!"#
$%
&'(
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
)*+&,! ./0)1-* 2*3*4
Khoa: Mác - Lênin Lớp: Triết K28
Huế, 5/2008
$5
6+7-*089 *": 0;<= !"#
Con người sinh ra ở trên đời, ai cũng muốn có cuộc sống hạnh phúc,
no đủ về vật chất, thoải mái về tinh thần. Tuy nhiên, trong thực tế con người
gặp không ít khó khăn, đau khổ về thể xác hoặc tinh thần.
Vậy làm sao để thoát khỏi khổ đau, làm sao để biến khổ đau thành
niềm vui? Trong thâm tâm của mỗi người, ai cũng có khát vọng mong giải
đáp được những thắc mắc đó. Trong thực tế có biết bao nhà tư tưởng nói
chung và những nhà triết học nói riêng từ cổ đại đến nay đã khám phá và lý
giải bằng nhiều cách khác nhau về con đường, biện pháp giúp cho con
người thoát khỏi khổ đau của cuộc đời.
Ấn Độ là một trong những cái nôi triết học cổ xưa nhất của nhân loại
và mang một “hơi thở” riêng, độc đáo, thể hiện tính nhân văn, nhân bản sâu
sắc. Đó là một nền Triết học hướng vào sự giải thoát khổ bằng con đường
thực nhiệm tâm linh, tức là vén mở chính thế giới nội tâm của con người.
“Ơ phương Đông, nhất là Ấn Độ, người ta vẫn tin rằng con người có thể
nhận biết được tâm lý siêu hình bằng thực nghiệm trực tiếp, thực nghiệm
bản thân’’[11, 15]. Có lẽ vậy mà “triết học Ấn Độ không muốn giải thích
kiến khác nhau vẫn còn tồn tại đối với đạo Phật đó là: Đạo Phật là một triết
học, một khoa học, một luân lý, hay một tôn giáo, và những vấn đề có giá
trị thực tiễn như mối quan hệ Phật giáo với thời đại, Phật giáo với hạnh
phúc con người, Phật giáo với tuổi trẻ.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “Tư
tưởng giải thoát trong Triết học Phật giáo sơ kỳ” làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp của mình.
>+30*?@ *"2-0A4= !"#
Tư tưởng giải thoát là nét nổi trội của triết học Ấn Độ cổ trung đại
mà tư tưởng giải thoát của Phật giáo là nổi bật nhất. Nó mang ý nghĩa nhân
văn sâu sắc và có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần, đạo đức không
chỉ nhân dân Ấn Độ xưa và nay mà còn toả sáng ra nhiều nước trên thế giới,
3
trong đó có Việt Nam. Do đó, tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáo
Phật giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cả phương Đông lẫn
phương Tây quan tâm và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu của các học giả
nước ngoài, đặc biệt là công trình nghiên cứu của hai nhà Phật học nổi
tiếng; người Nhật (Ki mu ra Tai ken) và Trung Hoa (Tưởng Duy Kiều).
Ơ Việt Nam, đã có sự nghiên cứu khá sâu rộng về triết học- tôn giáo
Ấn Độ nói chung và tư tưởng giải thoát nói riêng, có thể kể ra những công
trình tiêu biểu như:
1) Biện chứng giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ của Nghiêm Xuân
Hồng, Quan điểm, Sài Gòn xuất bản năm 1966.
2) Tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ của Phó Tiến sĩ Doãn
Chính, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội xuất bản năm 1999.
Tại trường Đại học Khoa học Huế, đã có các đề tài khóa luận tốt
nghiệp cử nhân triết học sau:
1) Tư tưởng giải thoát trong Triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó
dung cơ bản của tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáo Ấn Độ cổ-
trung đại để góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn cho nội dung chính của
đề tài.
K+L?MNON4P-D!9*IL 9*Q9 *"2-0A40;<= !"
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời
vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác nhau như;
phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp lôgic- lịch sử, phương pháp
khái quát hoá, trừu trượng hoá, phương pháp so sánh để làm rõ các vấn đề
mà nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
R+S .S90;<= !"
5
Khoá luận là một công trình nghiên cứu khoa học ở trình độ cử nhân.
Vì vậy, tác giả chỉ mong rằng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm rõ nội
dung tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo sơ kỳ, thấy được những
hạn chế, đóng góp của nó để lý giải cho những vấn đề nhân sinh quan và giá
trị của nó trong thời đại ngày nay. Từ đó thấy được đỉnh cao của triết học
Mác- Lênin về giải phóng con người.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần nhỏ bé làm tài
liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
T+: 0840;<= !"
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung của khoá luận gồm có 3 chương.
6
*IL 6
U)V&'W
6+6+XH"0Y-*Z[*\"D! I IM *P *70*<+
Varanisi (Benares), Snavaski (nay Savathi), Ratjagua (nay là Radjia),
Pataliputiry (nay Patha) Nhiều con đường giao thông thương mại thuỷ bộ
nối liền các thành thị đó với nhau và thông từ Ấn Độ qua các nước khác như
Trung Hoa, Ai Cập và miền Trung Á dần dần xuất hiện.
Chế độ nô lệ Ấn Độ rất hà khắc. Nô lệ được coi là tài sản tư hữu của
chủ nô như những tài sản khác. Nô lệ được coi như là “tài sản hai chân” có
thể đem bán mua trao đổi như những “tài sản bốn chân” khác. Ấn Độ có 15
loại nô lệ:
1. Con của nô lệ là nô lệ.
2. Nô lệ mua về.
3. Nô lệ do người khác cho.
4. Nô lệ do thừa kế tài sản.
5. Quá bần cùng trở thành nô lệ.
6. Phạm tội bị xử làm nô lệ.
7. Con tin được coi là nô lệ.
8. Tù binh trong các cuộc chiến là nô lệ.
9. Nô lệ được thưởng qua các cuộc thi.
10. Vì bội ước trở thành nô lệ.
11. Tự nguyện làm nô lệ.
12. Nô lệ tạm thời.
13. Vì được kẻ khác nuôi nấng xin làm nô lệ.
14. Lấy vợ là nô lệ thành nô lệ.
15. Bán mình làm nô lệ.
8
Quan hệ chủ nô - nô lệ Ấn Độ mang nét bóc lột gia trưởng là điển hình.
Trong lao động nô lệ và chủ nô rất gầnn gũi. Nhưng những thành viên
thường của gia đình chủ nô vẫn có uy thế tuyệt đối trong mọi mặt đối với nô
lệ như phạt lao động khổ sai, kìm kẹp, đánh đập, thích vào mặt nô lệ Chủ
nô cũng có thể tự do đánh đập, hành hạ hay đem bán con mình tuỳ thích.
những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một
số phận không thay đổi do thiên nhiên quyết định trước, và do đó đã tạo ra
sự thờ cúng thiên nhiên một cách thô lỗ, mà sự thoái hoá biểu hiện trong
việc con người, kẻ làm chủ thiên nhiên, lại phải thành kính quì gối trước con
khỉ Hanuman và trước con bò Sabbla" [1,177-178].
Xã hội Ấn Độ cổ không chỉ bị đè nặng bởi nổi khổ do quan hệ bất công
và sự bóc lột hà khắc của giai cấp quí tộc chủ nô đối với giai cấp nô lệ và
những kẻ tôi tớ, mà còn bị bóp nghẹt bởi chế độ phân biệt chủng tính, màu
da, sắc tộc, còn gọi là chế độ đẳng cấp hết sức nghiệt ngã gây nên. Chế độ
đẳng cấp không chỉ góp phần qui định cơ cấu, trật tự xã hội Ấn Độ mà còn
ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất của các quan điểm triết lý tôn
giáo Ấn Độ cổ đại.
Theo thánh điển của Bà La Môn và theo bộ luật Manu, người ta đã
phân chia xã hội Ấn Độ ra thành rất nhiều chủng tính. Nhưng có thể qui
thành bốn chủng tính lớn và đó cũng là 4 đẳng cấp chính của xã hội Ấn Độ:
a) Bàlamôn (Brahmana) gồm những giáo sĩ, những người giữ quyền
thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái. Họ tự nhận mình là hạng
cao thượng, sinh từ lỗ miệng phạm thiên (Brahmana) hay phạm thiên cầm
vương lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và an
hưởng cuộc đời sung sướng nhất.
b) Sát đế lợi (Kshatriya) là hàng vua chúa quí phái, tự cho mình sinh ra
từ cánh tay phạm thiên, thay mặt phạm thiên nắm giữ quyền hành thống trị
dân chúng.
c) Vệ xá (Vaishya) là những hàng thương gia chủ điền và dân tự do tin
mình sinh ra từ bắp chân phạm thiên và phạm thiên có nhiệm vụ đảm đương
về kinh tế trong nước (mua bán, trồng trọt, thu huệ lợi cho quốc gia).
10
d) Thu đà la (Shudra) là những người lao động bao gồm đa số tiện dân
và nô lệ tin mình sinh ra từ gót chân phạm thiên nên thủ phận làm khổ sai
1.1.2. Bối cảnh tư tưởng khi Đức phật ra đời
Về phương diện tư tưởng thì xã hội Ấn Độ thời bấy giờ cũng diễn ra
một cảnh tượng vô cùng hỗn tạp, nhiều trào lưu tư tưởng, tín ngưỡng vận
động bên nhau, chống đối nhau không kém phần quyết liệt mạnh mẽ.
Bên cạnh trào lưu tư tưởng suy tôn thánh kinh Veda, Upanishad và
giáo lý Bàlamôn còn xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới thoát ly truyền
thống Vêda, chống lại giáo lý Bàlamôn, phê phán chế độ phân biệt đẳng
cấp, sắc tộc nghiệt ngã của Ấn Độ, nói lên tiếng nói tiến bộ, đòi hỏi bình
đẳng xã hội.
Dưới sự tác động chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad và
giáo lý Bàlamôn được mệnh danh là tư tưởng truyền thống chính thống.
Chính người Ấn Độ đã gom các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn:
Các hệ thống chính thống: hữu, và hệ thống không chính thống: vô. Các
trường phái triết học được gọi là hệ thống Bàlamôn chính thống, tức các
darshanas, là các trào lưu bằng cách này hay cách khác đều thừa nhận ưu thế
mặc khải tối cao của Veda và triết lý về tinh thần sáng tạo của vũ trụ tuyệt
đối cao Brahmas, trong Upanishad biện hộ cho giáo lý của đạo Bàlamôn,
bảo vệ chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội. Hệ thống triết học chính thống
gồm có 6 trường phái, gọi là sáu darshamas:
1. Trường phái triết học Samkhuya.
2. Trường phái triết học Nyaya.
3. Trường phái triết học Vaiseika.
4. Trường phái triết học Mimansa.
5. Trường phái triết học Yoga.
6. Trường phái triết học Vendanta.
Các trường phái triết học không chính thống đó là các trường phái có
tư tưởng phủ nhận uy thế tối cao của Veda và Upanishad, phê phán giáo lý
12
của Bàlamôn, đã phá chế độ đẳng cấp xã hội. Hệ thống triết học không
Ấn Độ như: 1. Các kinh Vêda là do mặc khải; 2. Để tìm sự thật và đặt chân
lý thì phép lý luận không chắc chắn bằng phép trực giác; 3. Mục đích của trí
thức và triết học không phải để thống trị thế giới mà là để thoát ly khỏi thế
giới; 4. Suy tư là để tự giải thoát khỏi khổ não, dựt dục vọng và chính dục
vọng không được thoả mãn là nguyên nhân của đau khổ. Điều đó nói lên
tính phức tạp trong quá trình phát triển của tư tưởng triết học tôn giáo Ấn
Độ cổ đại.
Phản ánh hiện thực xã hội, triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ này còn
diễn ra quá trình đấu tranh gay gắt giữa các trường phái triết học duy vật vô
thần, hay "những người theo thuyết hư vô", "bọn hoài nghi" với môn phái
triết học duy tâm tôn giáo, đặc biệt là triết lý Vêda, Upanishad, và giáo lý
đạo Bàlamôn, nhằm phủ nhận quan điểm suy tôn thượng đế, phạm thiên hay
"tinh thần sáng tạo ưu trụ tối cao" Brahman, chống lại những quan điểm về
sự bất tử linh hồn và sự siêu thoát của linh hồn con người, sang thế giới bên
kia" nào đó. Tiêu biểu cho phong trào chống chủ nghĩa duy tâm tôn giáo
thời đó là các phái nổi tiếng "lục sư ngoại đạo", mà trường phái duy vật vô
thần triệt để Lokayata là tiêu biểu nhất.
Khoảng thế kỷ VI Trcn, trong lòng xã hội Ấn Độ cổ đại đã diễn ra sự
biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hoá, và cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, thu được nhiều thành quả trên nhiều lĩnh
vực như toán học, thiên văn học, y học đã tạo ra những nấc thang nhận
thức quan trọng góp phần đắc lực vào việc giải thích thế giới và cải tạo thế
giới phục vụ cho lợi ích của con người. Hơn thế nữa chúng còn là cơ sở cho
quá trình phát triển khả năng tư duy trừu tượng. Hình thành nên các hệ
thống triết học phong phú đa dạng, vừa thống nhất, vừa đấu tranh chống đối
nhau.
Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là một xã hội về vật chất thì đang rên siết
dưới ách bất công áp bức, về tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảo trong
những luồng tư tưởng lý thuyết rối reng, khiến con người thời đại hoang
mang, không có một tư tưởng chủ đạo chủ quán. Xã hội ấy đang khao khát
gian bên ngoài và trực tiếp, tiếp xúc với sự thật phủ phàng của đời sống, thái
tử tiện mắt nhìn thấy một cụ già đầu bạc, chân còng, chân chề gối mỏng, đi
15
đứng mệt nhọc, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma theo sau có
những người khóc than sầu não, một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Hoàng
tử càng suy tư về nỗi khổ của nhân sinh, càng chán cảnh phồn hoa thế vị,
càng quyết tâm xuất gia đi tu tầm đạo để giải thoát cho chúng sinh khỏi
cảnh khổ ải của nghiệp chướng luân hồi. Nửa đêm mùng bảy tháng hai,
Hoàng tử lặng lẽ rời khỏi cung đi ra tìm chân lý. Khi ấy Hoàng tử Tất Đạt
Đa vừa tròn 29 tuổi và đã có một người con trai là Rahula.
Ông xuất gia tu hành theo phương pháp khổ hạnh hành khất về phương
Nam, nhưng sau 6 năm thiền định khổ hạnh đến nỗi thân hình gầy yếu chỉ
còn da bọc xương, vẫn không đắc đạo. Ông đã suy nghĩ "ta tu khổ hạnh, ép
xác như thế này mà không thông đạo thì cách tu của ta chưa phải, chi bằng
phải đi theo trung đạo, tức không say mê việc đời, mà cũng không quá khắc
khổ ". Năm đạo sĩ tu hành với Tất Đạt Đa, tưởng ngài thoái chí, nên bỏ
ngài mà đi tu chỗ khác. Còn lại một mình, một buổi trưa sau khi tắm rửa
xong và uống một cốc sữa của người chăn bò đưa cho, ông cảm thấy khoan
khoái, tinh thần tỉnh táo hẳn lên, ông một mình ngồi dưới gốc cây Bồ Đề
(Bobdi -Tâtbatla) thiền tịnh trong 49 ngày thì quả nhiên giác ngộ, thấy
được căn nguyên sinh thành biến hoá của vũ trụ vạn vật, tìm ra nguồn gốc
của nỗi khổ và từ đó chỉ ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ cho chúng sinh
bằng học thuyết "nhân duyên sinh" và triết lý "tứ diệu đế", "thập nhị nhân
duyên", "bát chính đạo".
Về tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó được
viết thành sách, thể hiện trên một khối lượng kinh đồ sộ. Hai căn tư căn bản
ghi các kinh sách của Phật là Bắc phạn (SanCrit) và Nam phạn (pà li) được
tổ chức thành tam tạng:
Tạng kinh, ghi lại lời thuyết pháp của Phật.
Lý nhân duyên giải thích căn nguyên biến hoá vô thường của vạn pháp.
Tất cả vạn pháp không thoát ra được sự chi phối của luật nhân quả. Cái gì
tác động ở vật gây ra là nhân. Cái gì kết tập lại từ nhân gây ra gọi là quả.
17
Duyên không phải là cái gì đó cụ thể, xác định mà còn là điều kiện, sự
tương hợp, tường sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành và biến đổi.
Về sau các môn phái triết học còn chia nhân duyên ra thành: lục nhân,
tam duyên, tứ duyên, thập nhị nhân duyên.
Lục nhân gồm:
1. Tương ứng nhân, là cái nhân của tâm vương và tâm sơ tương ứng
với nhau (tâm vương là cái tâm làm chủ cái thức, tâm sơ là cái tâm thụ,
tưởng, hành thức mà có);
2. Câu hữu nhân, là cái nhân của tâm vương và tâm sở cùng có mà
giúp lẫn nhau.
3. Đồng loại nhân, là cái nhân cùng một loại, như nhân thiện với
nhân thiện, nhân ác với nhân ác.
4. Biến hành nhân, là cái nhân cùng khởi một lúc khắp cả trong khổ
đế và tập đế.
5. Di thục nhân, là cái nhân làm điều lành hay điều ác ở đời này thì
đời sau ra thiện báo hay ác báo;
6. Năng tác nhân, là cái nhân nhờ có duyên khác mà tạo ra kết quả;
Tam duyên gồm:
1. Thân duyên (duyên thân với Phật): Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) của
chúng sinh và ba nghiệp của phật chẳng lìa bỏ nhau.
2. Cận duyên (duyên gần với Phật): chúng sinh nguyện thấy Phật,
Phật liền ứng niệm mà hiện ra trước mắt.
3. Tăng thượng duyên (duyên tăng lên cõi Phật): chúng sinh xưng
niệm Phật mỗi giây nghỉ (niệm niệm) trừ được tội nhiều kiếp, khi lên trung
Phật, thánh sẽ tiếp rước về cõi cực lạc.
mà sinh ra yêu, ghét, buồn chán.
19
8. Duyên aí, là yêu thích, luyến ái, khao khát tức nảy sinh dục vọng.
9. Duyên thủ, tức là giữ lấy, giành lấy những cái mà mình tham muốn.
10. Duyên hữu, là có tồn tại, hiện hữu. Có là với sắc, thụ, tưởng, hành,
thức nên mới có ái dục gây nên nghiệp. Hữu là hành động tạo nghiệp thiện
hay bất thiện.
Như vậy, hành và hữu đều là hành động tạo nghiệp, nhưng nếu như
hành là hành động trong quá khứ, thì hữu là hành động trong hiện tại.
11. Duyên sinh, đã có tạo nghiệp (hữu) tức là có nghiệp nhân ắt có
nghiệp quả, tức là phải sinh ra ta.
12. Duyên lão - tử. Đã có sinh thì có già và chết
Sinh - lão - tử là kết quả cuối cùng của một quá trình nhưng đồng thời
cũng là nguyên nhân của một vòng luân hồi mới, từ vô mình của cuộc đời
khác. Tất cả mười hai nguyên nhân này có quan hệ ràng buộc với nhau. Đức
Phật đã nêu lên mối quan hệ giữa mười hai nguyên nhân đó là: Do vô minh
có hành sinh, do hành có thức sinh, do thức có danh sắc sinh, do danh sắc có
lục nhập sinh; do lục nhập có súc sinh; do xúc có ái sinh; do ái có thủ sinh;
do thủ có hữu sinh; do hữu có sinh sinh, do sinh có lão, tử, bi, khổ, ưu, não
sinh. Để đoạn diệt cái khổ thì phải đoạn diệt vô minh.
Nói về lý duyên khởi, kinh Tương Ưng Bô viết: "Do cái này có mặt,
cái kia có mặt. Do cái này sinh, cái kia sinh. Do cái này diệt, cái kia diệt"[3,
245].
Xuất phát từ "Lý duyên khởi" mà triết lý Phật giáo cho rằng: "Vạn
pháp đều không vượt qua được nguyên lý "vô ngã", "vô thường". "Vô ngã"
là không có cái ta; sự vật bản chất không thường tồn bất biến, nên "ngã" chỉ
là "ảo" là "giả". Nó là "ảo" là "giả" vì hội đủ duyên thì có, cái có ấy tự tính
vốn chẳng "có" mà là "không". "Vô thường" là vạn vật chẳng thường hằng,
thường trụ mà luôn trôi đi, biến đi đến mức vạn pháp hiện trước nhận thức
Những câu hỏi về: Con người từ đầu đến? Ai quyết định cái sống và
cái chết của con người? Con người có số phận không? Con người có quan
21
hệ với nhau như thế nào trong xã hội? Tại sao con người lại chịu bất hạnh
và làm sao để con người được sống hạnh phúc, hạnh phúc là gì? Đã được
nhân loại đặt ra và tìm cách giải đáp từ rất lâu và vẫn đang tiếp tục được giải
đáp bằng nhiều cách khác nhau.
Xuất phát từ lý "Nhân duyên khởi", Phật giáo cho rằng con người
không do thượng đế sinh ra, cũng không do một đấng thiêng liêng nào tạo ra
cả, mà con người là một pháp đặc biệt trong vạn pháp, do nhân duyên kết
hợp tạo ra bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần. Phần thể xác là thần sắc,
hình tướng giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da gọi là "sắc", được
tạo bởi bốn yếu tố (tứ đại) là: thuỷ, hoả, địa, phong. Phần tinh thần hay ý
thức gọi là "danh", bốn yếu tố do nhân duyên kết hợp tạo thành phần tinh
thần (danh) của con người là:
- Thụ là những cảm giác, cảm thụ về sự khổ hay sướng đưa đến sự xúc
cảm, lãnh hội với thân và tâm.
- Tưởng là suy nghĩ, tư tưởng.
- Hành là hành động tạo tác theo ý muốn của mình thúc đẩy.
- Thức là ý thức, biết ta là ta.
Duyên hợp thì ngũ uẩn là ta (ngã), duyên tàn thì ngũ uẩn tan, không
còn là ta. Quá trình tan hợp, hợp tan của ngũ uẩn do nhân duyên tác động là
vô cùng. Bản thân ngũ uẩn không ngừng biến đổi, sinh rồi diệt, diệt rồi tái
sinh, tái sinh rồi diệt Sự biến hoá sinh diệt không ngừng gọi là "vô
thường". Trong sự liên tục biến đổi tồn tại "thường hằng" của con người là
"vô ngã".
Nói về tính chất "vô thường", "vô ngã" của vạn pháp trong Tăng nhất
A Hàm Kinh viết: "Pháp pháp tự sinh, pháp pháp tự diệt, pháp pháp tự động,
pháp pháp tự tức pháp pháp tương loạn, pháp pháp tự tức, pháp năng sinh
trụ - dị - diệt hay thành - trụ - hoại không hay sinh - lão - bệnh - tử. Đối với
con người có thân thì có nghiệp, có nghiệp thì vào luân hồi để trả nghiệp
báo.
23
Cùng với thuyết "Nhân quả", "nghiệp - nghiệp báo" và "luân hồi" Phật
giáo cho rằng không có một hành vi nào dù thiện, ác, to, nhỏ của con người
dù được bưng bít hay che đậy mà tránh khỏi "quả báo". Do đó, nếu làm điều
tốt lành, tu nhân tích đức ở kiếp này thì có nghiệp tốt ứng báo điều lành,
điều tốt cho đời sau. Ngược lại, nếu ở kiếp này làm điều ác, điều xấu thì có
nghiệp xấu báo ứng, phải gánh chịu điều xấu cho đời sau (quan hệ nhân
quả).
Quan niệm về đời người thể hiện trong Tứ Thánh Đế. Tứ Thánh Đế là
nội dung chủ yếu của nhân sinh quan phật giáo. Đó là luận điểm về giải
thoát và cứu khổ - niết bàn. Theo Tứ Thánh Đế, Phật giáo cho rằng đời
người là bể khổ "nước mắt chúng sinh nhiều hơn bốn biển". Những cái khổ
tóm lại trong bát khổ: sinh - lão - bệnh - tử - ái - biệt ly, oán tăng bội - sở
cầu bất đắc - thủ ngũ uẩn khổ. Căn nguyên của nổi khổ là do "vô minh".
Về bản tính của mình và thực tướng của vạn vật. Vì nhầm tưởng "vô
ngã" là đích thực nên chủ thể chạy theo ái dục, nảy sinh khát khao thoả mãn
ái dục và để thoả mãn ái dục thì phải tạo "nghiệp". "Nghiệp" là nguyên nhân
để con người ra vào vòng luân hồi của khổ đau. Để diệt khổ trước hết phải
phá bỏ "vô mình". Phá bỏ vô mình sẽ tự giác không chạy theo ái dục mà tạo
nghiệp. Hết nghiệp con người thoát khỏi sự chi phối của nhân duyên, thoát
dòng luân hồi đau khổ và đạt tới giải thoát ở cảnh giới "Niết bàn".
Để phá bỏ "vô minh", thoát khỏi khổ đau Phật giáo đã đưa ra 8 con
đường biện pháp hay còn gọi đó là "bát chính đạo": chính kiến, chính tư
duy, chính ngã, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính
định: Đây là sự tu luyện toàn diện trên ba phương diện: giới (rèn luyện cho
đạo đức), định (rèn luyện tư tưởng), tuệ (khai sáng trí tuệ).
lạc. Khổ của đạo Phật là cái khổ của nội tâm. Đạo Phật không nhìn thấy sự
tha hoá con người trong các quan hệ sản xuất và quan hệ đẳng cấp xã hội.
Khổ của đạo Phật là cái khổ nói chung với sinh - lão - bệnh - tử, chứ không
phải là cái khổ của con người bị lao động bị tước mất quyền làm chủ cảu
sản phẩm do chính mình sáng tạo ra để thoả mãn các nhu cầu vật chất và
tinh thần chính đáng. Đạo Phật chỉ thấy được cái khổ bất biến của con người
25