ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o ĐINH QUANG HỔ
(THÍCH QUẢNG TÙNG) TƢ TƢỞNG BẢN THỂ LUẬN
TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
(QUA KINH VIÊN GIÁC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học HÀ NỘI – 2012
HÀ NỘI - 201 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƢƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VÀ
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH VIÊN GIÁC 10
1.1.Vấn đề bản thể luận trong lịch sử triết học 10
1.1.1.Quan niệm về Bản thể luận trong lịch sử triết học phương Tây 10
1.1.2.Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông 14
1.2.Những phạm trù cơ bản về bản thể luận trong triết học Phật Giáo 24
1.2.1. Quan niệm về “Tâm”, “Chân như - Thực tướng”, “Pháp”, “nhân duyên”
“ sắc - không” 21
1.2.2. Tư tưởng “vô ngã”, “vô thường” 28
1.3.Khái quát về kinh Viên Giác 34
CHƢƠNG 2 ĐIỂM XUẤT PHÁT VÀ CON ĐƢỜNG TRỞ VỀ VỚI BẢN THỂ TRONG
QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO (THÔNG QUA KINH VIÊN GIÁC) 45
2.1. Điểm xuất phát để thấy ra bản thể 45
2.2.1. Kiến đạo - khởi tâm thanh tịnh 45
2.2.1.1. Bối cảnh Phật nói kinh Viên Giác 34
2.2.1.2. Muốn được thành Phật, hành giả phải tu tập để đạt được thanh
tịnh thân tâm 45
2.2.2. Dùng trí tuệ để nhận biết vô minh 50
2.3. Con đường trở về bản thể 60
2.3.1. Cái “biết” bằng tuệ giác và cái “biết” bằng khái niệm 60
2.3.2. Tứ diệu đế - con đường nhận chân về bản thể và đi tới sự giải thoát 68
2.4. Giá trị nhân văn trong quan niệm về bản thể luận của triết học Phật giáo
sống (nhân sinh quan). Những quan niệm về “pháp”, “bản thể”, “tâm”, “vô
thường”, “vô ngã”, “nhân duyên”, “sắc - không”, “nhân quả”, “luân hồi”,
“nghiệp báo”, “thập nhị nhân duyên”, “tứ diệu đế”, “giải thoát”, “Niết Bàn”
là những tư tưởng thể hiện điều đó. 4
Kinh Viên giác là một bộ kinh trong kho tàng kinh điển của phật giáo
thuộc phái đại thừa. Tuy nhiên đây lại là bộ kinh hàm chứa nội dung tính
“nhất thừa viên giáo”, không thiên lệch giữa các pháp môn tu hành, không có
sự phân cách giữa đại thừa và tiểu thừa, mà chỉ có “kiến tính thành Phật”. Bộ
kinh này cùng với kinh Lăng nghiêm và kinh Hoa nghiêm thường được đánh
giá là những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo, ở đó Đức Phật muốn khai
thị về tự tính Viên giác của mọi người. Con người ai cũng có sẵn trong mình
sự giác ngộ viên mãn như một bản thể không đổi mà sự hiện hữu trên cõi đời
chỉ là diệu dụng, tuỳ duyên được sinh ra từ bản thể thanh tịnh đó. Khi con
người tìm được các pháp môn tu hành thích hợp để giác ngộ là trở về tự tính
Viên giác. Với những tư tưởng như vậy nên Kinh Viên giác mặc dù là sự
chuyển tải những lời thuyết giảng của Đức phật cho các vị Bồ tát và chúng
sinh trên con đường tu tập để đạt đến Viên giác, nhưng trong đó lại bao hàm
nhiều triết lý sâu xa của Đạo Phật liên quan đến vấn đề bản thể luận trong triết
học.
Để góp phần làm rõ tính triết học trong những triết lý của Phật Giáo
thông qua những quan niệm của đạo phật về thế giới, về con người, nhằm chỉ
ra những giá trị học thuật của tư tưởng phật giáo không chỉ từ phương diện
tôn giáo, lại là nhà tu hành đang theo học ngành triết học, tôi mạnh dạn chọn
vấn đề: “Tư tưởng bản thể luận trong triết học Phật Giáo (Qua kinh Viên
Giác)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể điểm qua tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội
Ngoài ra, cần phải kể đến nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi khác, như Trần
Trọng Kim, Nguyễn Tài Thư, Hà Văn Tấn ; hoặc các công trình của các nhà
sư như: Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm, Thích Thanh Từ, Thích Đồng Bổn…
Trong các công trình trên, các tác giả đã tập trung làm rõ sự hình thành
và phát triển của Phật giáo, những nội dung giáo lý, tư tưởng cơ bản của đạo
Phật, đặc biệt là quá trình du nhập, dung hội và những đặc điểm nổi bật của
Phật giáo Việt Nam, khẳng định vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội. 6
2.2. Những công trình nghiên cứu về bản thể luận trong triết học và triết
học Phật giáo
Có thể thấy, những công trình nghiên cứu riêng về nội dung này rất ít,
nó chủ yếu được nghiên cứu trong các nghiên cứu chung về triết học hay về
Phật giáo và trong những công trình khoa học có liên quan gần. Có thể kể ra
một số công trình tiêu biểu sau:
“Triết học và tôn giáo phương Đông” của Diane Morgan do Lưu Văn
Hy dịch. Trong công trình này, những kiến thức về lịch sử ra đời, nghi lễ, đặc
biệt là triết lý của Phật giáo được tác giả trình bày một cách khái quát.
Công trình “Những vấn đề triết học Phật giáo” của O.O Rozenberg do
Nguyễn Hùng Hậu và Ngô Đăng Doanh dịch đã đi sâu vào những vấn đề lý
luận cơ bản của Phật giáo dựa trên các tư tưởng căn bản Trung Quốc và Nhật
Bản. Trong công trình này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến phần thứ 8 “Bản thể
luận và nhận thức luận Phật Giáo - tính hai nghĩa của những thuật ngữ”. Đây
là tài liệu rất quan trọng khi tác giả khảo sát khái niệm “bản thể luận”.
Gần gũi với đề tài luận văn là các bài viết như: “Bản thể luận và cách
tiếp cận bản thể luận trong triết học phương tây” của tác giả Nguyễn Chí Hiếu
(đăng ở tạp chí Triết học số 6/2007). Trong bài viết này, từ việc phân tích
khái niệm bản thể luận ở những nội dung cơ bản, tác giả đã điểm qua một
cách có hệ thống các quan niệm về bản thể luận trong lịch sử tư tưởng triết
theo quan niệm của triết học Phật giáo được thể hiện trong Kinh Viên giác thì
chưa có công trình nào nghiên cứu. Đây là hướng nghiên cứu chính của luận
văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là trên cơ sở khảo sát những quan điểm cơ bản
trong lịch sử triết học, đặc biệt là triết học phật giáo về bản thể luận, từ đó làm
rõ sự thể hiện quan điểm về bản thể luận trong triết học phật giáo qua Kinh
Viên giác.
- Nhiệm vụ:
+ Khảo sát một số quan niệm cơ bản trong lịch sử triết học về bản thể luận. 8
+ Trình bày những tư tưởng về bản thể luận trong triết học Phật Giáo nói
chung .
+ Phân tích quan niệm về bản thể luận của triết học Phật giáo thể hiện qua
Kinh Viên giác.
+ Đánh giá ý nghĩa, giá trị và hạn chế trong quan niệm về bản thể luận của
triết học phật giáo được thể hiện trong Kinh Viên giác.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của triết học Mác- Lênin
về tôn giáo; các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về nghiên cứu tôn giáo
nói chung và Phật Giáo nói riêng cùng với Kinh, luận Phật.
Phương pháp nghiên cứu: logic - lịch sử; phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung về bản thể luận của triết học
Phật Giáo.
Phạm vi nghiên cứu: Trong Kinh Viên Giác.
tảng căn cốt nhất, bản chất nhất của mọi sự vật trong thế giới: đó chính là bản
thể. Khi đó, bản thể được hiểu như là một bản chất mà chỉ có lý trí mới hiểu
được, là đối tượng của tri thức tư biện.
Thuật ngữ bản thể luận có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Nó là sự kết hợp
giữa hai từ: on (
): cái thực tồn, và logos (
): lời lẽ, học thuyết tạo
thành “Học thuyết về tồn tại”. Theo nghĩa này bản thể luận được hiểu là học
thuyết triết học về thực tồn nói chung, hoàn toàn độc lập với các dạng tồn tại
cụ thể của nó. Thời đó, thuật ngữ “bản thể luận” chưa được sử dụng với tư
cách là một khái niệm mà mới chỉ xuất hiện những tư tưởng về nó, chỉ đến thế
kỷ XVII thuật ngữ này mới chính thức xuất hiện và đưa ra những cách hiểu
đặc thù về nó.
Trong triết học trước Mác, với cách hiểu bản thể luận hay “triết học đầu
tiên” là học thuyết về tồn tại nói chung nên nó cùng nghĩa với siêu hình học -
một hệ thống những định nghĩa phổ biến có tính chất tư biện về tồn tại. Khi
đó bản thể luận được hiểu như là những nguyên nhân sâu xa, khó xác định
được bằng cảm tính, bằng tri thức kinh nghiệm, mà chỉ có thể hiểu được bằng
tư duy, bằng lý tính. Tuy nhiên, cần có sự phân biệt giữa hai bộ phận của siêu
hình học để có thể hiểu rõ và đúng hơn khái niệm bản thể luận với tư cách là 11
bộ phận quan trọng nhất của siêu hình học: siêu hình học được phân thành
siêu hình học chung (metaphysica generalis) và siêu hình học chuyên nghành
(metaphysica specialis). Siêu hình học chung lấy sự nghiên cứu nguồn gốc
sâu xa, quy tắc, cấu trúc cơ bản của tồn tại làm đối tượng nghiên cứu còn siêu
hình học chuyên nghành lại nghiên cứu về thượng đế (Thần học tự nhiên),
được cấu trúc cơ bản của cái thực tồn.
Đối lập với các quan niệm trên, Xôcrát lại cho rằng tồn tại không phải
là giới tự nhiên. Điểm xuất phát của tồn tại chỉ có trong ý thức, tư duy. Đó là
tồn tại- tự ý thức: “Xôcrát đã lý giải khái niệm tồn tại theo một cách mới: thực
tồn (“tồn tại”) không còn là giới tự nhiên vô nhân cách và lý tưởng trừu
tượng, mà là ý thức sống động. Thực tại trong triết học là sự thực tồn có hoạt
động, bao hàm trong mình mục đích hay định hướng vào mục đích. Có thể coi
bản thể luận của Xôcrát là bản thể luận kiểu mới - học thuyết về các cơ sở,
các nguyên tắc của tồn tại người” [15, tr.21]. Với cách quan niệm như vậy,
Xôcrát đã đưa ra phương pháp nguỵ biện như là một nghệ thuật tranh luận để
nhằm phát hiện ra tồn tại đích thực của tự ý thức cá nhân.
Với Platôn, từ học thuyết trọng tâm về ý niệm, ông cũng quy tồn tại là
tổng thể những ý niệm về thế giới. Sự tồn tại của các sự vật cảm tính chẳng
qua chỉ là bản sao của ý niệm. Chỉ có ý niệm mới là cái tồn tại đích thực. Với
cách quan niêm này, dường như những ý tưởng manh nha về siêu hình học -
với tư cách là sự truy tìm cái bất biến tồn tại vượt khỏi những tồn tại cảm tính,
trực tiếp – đã hình thành và được tiếp tục phát triển trong quan niệm của
Arixtốt.
Arixtốt trên cơ sở phát triển những ý tưởng về siêu hình học từ Platôn
đã triển khai cách hiểu thuật ngữ này theo ba nghĩa khác nhau: “Thứ nhất, đó
là khoa học không nghiên cứu một bộ phận hay một thuộc tính riêng lẻ nào đó
của tồn tại, mà nghiên cứu tồn tại nói chung. Như vậy, siêu hình học là khoa
học về tồn tại, là bản thể luận Thứ hai, vì tồn tại nói chung là cội nguồn, là
nền tảng và nguồn sống của tất cả các bộ phận nên nó là khoa học về khởi
nguyên và các nguyên nhân. Thứ ba, khái niệm siêu hình học còn dùng để chỉ
khoa học về cái bất biến, tức là khoa học về chúa” [15, tr. 23]. Sau khi phân 13
tích các nghĩa khác nhau của khái niệm siêu hình học - bản thể luận, Arixtốt
14
kết thúc bằng việc đòi hỏi tạo ra một bản thể luận (siêu hình học) mới, hoàn
thiện hơn, thay thế nó bằng triết học tiên nghiệm (Căng) hay bằng hệ thống
chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm (Selinh) hay bằng logic học (Hêghen). Bằng
quan niệm duy tâm, Hêghen đã đoán trước được tư tưởng về sự thống nhất
giữa bản thể luận (phép biện chứng), logic học và lý luận nhận thức và do đó
đưa quan niệm về bản thể luận tư biện sai lầm trước đó trở thành cách nhận
thức thực sự tích cực về thế giới.
Triết học phương Tây hiện đại thế kỷ XX, phản ứng trước việc phổ
biến những trào lưu duy tâm chủ quan (chủ nghĩa Căng mới; chủ nghĩa thực
chứng) có ý thức xây dựng một cách hiểu mới về Bản thể luận trên cơ sở duy
tâm khách quan như quan niệm về bản thể luận tiên nghiệm của Huxéclơ; bản
thể luận phê phán của Háctman; bản thể luận cơ bản của Heidegger; bản thể
luận hiện tượng học của Sartre Trong học thuyết bản thể luận mới, người ta
hiểu bản thể luận là một hệ thống những khái niệm phổ biến về tồn tại mà có
thể hiểu được nhờ một số trực giác siêu cảm tính và siêu lý tính.
Triết học Mác xít không dùng thuật ngữ bản thể luận. Trong một số
trường hợp, thuật ngữ này được hiểu gần như đồng nghĩa với học thuyết về
những quy luật phát triển chung nhất của tồn tại.
1.1.2. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông
Thường được ví là cái nôi của văn minh nhân loại, trong dòng chảy của
tư tưởng phương đông, những tư tưởng triết học được thể hiện đậm nét ở một
số quốc gia tiêu biểu như Trung Quốc, Ấn Độ với những quan niệm về bản
thể luận rất đặc sắc.
Quan niệm của triết học Trung quốc cổ trung đại về bản thể luận.
Một trong những quan điểm tiêu biểu của người Trung quốc cổ đại về
bản thể luận là quan điểm về Đạo của Lão Tử - người sáng lập ra trường phái
triết học đạo gia, một trong ba trường phái triết học lớn nhất của trung quốc
thời cổ đại. Thực ra, quan niệm về Đạo đã có từ trước thời của Lão tử với các
nghĩa khác nhau: “thiên đạo”, “nhân đạo”, “đại đạo”…Nhưng đến Lão tử thì
cứ tính quy định nào ngoài tính khách quan, tự nhiên chất phác, trống rỗng -
đó là cái tồn tại tuyệt đối, sâu kín, thấp thoáng, là thể thống nhất không phân 16
chia giữa hữu với vô, sáng với tối…, là cái “nhìn không thấy, nghe không
thấy, nắm không được, đón không thấy đầu mà theo không thấy cuối, ở trên
không sáng tỏ, ở dưới không mờ tối” (Đạo đức kinh, chương 14). Như vậy,
tướng của đạo theo nghĩa là các biểu hiện đa dạng của nó không chỉ một sự
vật, hiện tượng cụ thể hữu hình nào, mà chỉ là cái mà tất cả mọi vật được sinh
ra từ nó, là cái tồn tại tiềm ẩn đằng sau những thay đổi của vạn vật. Đạo vừa
duy nhất, vừa muôn hình vạn trạng, vừa bất biến lại vừa khả biến.
Trong Đạo đức kinh, Lão Tử thường lấy nước để diễn đạt trạng thái
“tướng” phổ biến của “đạo” - sự mềm mại, linh hoạt và dễ thích ứng của
nước. Theo ông, rất mềm là nước, rất rắn là đá, thế mà, nước chảy đá mòn,
núi đổ. Nước tương đồng với đạo ở chỗ không thể chất, không hình trạng (vô
tướng). Đạo giống như nước, luôn chảy về nơi thấp, như sông, biển dài rộng,
to lớn nhưng là chỗ thấp nên trăm dòng chảy dồn về. Nó mềm mại không
tranh chấp, ganh đua, nó nhún nhường khiêm tốn nên có thể lan tràn, len lỏi
mọi nơi. Trong mọi trường hợp, dù chao đảo, nghiêng ngửa nước vẫn luôn
tìm lại được thế quân bình của mình, nhanh chóng tạo lập mặt phẳng, san lấp
lồi lõm, vì vậy để cho thấy một cách cụ thể và sinh động tính quân bình trong
thực tướng của đạo, không gì có thể hay hơn là hình ảnh mặt nước phẳng lặng
trên bề mặt mà cuồn cuộn các dòng chảy ngầm ngang dọc ở bên dưới.
+ Dụng của “đạo” tức là công dụng, năng lực của nó - trạng thái vận
động, biến đổi sản sinh vạn vật. Đạo có sức sáng tạo vô cùng lớn lao, có thể
bao quát, ngự trị trời đất, nhờ đạo mà vạn vật hiển hiện ra trong vũ trụ bằng
muôn loại hình dạng khác nhau. Năng lực của đạo là ở chỗ không làm, yên
tĩnh nhưng không có gì mà nó không làm, không có cái gì mà sự tồn tại, phát
triển của chúng không cậy đến đạo. Dùng hai chữ “đạo” và “đức” là để chỉ cả
= “thái cực” = nguyên thể đầu tiên, cội nguồn của thế giới. Thái cực hay Khí
là một khối hỗn độn, mênh mông, không đầu, không cuối, không đo lường
được, thái cực bao hàm trong nó hai mặt đối lập âm - dương, chúng vừa đối
lập, vừa thống nhất, trong cái này có cái kia và ngược lại. Chính sự liên hệ tác
động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau của âm và dương trong thái cực đã tạo ra
sự vận động, biến hóa không ngừng của vũ trụ. Với xu hướng thiên về sự suy 18
tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật, học thuyết âm
dương muốn đi tìm, lý giải sự thống nhất của thế giới trong sự thống nhất của
hai mặt đối lập. Yếu tố duy vật trong nhận thức như vậy đã từng bước làm lu
mờ quan niệm về vai trò của thần thánh và các lực lượng siêu nhiên của các tư
tưởng duy tâm đã thống trị rất lâu trước đó.
Học thuyết Ngũ hành ra đời đánh dấu sự phát triển sơ khai của tư duy
khoa học người trung quốc cổ đại nhằm thoát khỏi sự chi phối của các tư
tưởng duy tâm tôn giáo. Các nhà tư tưởng theo quan niệm này có thiên hướng
phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với
những tính chất khác nhau. Theo quan niệm của họ, có năm yếu tố vật chất
đầu tiên hay là năm thứ khí cơ bản tạo ra vạn vật trong vũ trụ gồm: kim (kim
khí); mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả (lửa); thổ (đất). Các yếu tố này trong mối
quan hệ tương sinh, tương khắc là khởi nguồn sinh diệt của thế giới. Điểm
đặc sắc của quan niệm này thể hiện ở chỗ nó không chỉ giải thích một cách có
cơ sở sự tồn tại, phát triển và diệt vong của các hiện tượng trong tự nhiên mà
người ta còn có thể dùng nó để lý giải rất thuyết phục các vấn đề trong xã hội.
Nếu bỏ qua một sô yếu tố trực quan và sự luận giải còn nặng về quy nạp, ước
đoán thì những lý giải về sự tồn tại tất yếu của thế giới trong tính quy luật
(dưới dạng các liên hệ) đã mang lại cho nhận thức con người giai đoạn này có
những bước phát triển mạnh mẽ theo thiên hướng duy vật và biện chứng trong
nhìn nhận và đánh giá về thế giới.
của sự vật là cái nhỏ bé, không đáng kể. Đạo lý, tri thức của con người là cái
lý lớn lao, căn bản nhất.
Quan niệm về Lý – Khí của phái Tống nho như trên đã không còn giữ
được những biểu hiện của tinh thần duy vật sơ khai trong quan niệm về bản
thể của các bậc tiền bối. Nhằm bảo vệ và thể chế hoá ý niệm đạo đức và
nguyên tắc của xã hội phong kiến đương thời, các nhà tư tưởng giai đoạn này
đã rơi vào lập trường duy tâm khi khẳng định tính có trước, tuyệt đối, vĩnh
cửu, không thể thêm bớt, không thể nhìn thấy, nghe thấy… của Lý. Quan
điểm này càng trở nên cực đoan khi họ vận dụng nó vào trong đời sống xã hội
để khẳng định và duy trì vị thế của giai cấp phong kiến như một cái Lý đã 20
định sẵn. Với tư tưởng như vậy nên quan niệm về bản thể của họ đã trở thành
chỗ dựa tinh thần của giai cấp thống trị: “nhằm biện hộ cho tính hợp lý của
chế độ phong kiến và là công cụ đắc lực để nô dịch, ràng buộc quần chúng
nhân dân lao động với trật tự lễ nghĩa cương thường của xã hội ấy” [4, tr.
442]. Phạm trù “Tâm”, “Lương tri - Lương năng” trong triết học Nho gia.
Nho giáo, với nội dung chủ yếu thiên về giải quyết các vấn đề chính
trị- xã hội và con người nên lại đưa ra những quan niệm khác khi lý giải về
bản nguyên của tồn tại. Theo Mạnh Tử Tâm là cái chủ thể trong mỗi con
người, là cái thần linh có đủ mọi lý mà trời phú cho con người để hiểu biết,
ứng đối với vạn vật, vạn sự. Theo quan niệm này có nghĩa là vạn vật đều có
đầy đủ trong ta, con người chỉ cần đi tìm và phát huy quy tắc “tự tỉnh nội
tâm” (tận tâm) thì có thể thấy được chân lý của thế giới. Cái nội tâm chủ quan
bên trong đó là bản thể tự tại, thuộc về tiên nghiệm, vượt ra khỏi phạm trù
không gian, thời gian, vật chất, vận động. Đạt đến đó là con người có thể
thể luận, thể hiện cuộc đấu tranh của các quan điểm duy vật và duy tâm trong
thời kỳ này. Tuy nhiên, tựu chung lại, các tư tưởng của họ, thông qua cách
giải thích và lý giải về sự tồn tại của hiện thực, dù cách này hay cách khác đều
hướng vào việc bảo vệ và duy trì trật tự Phong kiến hiện hành.
Quan niệm của triết học Ấn độ cổ trung đại về bản thể luận
Ấn độ là một trong những quốc gia có nền văn minh phát triển sớm của
nhân loại. Do đặc thù của sự phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên và đặc biệt
là sự phát triển tôn giáo nên những tư tưởng triết học cũng chịu ảnh hưởng
nhiều từ những tư tưởng tôn giáo có tính “hướng nội”. Điều đó cũng xảy ra
tương tự trong quan niệm về bản thể luận của họ.
Các nhà triết học ở Ấn độ cổ đại ban đầu quan niệm bản thể của thế
giới chính là các vị thần có tính chất tự nhiên. Họ giải thích rằng vũ trụ tồn tại
ba thế lực có liên hệ mật thiết với nhau là thiên giới, trần thế và địa ngục. Họ
lý giải, phân tích các hiện tượng tự nhên qua biểu tượng của thế giới thần linh 22
hiện diện khắp nơi, chia nhau chi phối sự biến đổi của vũ trụ theo sự điều
khiển của nguyên lý rita (thích hợp). Họ tin tưởng, gửi gắm tâm hồn, cuộc
sống tự nhiên của mình vào thế giới các vị thần ấy. Về sau, quan niệm tự
nhiên về các vị thần dần dần mờ nhạt, thay vào đó “là những nguyên lý trừu
tượng duy nhất tối cao được coi là nguồn gốc vũ trụ và đời sống con người.
Đó là “thần sáng tạo tối cao” Brahman và một tinh thần tối cao Brahman” [2,
tr. 25 ]. Bước chuyển về mặt nhận thức này của người Ấn độ cổ thể hiện bước
chuyển từ thế giới quan thần thoại (với việc giải thích tính muôn vẻ, cụ thể
của thế giới qua biểu tượng các vị thần có tính chất tự nhiên) đến thế giới
quan triết học (bằng việc dần phát hiện ra cái chung, cái bản chất như là bản
nguyên tối cao của thế giới).
Khi bắt đầu xuất hiện tư duy triết học về bản thể luận, các trường phái
triết học khác nhau của người Ấn độ cổ đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau
đầu tiên của thế giới là những hạt vật chất không đồng nhất, bất biến, vĩnh hằng
được phân biệt ở chất lượng, khối lượng và hình dạng, tồn tại trong một môi
trường đặc biệt được gọi là Anu (nguyên tử). Phái Lokayata, với quan điểm
duy vật và vô thần tương đối triệt để quan niệm bản nguyên của tồn tại được
tạo thành bởi bốn yếu tố: đất, nước, lửa, không khí. Những yếu tố này có khả
năng tự tồn tại, tự vận động trong không gian và cấu thành vạn vật. Tính đa
dạng của thế giới chính là do sự kết hợp khác nhau của những yếu tố bản
nguyên ấy. Từ quan điểm đó phái này cho rằng con người cũng chỉ là sự hợp
thành của những yếu tố bản nguyên vật chất đó nên sự tồn tại hay mất đi của
con người cũng bị quy định bởi sự kết hợp khác nhau của các yếu tố đó. Vì thế
linh hồn con người không tồn tại bất tử giống như thể xác của họ.
Như vậy, trong sự phát triển tư duy trừu tượng của mình, triết học Ấn độ
cổ trung đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học. Trong
khi giải quyết những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhiều tư tưởng với yếu tố
biện chứng với tầm khái quát sâu sắc đã được thể hiện và phát triển. Hầu hết
các trường phái triết học đều “biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần,
từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên” [17, tr. 61]. 24
Liên quan đến những nội dung nghiên cứu cơ bản của đề tài nên triết
học phật giáo. mặc dù là một trong những trường phái của triết học Ấn độ,
chúng tôi muốn trình bày nó thành một phần riêng sau đây.
Những quan niệm về bản thể luận của các nhà tư tưởng Việt nam trong
lịch sử cũng có rất nhiều điểm tương đồng và khác biệt với các quan điểm
trên và với quan điểm về bản thể luận của phương tây. Ví dụ, với Lê Quý
Đôn, quan niệm về bản thể luận đã được ông thể hiện hết sức sâu sắc trong
học thuyết Lý Khí của mình. Ông quan niệm vạn vật đất trời đều là khí, bắt
đầu từ khí: “Đầy dãy trong khoảng trời đất đều là khí cả” (Doanh thiên địa chi
gian giai khí dã) [7, tr. 53]. Vì thế, cần thừa nhận không cần hoài nghi về sự