn biến đổi là các dạng của bản thể. Điều đó có nghĩa là thế giới bao quanh con
ngƣời vừa vận động lại vừa đứng yên, đó là mâu thuẫn mà con ngƣời chúng ta phải
chấp nhận.
+ Triết học Lokayata.
Tên Lokayata hay Carvaka thƣờng đƣợc hiểu là thứ triết học phổ biến trong
nhân dân, hay là triết học lấy vật chất làm cơ sở. Đây là một trƣờng phái duy vật vô
thần triệt để đƣợc hình thành rất sớm gắn bó với tên tuổi nhà triết học Brihaspati
Theo phái Lokayata, mọi sự vật, hiện tƣợng của thế giới đƣợc tạo thành từ bốn
nguyên tố vật lý là: Đất, nƣớc, lửa và không khí. Các nguyên tố này tự tồn tại, tự vận
động trong không gian mà tạo thành tất cả vạn vật, kể cả bản thân con ngƣời cũng là
kết quả của sự kết hợp các nguyên tố trên. Không có linh hồn bất tử, linh hồn hay ý
thức chỉ là một thuộc tính của cơ thể, ý thức do vật chất sinh ra nhƣ gạo nấu thành

nhìn siêu hình về tồn tại. Cũng từ cách nhìn này, triết học phật giáo đƣa ra những
nguyên lý về mối liên hệ tất định., phổ biến: Không có cái nào biệt lập tuyệt đối so với
tồn tại khác, tất cả hòa đồng nhau.
11
- Vô thƣờng cho rằng thế giới là dòng biến chảy không ngừng, không nghỉ
theo chu kì bất tận: Sinh, trụ, dị, diệt (hay thành, trụ, hoại, không). Do đó không có cái
gì là trƣờng tồn bất định chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng. Đây là một phỏng
đoán biện chứng về sự biến đổi của tồn tại.
- Quy luật nhân quả cho rằng sự tồn tại đa dạng và phong phú của thế giới đều
có nguyên nhân tự thân, đó chính là quy luật nhân quả, một định lý tất định và phổ
biến của mọi tồn tại, dù đó là vũ trụ hay nhân sinh.
Phật giáo cho rằng sự tƣơng tác giữa 2 mặt đối lập nhân giả hay nhân duyên
chính là động lực làm cho thế giới vận động chứ không phải là một thế lực siêu nhân
nào đó nằm ngoài con ngƣời, thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói khác một
sự vật hiện tƣợng tồn tại đƣợc là nhờ hội tụ đủ 2 giới “nhân – duyên”. Tuy đạo phật đã
có những bƣớc phát triển lớn vì biện chứng nhƣng nó vẫn còn mang tính vô thần
không triệt để, bi quan …
Nhìn chung, triết học Ấn Độ cổ đại là một trong những cái nôi triết học vĩ đại
của loài ngƣời thời cổ đại, chứa đựng các yếu tố duy vật, vô thần và đã manh nha hình
thành các tƣ tƣởng biện chứng sơ khai. Tuy nhiên, tƣ duy triết học thời kỳ này cũng
bộc lộ nhiều hạn chế nhƣ: Coi linh hồn con ngƣời là bất tử (đạo phật) hay phán đoán
về thế giới hiện tƣợng của phái Jaina.
- Phép biện chứng trong triết học Trung Hoa cổ đại
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử phát triển lâu dài, đây là
một trong những trung tâm tƣ tƣởng lớn nhất của nhân loại thời cổ đại. Triết học của
Trung Quốc chịu sự chi phối trực tiếp của những vấn đề chính trị, xuất phát từ hiện
trạng xã hội lúc bấy giờ.
Triết học trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại có tới 103
trƣờng phái triết học lớn nhỏ. Do những đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử của cơ cực
đạo đức suy đồi nên triết học trung hoa chỉ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề về

Ngƣời khởi xƣớng phái này là Lão Tử. quan điểm biện chứng của ông rất sâu
sắc, ông coi Đạo là nguyên lý duy nhất và tuyệt đối trong sự vận hành của vũ trụ.
Trong đó nổi bật là hai quan điểm biện chứng về “luật quân bình” và quan điểm về
“luật phản phục”. “Luật quân bình” để giữ cho sự vận hành của vạn vật đƣợc cân bằng,
không thái quá mà cũng không bất cập. “Phản phục” là nói lên tính tuần hoàn, tính chu
kỳ trong quá trình biến dịch của vạn vật.
13
Sự thống nhất của các mặt đối lập là một tƣ tƣởng biện chứng vô cùng độc đáo
của Lão Tử. Ông cho rằng: “có” và “không” sinh lẫn nhau, “dễ” và “khó” tạo nên
nhau, “ngắn” và “dài” làm rõ nhau, “cao” và “thấp” tựa vào nhau, “trƣớc” và “sau”
theo nhau. Trong đó mỗi mặt đều trong mối quan hệ với mặt đối lập, không có mặt này
thì cũng không có mặt kia và giữa chúng chỉ là tƣơng đối. Tuy nhiên, sự đấu tranh
chuyển hóa của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tƣợng không khuynh theo hƣớng
phát triển, xuất hiện cái mới mà theo vòng tuần hoàn của luật phản phục. Hơn nữa, Lão
Tử không chủ trƣơng giải quyết mâu thuẫn bằng cách đấu tranh giữa các mặt đối lập
mà lại chủ trƣơng lấy cái tĩnh, cái vi mô để tạo thành sự chuyển hóa theo luật quân
bình. Chính vì thế, phép biện chứng của ông mang tính chất máy móc, lặp đi lặp lại
một cách tuần hoàn.
Ngoài Lão Tử thì Trang Tử cũng là một đại diện tiêu biểu cho phái Đạo gia.
Học thuyết của ông có những yếu tố duy vật và biện chứng tự phát, nhƣng thế giới
quan của ông cơ bản nghiêng về chủ nghĩa duy tâm nhiều hơn. Ông quan niệm rằng
trời là tự nhiên vốn có không do một ai sinh ra cả. Vạn vật đều sinh ra từ Đạo và đƣợc
biến hóa một cách rất tự nhiên.
+ Triết học của phái Danh gia.
Tƣ tƣởng biện chứng đƣợc thể hiện qua thuyết tƣơng đối của Huệ Thi. Huệ Thi
quan niệm vạn vật trong vũ trụ luôn biến đổi, chúng có tính tƣơng đối và hàm chứa
trong đó những mặt đối lập liên hệ chuyển hóa qua lai với nhau. Về cơ bản, triết học
của Huệ Thi mang tính ngụy biện và tƣơng đối luận
Một nhân vật khác của phái Danh gia là Công Tôn Long. Tƣ tƣởng biện chứng
tự phát của Công Tôn Long thể hiện ở quan điểm về tính chất mâu thuẫn của sự vận

+ Thứ hai, đó là phép biện chứng theo nghĩa cổ điển của từ đó.” [20, tr43].
Gắn liền với hình thức đầu tiên của phép biện chứng là nền triết học Hy Lạp cổ
đại. Đó là phép biện chứng dựa trên sự cảm thụ trực tiếp thế giới vật chất xung quanh.
Phép biện chứng đó chƣa phải là một hệ thống lý luận, quan điểm về phép biện chứng.
Hình thức đầu tiên này của phép biện chứng mang tính tự phát, bởi vì các nhà triết học
biện chứng Hy Lạp cổ đại nghiên cứu tự nhiên chỉ nhằm cốt lõi sao cho vẽ đƣợc bức
tranh chung về thế giới và chỉ ra đƣợc nguồn gốc của nó chứ không có chủ định nghiên
cứu phép biện chứng. Phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại chỉ là những yếu
tố biện chứng còn rất lẻ tẻ và rời rạc chƣa thành một hệ thống, quy luật, phạm trù, tức
là chƣa trở thành một hệ thống lý luận nhận thức, do đó vai trò nhận thức và cải tạo thế
15
giới của nó còn rất nhiều hạn chế. Đồng thời với tính tự phát thì phép biện chứng Hy
Lạp cổ đại còn mang tính ngây thơ. Hầu hết những quan điểm biện chứng của các nhà
triết học Hy Lạp cổ đại đều mang tính suy luận, phỏng đoán của các nhà triết học Hy
Lạp cổ đại trên cơ sở kinh nghiệm trực giác. Các yếu tố khoa học kỹ thuật lúc này còn
ở trình độ kém phát triển, do đó những suy luận, phỏng đoán của các nhà triết học Hy
Lạp cổ Đại chƣa có cơ sở đƣợc chứng minh bằng khoa học. Nhận xét về triết học và
phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, Ph.Ăngghen khẳng định: “Hình thức thứ nhất là triết
học Hy Lạp trong triết học này, tƣ duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác
tự nhiên, chƣa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu” và “nếu về chi tiết, chủ
nghĩa siêu hình đúng hơn so với những ngƣời Hy Lạp, thì về toàn thể thì những ngƣời
Hy Lạp lại đúng hơn so với chủ nghĩa siêu hình”.
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào cuối TK VI trƣớc CN. Nhìn bao quát
thì triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai. Có
thể tìm hiểu về các tƣ tƣởng biện chứng nổi bật của Hy Lạp cổ đại qua một số đại
biểu sau đây:
+ Talét (625-647 tr.CN)
Talét xuất thân trong một gia đình thƣơng nghiệp lớn, nhƣng thƣơng nghiệp
không phải là nghề chính của ông mà chỉ là một phƣơng tiện để ông nghiên cứu triết
học và khoa học tự nhiên. Là một thƣơng gia giàu có, ông có điều kiện đi du lịch ở rất

dạng vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà ngƣời ta không
thể trực quan thấy đƣợc.
+ Hêraclít (530 – 470 tr.CN)
Hêraclít sinh ra ở thành Êphedơ thuộc xứ Iôni một trong những trung tâm kinh
tế - văn hóa nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Ông thuộc dòng dõi quý tộc, cha truyền con
nối, nhƣng nhƣờng quyền thừa kế cho em trai mình và đi theo con đƣờng nghiên cứu
khoa học.
Hêraclít là một nhà duy vật có những tƣ tƣởng rất sâu sắc về thế giới. Ông là
ngƣời sáng lập ra phép biện chứng (theo đánh giá của các nhà kinh điển C.Mác –
V.I.Lênin), ngoài ra ông còn là ngƣời xây dựng phép biện chứng trên lập trƣờng duy
vật. Phép biện chứng của ông chƣa đƣợc trình bày dƣới dạng một hệ thống các luận
điểm khoa học nhƣ sau này, tuy nhiên hầu hết các luận điểm cốt lõi của phép biện
17
chứng đã đƣợc Hêraclít đề cập dƣới dạng danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Các tƣ
tƣởng biện chứng của ông thể hiện các quan điểm chủ yếu là:
- Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất, Hêraclít cho rằng
không có sự vật, hiện tƣợng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối mà tất cả đều trong
trạng thái biến đổi và chuyển hóa thành cái khác.
- Thứ hai, quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự
vật, hiện tƣợng, thể hiện trong phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập
trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, sự trao đổi của những mặt đối lập, sự tồn tại
và thống nhất của những mặt đối lập.
- Thứ ba, theo Hêraclít thì sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới
do quy luật khách quan (logos) quy định.
Lý luận và nhận thức của Hêraclít còn mang đậm tính chất duy vật và biện
chứng sơ khai, nhƣng xét về cơ bản thì nó đúng. Có thể nói trong giai đoạn của triết
học cổ đại thì không có tƣ tƣởng biện chứng nào có thể sâu sắc nhƣ Hêraclít. Ông đã
đƣa triết học duy vật cổ đại biện chứng lên một bƣớc mới với những quan điểm duy
vật cùng với những yếu tố biện chứng. Có thể xem Hêraclít là một đại biểu xuất sắc
của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, tuy nhiên C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã chỉ rõ

Ông là một trong những ngƣời đã phát triển thuyết nguyên tử lên một trình độ
mới, một mặt thì ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến của Pácmênít khi
coi các nguyên tử là bất biến. Mặt khác, ông kế thừa quan điểm của Hêraclít cho rằng
mọi sự vật biến đổi không ngừng. Đêmôcrít nêu ra lý thuyết về vũ trụ học, lý thuyết
này đƣợc xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật chất, thấm nhuần
tinh thần biện chứng tự phát và có một ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử triết học. Ông
khẳng định rằng vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế giới vĩnh viễn phát sinh,
phát triển và bị tiêu diệt. Quan điểm của Đêmôcrít về vận động gắn liền với vật chất là
một phỏng đoán có giá trị đặc biệt. Ông cho rằng vận động của nguyên tử là vĩnh viễn,
tuy nhiên ông không lý giải đƣợc nguồn gốc của sự vận động.
Dựa vào học thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đi tới quan điểm quyết định luận, đó
là sự thừa nhận ràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên và khách quan của các hiện
tƣợng tự nhiên. Đây chính là đóng góp to lớn đáng kể của Đêmôcrít cho nền triết học
Hy Lạp cổ đại.
Về bản thể luận, Đêmôcrít có công đƣa lý luận nhận thức duy vật lên một bƣớc
tiến mới. Đêmôcrít chia nhận thức thành hai dạng: nhận thức cảm tính và nhận thức
19
chân lý, đây chính là nét mới của ông so với các nhà triết học trƣớc đó. Mặc dù triết
học của ông còn mang tính thô sơ, chất phác tuy nhiên những đóng góp của ông về các
tƣ tƣởng biện chứng và thế giới quan duy vật rất dáng kể.
+ Xôcrát (469- 399 tr.CN) và Platôn (427 – 347 tr.CN)
Xôcrát và Platôn là hai nhà triết học tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm
Hy Lạp cổ đại.
Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra bƣớc tiến mới trong lịch sử phát
triển của triết học Hy Lạp cổ đại. Ông là ngƣời đầu tiên đƣa đề tài con ngƣời trở thành
chủ đề trọng tâm nghiên cứu của triết học phƣơng Tây. Theo Xôcrát thì nếu không có
cái hiểu chung, cái phổ biến thì ngƣời ta không thể phân biệt đƣợc “cái thiện” với “cái
ác”, “cái tốt” với “cái xấu”. Nếu muốn phát hiện ra cái thiện phổ biến thì phải có
phƣơng pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận, tọa đàm, luận chiến. Đây
chính là yếu tố biện chứng trong triết học của Xôcrát, tuy nhiên nó lại dựa trên lập

cuộc đấu tranh biện chứng và siêu hình, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chính vì vậy nên V.I.Lênin đã coi phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ
đại là khởi nguyên của lịch sử phép biện chứng.
- Phép biện chứng thời trung đại
Biện chứng thời trung đại hầu nhƣ không có, đây là một lƣu trần các sự phát
triển phép biện chứng. Ở phƣơng Đông vẫn chỉ duy trì phép biện chứng có đƣợc thời
cổ đại thậm chí tại Ấn Độ phận giá còn bị sụp đổ. Còn ở phƣơng Tây là sự bao trùm
của lệnh viện phán khoa học.
- Phép biện chứng tây Âu thế kỷ XV – XVIII
Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) sự trƣởng thành của tƣ tƣởng biện
chứng Tây Âu mang một ý nghĩa hết sức độc đáo. Phép biện chứng trong thời kỳ phát
triển dƣới sự thống trị của tƣ duy siêu hình máy móc. Nói chung các nhà triết học thời
kỳ này mang đậm tƣ duy siêu hình nhƣng cũng có những tƣ tƣởng biện chứng nhƣ tƣ
tƣởng về "sự phù hợp của các mặt đối lập" của Gioocdanơ Brunô (1548 -1600).
Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể từ các hạt vật
chất nhỏ nhất - nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt cái kia
ra đời. Ông cũng khẳng định rằng nếu không theo nguyên tắc "các mặt đối lập phù hợp
với nhau" thì mọi nhà khoa học từ tự nhiên đến xã hội đều không làm việc đƣợc. Ngoài
ra Brunô còn có những tƣ tƣởng biện chứng của Ph.Bêcơn khẳng định vật chất không
21
tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng.
Ông là ngƣời đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới.
- Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức
Đánh giá về nền triết học cổ điển Đức, Lênin đã viết: Dù có sự thần bí hoá duy
tâm, nhƣng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng
và logic học và lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trƣớc C. Mác thì triết học cổ
điển Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tƣợng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt
chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác.
Ph.Ăngghen khẳng định, đây là hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình
thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức từ

giới tự nhiên mà không cần viện đến một lực lƣợng thần bí siêu tự nhiên nào cả. Bên
cạnh đó, hai phát minh này còn đem lại một quan điểm có tính chất biện chứng về giới
tự nhiên, chứng minh rằng giới tự nhên tác động qua lại lẫn nhau và vận động chuyển
hóa không ngừng.
Về nhận thức luận, Cantơ đƣa ra phạm trù “vật tự nó” là cái nằm ngoài khả
năng nhận thức của con ngƣời và tƣ duy khoa học. Cantơ vẫn đứng trên lập trƣờng của
tƣ duy siêu hình để giải quyết vấn đề khả năng nhận thức của con ngƣời, ông chƣa giải
thích đƣợc mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tƣợng của tồn tại.
+ Phép biện chứng của V.Ph.Hêghen (1770 – 1831)
V.Ph.Hêghen là một nhà biện chứng lõi lạc, ông là ngƣời đã xây dựng nên
phép biện chứng một cách có hệ thống trên lập trƣờng duy tâm khách quan. Triết học
của V.Ph.Hêghen chính là tiền đề lý luận cho triết học Mácxít.
V.Ph.Hêghen đã có công lao trong việc phê phán tƣ duy siêu hình và ông là
ngƣời đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tƣ duy dƣới dạng một quá
trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Ông khẳng định
phép biện chứng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong
phạm vi hiện thực, cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học. Nhƣ vậy,
theo V.Ph.Hêghen hiện thực không phải là tồn tại nói chung mà là tồn tại trong tính tất
yếu của nó, đó là điều hiện thực trong sự phát triển. Những luận điểm về phép biện
chứng của triết học V.Ph.Hêghen đƣợc thể hiện rõ nhất và sâu sắc nhất trong logic học.
Biện chứng của khái niệm trong khoa học logic bao gồm: những khái niệm không
những khác nhau mà có mối liên hệ với nhau; mỗi khái niệm đều trải qua một quá trình
phát triển đƣợc thực hiện trên ba cơ sở nguyên tắc nhƣ sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status