QUAN ĐIỂM CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN LỐI SỐNG CON NGƯỜI HUẾ HIỆN NAY - Pdf 16


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUAN ĐIỂM CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN
LỐI SỐNG CON NGƯỜI HUẾ HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn
ThS. Thái Thị Khương
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Sao
Lớp: Triết K34
Huế, tháng 5 năm 2014

Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin
gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Khoa học,
Khoa Lý luận Chính trị, đặc biệt là giảng viên - Thạc
sĩ Thái Thị Khương đã nhiệt tình hướng dẫn giúp em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tuy đã cố gắng rất nhiều song khóa luận chắc chắc
còn nhiều thiếu sót, rất mong quý thầy cô xem xét và
góp ý để cho khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện
hơn.
Huế, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Sao

MỤC LỤC

2.2.2. Sự tác động của Phật giáo đến quan niệm tư tưởng 42
2.2.3. Ảnh hưởng của phật giáo đến phong tục tập quán 51
C. KẾT LUẬN 60
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau
như sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, dân tộc học, triết học Song, giải
đáp những vấn đề chung nhất về con người như bản chất con người, ý nghĩa
cuộc sống của con người, trước hết phải là nhiệm vụ của triết học, bởi vì, đặc
trưng của tư duy triết học là sự phản ánh của tư duy con người đối với bản
thân mình. Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong
lịch sử nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất
con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì
để giải phóng mình, đạt tới tự do? Đây cũng là nội dung cơ bản của nhân
sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết học.
Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này
hay vấn đề kia. Đồng thời, tùy theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường
phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp
khác nhau trong việc lý giải về con người.
Thời kỳ cổ đại, Protagoras cho rằng: “Con người là thước đo của vạn
vật” và đặc biệt khi Socrate kêu gọi “Con người hãy tự biết mình” thì khi đó,
đối tượng con người, đối tượng gần gũi và thân cận nhất là con người mới
được các nhà triết học đương thời chú ý và quan tâm. Ngày nay, con người
không chỉ được nghiên cứu như là đối tượng khách quan của nhiều ngành
khoa học mà còn trở thành một phần chủ thể góp phần kiến tạo và hình thành
nên diện mạo thế giới khách quan. Ở Ấn Độ, con người là “tiểu vũ trụ”, sống
chính là nhằm hòa tan cái “tiểu vũ trụ” nhỏ bé vào “đại vũ trụ” rộng lớn như
giọt nước hòa vào đại dương mênh mông. Ở Trung Quốc, con người và trời

đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phật giáo là một đề tài rất rộng, nó khá hấp dẫn và thu hút nhiều người
tham gia. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo ở nhiều
gốc độ khác nhau. Như:
2
- Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nhà xuất
bản Hà Nội.
- Ngô Văn Doanh và Nguyễn Hùng Hậu (Biên dịch 1990), Phật giáo
những vấn đề triết học, TTTL Phật học Việt Nam, Hà Nội.
- Nguyễn Hùng Hậu (1996), Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật
giáo của Trần Thái Tông, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội.
- PGS. PTS Phùng Hữu Phú (Chủ biên1997), Hồ Chí Minh với Phật
giáo Việt Nam (1945 - 1969), Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội.
- Nguyễn Tài Thư (Chủ biên 1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Thích Phụng Sơn (1995), Những nét văn hóa của đạo Phật, Viện
nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Ở Đại học Huế cũng có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo của
một số tác giả như:
- Lê Cung với tác phẩm “ Phong trào Phật giáo ở miền Nam thời kỳ
1963 - 1964”.
- Trần Cao Phong với tác phẩm “Phật giáo Huế với việc hình thành
nhân cách con người Huế”.
- Hoàng Ngọc Vĩnh với các tác phẩm “Nhân sinh quan của Phật giáo
qua góc nhìn lịch sử”; “Chùa Huế và đời sống tinh thần của con người Huế”;
“Phật giáo Huế trong đời sống văn hóa xã hội Huế hiện nay”
Nhìn chung các đề tài xoay quanh Phật giáo đã có nhiều tác giả nghiên
cứu với nhiều gốc độ khác nhau; song, chủ yếu đó là những công trình nghiên
cứu về Phật giáo ở phương diện triết học và xã hội nói chung. Trên phương

về Phật giáo, nhất là Phật giáo Việt Nam vào việc giải quyết các vấn đề đặt ra
của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài là sự vận dụng của phương pháp: phân tích- tổng hợp; lôgic -
lịch sử; thống kê - tổng hợp.
4
6. Đóng góp của đề tài
Khóa luận bước đầu nêu lên những tác động của tư tưởng Phật giáo đến
lối sống con người Huế hiện nay.
Hy vọng rằng khi khóa luận được hoàn thành thì sẽ là tài liệu tham
khảo cho sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề
tài được kết cấu gồm 2 chương, 8 tiết như sau:
Chương 1: Dưới góc độ Triết học về con người được phản ánh
trong nhân sinh quan Phật giáo.
Chương 2: Ảnh hưởng Phật giáo đối với lối sống con người Huế
hiện nay.
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
DƯỚI GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI
ĐƯỢC PHẢN ÁNH TRONG NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
1.1. KHÁI LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT
GIÁO
1.1.1. Con đường hình thành và phát triển Phật giáo ở Ấn Độ
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách ngày nay khoảng 2500 năm. Người sáng
lập là Tất Đạt Đa họ Cù Đàm. Ông sinh ra vào ngày trăng tròn tháng Vaisaka
mà ngày nay cho rằng là ngày rằm tháng Tư, lấy đó làm ngày Phật Đản. Ông
thuộc dòng dõi quý tộc, tộc Thích Ca. Cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu

định đệ nhất. A Nan, đệ tử thứ năm, mệnh danh là đa văn đệ nhất, em họ của
Thích Ca, tụng pháp sau này là cơ sở của Kinh Tạng. Ưu Bà Ly, đệ tử thứ
mười, mệnh danh trì luật đệ nhất, xuất thân thợ cạo, tụng giới sau này là cơ sở
của Giới Tạng. Vốn Thích Ca Mầu Ni không phân biệt Pháp, Giới trong khi
thuyết pháp. Lần kết tập này mới hệ thống lại như thế. Lần kết tập này kéo dài
7 tháng và không có văn bản. Sau này Tam Tạng (ba bộ A Hàm) được coi là
mang nội dung của cuộc kiết tập lần này. Thực tế nội dung Tam Tạng đã
phong phú phát triển hơn mà ngay sự có mặt của Luận Tạng cũng đã chứng
minh điều đó.
Điều đáng lưu ý, ngay lần kết tập thứ nhất đã không thống nhất được
giáo đoàn. Phú Lâu Na, đệ tử thứ chín, mệnh danh biện tài đệ nhất, không dự
cuộc kết tập này. Và, trong khi Ca Diếp chủ trì cuộc họp trong thành Vương
Xá tại hang Thất Diệp thì ở ngoài thành tại tịnh xá Trúc Lâm lại có một số đệ
tử khác hội họp và tỏ ý không tán thành nội dung cuộc họp ở Thất Diệp.
Thành phần giáo đoàn phức tạp. Có tín đồ thuộc tín ngưỡng khác (như
thờ Lửa, Bà la Môn giáo ), có tín đồ thuộc các đẳng cấp khác nhau (Bà La Môn
7
như Ma Ha Ca Diếp, Sát Đế Lợi như A Nan, Thủ Đà La như Ưu Bà Ly ). Cho
nên ngay từ khi Thích Ca Mầu Ni còn sống thì đã có nhiều ý kiến khác nhau.
Tiêu biểu nhất là Đề Bà Đạt Đa, em họ Thích Ca Mầu Ni đã từng phản đối
quyết liệt Thích Ca, đưa ra lý luận gọi là Ngũ Pháp, chủ trương khổ hạnh cực
đoan [13;11,12].
Cuộc kết tập lần thứ hai tiến hành sau kết tập lần thứ nhất khoảng 100
năm tại Phệ Xá Lị. Nguyên nhân triệu tập kết tập lần này là để thảo luận Thập
Sự do các tì kheo tộc Bạt Kỳ đông Ấn Độ nêu ra. Kết tập do trưỡng lão Da Xá
chủ trì với 700 tì kheo tham dự, tiến hành thảo luận trong 8 tháng. Kết quả
dẫn đến sự phân biệt thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ (tiền thân của
Tiểu thừa và Đại thừa sau này). Có tư liệu cho rằng người sáng lập Đại Chúng
Bộ là Đại Thiên, người đề xướng Ngũ Sự.
Khoảng sau hơn 100 năm nữa thì cuộc kết tập lần thứ ba được triệu tập

- Đại thừa có nghĩa là cỗ xe lớn, phái này không chỉ là giác ngộ cho
mình mà còn giác ngộ cho mọi người. Kinh sách thường viết bằng tiếng
Sanskrit và phát triển mạnh mẽ về phía Bắc như Nêpan, Tây Tạng, Mông Cổ,
Trung Quốc, Nhật, Việt Nam nên còn gọi là Bắc tông. Phái này “chấp không”
(không luận), tức vừa phủ nhận bản thể, vừa không thừa nhận sự tồn tại khách
quan chân thực (chứ không phải phủ nhận sự tồn tại đó). Đại thừa đưa ra khái
niệm Tam Thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân). Phật không còn là nhân
vật lịch sử mà là Thần với vô vàn thân, tức Thiên Phật. Đại thừa đã thần thánh
hóa Thích Ca Mầu Ni, coi người chỉ là một Phật xuống trần cứu vớt nhân loại
mà thôi. Đại thừa phê phán A la hán là chưa đạt tới quả vị tối cao, đưa ra khái
niệm Bồ Tát mà chữ Phạn là BODHISATTWA, BODHI là Giác, SATWA là
Chúng sinh (hữu tình chúng sinh), nghĩa là chúng sinh đã giác ngộ. Đại thừa
giải thích “thượng cầu bồ đề, họa há chúng sinh”, tức là mình Giác rồi giáo
hóa chúng sinh cho chúng sinh Giác. Đó là tư tưởng Lợi Tha, Tự Giác Giác
Tha - Đó là tinh thần vị tha cứu thế, cứu khổ, cứu nạn, sau này sẽ càng phát
triển. Người tu hành đạt đến trình độ Bồ Tát, nên có Bồ Tát Mã Minh, Bồ Tát
9
Long Thọ là những nhân vật lịch sử.
Đại thừa có hai phái lớn là: Phái Trung luận (Madhymika) do sư Long
Thọ lập ra ở thế kỷ II s.CN. Phái Trung luận truyền tụng chủ yếu là các kinh
Hoa Nghiêm, Trung luận, Thập nhi môn luận, Thập trụ luận. Phái Du Già
(Yogacara) do hai anh em Vô Trước (Asangha) và Thế Thân (Vasubhandha)
sáng lập ở thế kỷ IV s.CN. Kinh sách truyền tụng của phái này thường là Du
già sư địa luận (duy thức luận), Đại thừa luận, Kim cương bát nhã luận. Về
sau Đại thừa còn có nhiều tông phái khác như Pháp tường tông, Tam luận
tông, Hoa nghiêm tông, Thiên tai tông, Mật tông (Chân ngôn tông), Thiền
tông, Tịnh độ tông
Hay có thể tóm gọn lại Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế
kỷ VI tr.cn; người sáng lập là thái tử Sidharta (Tất-đạt-đa), họ là Gotama (Cồ-
Đàm). Ông sinh năm 624 tr.cn, vào lúc ở Ấn Độ đạo Balamon đang thống trị

nguyện cho thủy thủ đoàn và các vị tăng này nhờ đó mà đến truyền bá Ðạo
Phật vào các dân tộc ở Ðông Nam Á. Giao Châu tiêu biểu bấy giờ là trung
tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền. Lịch
sử chính thức xác nhận năm 240 trước Tây lịch, Mahoda - con vua A dục
(Asoka) đã đưa Ðạo Phật vào Việt Nam . Tư liệu trong Lĩnh Nam Chính Quái
cho biết một dữ kiện chứng tỏ sự có mặt của Ðạo Phật vào đời Hùng Vương
thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể từ trước công nguyên 2879-258). Ðó là
câu chuyện công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng Vương thứ 3 lấy Chử
Ðồng Tử. Chuyện kể rằng Ðồng Tử và Tiên Dung lập phố xá buôn bán giao
thiệp với người nước ngoài. Một hôm Ðồng Tử theo một khách buôn ngoại
quốc đến Quỳnh Viên và tại đây Ðồng Tử đã gặp một nhà sư Ấn Ðộ ở trong
một túp lều. Nhờ đó mà Ðồng Tử và Tiên Dung đã biết đến Ðạo Phật. Qua dữ
kiện này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các tăng sĩ Ấn Ðộ truyền vào
Việt Nam khá lâu trước Tây lịch.
Một bài nghiên cứu của Ngô Ðăng Lợi, viện nghiên cứu khoa học Hải
Phòng viết: "Vùng Ðồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng định chính là thành
11
Nê Lê nơi có bảo tháp của vua Asoka. Nếu quả vậy thì từ thế kỷ thứ ba trước
Tây lịch, Ðạo Phật đã được trực tiếp truyền vào nước ta" . Và Thiền Uyển
Tập Anh cũng ghi nhận cuộc đàm luận giữa thiền sư Thông Biện và Thái Hậu
Phù Thánh Linh Nhân (Ỷ Lan) (khi bà hỏi về nguồn gốc Ðạo Phật Việt Nam
vào dịp các cao tăng trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn
Quốc - Hà Nội), vào ngày rằm tháng 2 năm 1096 Thông Biện dẫn chứng lời
pháp sư Ðàm Thiên (542-607 TL) đối thoại với Tùy Cao Ðế (?-604 TL): "Một
phương Giao Châu, đường sang Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang
Ðông (Trung Hoa) chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng
hơn 40 người, dịch kinh được 15 quyển, vì nó có trước vậy, vào lúc ấy thì đã
có Khâu Ðà La, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu
Bác tại đó". Ma Ha Kỳ vực, Khâu Ðà La (188 TL) người Ấn Ðộ hay Trung Á;
Mâu Bác (165-170 TL) người Trung Hoa; Khương Tăng Hội (200-247 TL)

mạnh mẽ, với sự xuất hiện của Tăng Hội (? - 280) và tư tưởng thiền của ông.
Ông không những là sáng tổ của Thiền học Việt Nam, mà còn là người đầu
tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng Hội đã ở trên đất Ngô từ năm
255 đến 280).
Sự thâm nhập của Phật giáo theo con đường đồng cỏ còn được thể
hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị
trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu
Phật giáo Trung Hoa.Các phái thiền du nhập ở đất Bắc, thì sớm nhất là tổ
Vinitaruci (549) đã lập nên thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi Việt Nam. Vị tổ này
là Pháp lữ với đệ Tứ tổ Đạo Tín ở Trung Hoa. Hai tổ đều là đệ tử đắc Pháp
của đệ tam tổ Tăng Xán. Phái Vinitaruci truyền được 19 thế hệ, có 28 thiền
sư đắc Pháp, khởi đầu từ Ngài Pháp Hiền (626) đến Ngài Y Sơn (1216) phái
này không thấy truyền vào phương Nam khi dân tộc Việt Nam làm cuộc
Nam tiến lâu dài liên tục.
Thiền phái thứ hai là Vô Ngôn Thông (826). Ngài Pháp lữ với Ngài
Quy Sơn (853) bên Trung Hoa. Hai tổ đều là đệ tử đắc pháp của tổ Bách
13
Trượng (814) phái thiền này truyền được 15 thế hệ, có đến 40 vị đắc pháp;
truyền mãi cho đến niên hiệu Khai Hựu nhà Trần(1337). Phái này cũng không
thấy truyền vào phương Nam. Mặc dầu, vào các thế kỷ XIII, XIV đời Lý,
Trần thì người Đại Việt đã làm chủ đất Thuận Hóa.
Thiền phái thứ ba do chính một thiền sư Trung Quốc đã đến đất Châu
Ô, Châu Rí cắm tích trượng để hoằng hóa giáo Pháp, nhưng cơ duyên lại đẩy
vị thiền sư này ra Thăng Long để khai phá, đó là thiền sư Thảo Đường, phái
này truyền thừa được 5 thế hệ, có 19 thiền sư đắc pháp. Thời gian kéo dài từ
1069 đến 1205. Mặc dầu, từ Châu Ô, Châu Rí ra; nhưng về sâu thiền này
cũng không truyền vào phương Nam.
Thiền phái thứ tư do người Việt sáng lập, đó là dòng Thiền Trúc Lâm ở
núi Yên Tử. Phái này long thịnh vào thời dân Đại Việt đã làm chủ cõi đất
Thuận Hóa, tuy có đến cửa Tư Dung và vùng Bắc Thuận Hóa mà không

Lê chính là Ðồ Sơn hiện nay (cách Hải Phòng khoảng 12km)" [15; 13,14].
Tuy nhiên, ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta
có thể xem việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ X, khi mà một mặt có
sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa
từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt
Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh. Từ đây đã tạo một
tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh
điểm là giai đoạn thế kỷ X - XIV.
• Phật giáo Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của 3 tông phái lớn:
Thứ nhất là Mật tông: Ra đời từ thế kỷ VII, khi Phật giáo Ấn Độ đã suy
yếu và Ấn Độ giáo hình thành. Mật tông hình thành từ Phật giáo Đại thừa và
các yếu tố bùa chú, pháp thuật thần linh của Ấn Độ. Những người tu hành
trong tông phái mật tông đã ảnh hưởng lớn đến phật giáo Việt Nam thời nhà
Lý với các sư Vạn Hạnh, tới đạo hạnh Không Minh không. Mật tông đề cao
vai trò của người xuất gia tu hành, thậm chí còn coi là liệu thân của Phật.
Thứ hai là Tịnh độ tông: Ra đời vào thế kỷ IV ở TRung Quốc do sư
15
Tuệ Viễn (Viễn Công) lập ra, Tịnh độ tông thờ Tam Bảo: Tam bảo tức là ba
ngôi báu. Tam bảo là Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo. Phật Bảo: Đại giác, đại
ngộ, hiểu biết tất cả. Pháp Bảo: những giáo thuyết của đức Phật. Tăng Bảo:
những người xuất gia cùng hòa hợp, cùng nhau tu học giáo thuyết của Phật.
Quy y Tam bảo: là gửi thân vào đức Phật, vào đạo Phật, vào tăng chúng của
Phật. Tức là nương theo đức giác có đủ Phước và Huệ, tức là nương theo sự
chính không tà kiến, là nương theo đức Tịnh không nhiễm ô trọc, không chấp
nệ. Như vậy, Phật tức là giác, Pháp tứ là chính, Tăng tức là tịnh. Có 3 thứ
Tam bảo là tổng thể Tam bảo (3 ngôi còn ở trong thế gian). Họ niệm Phật,
chủ trương dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu. Điều quan trọng là giữ
cho tâm tính yên tĩnh, không vọng động, phải hướng thiện và hướng thượng,
luôn nhớ công đức cũng như lời răng dạy của Phật. Phải luôn có niềm tin vào
sự giác ngộ.

tuổi đời và 25 tuổi hạ trở lên); Hòa thượng (ít nhất phải có 60 tuổi đời và 45
tuổi hạ). Ni không có phẩm thượng tọa và hòa thượng mà được thay bằng
phẩm ni sư và sư trưởng.
Bậc Tỳ Kheo trở lên: Tăng phải giữ 250 giới, Ni phải giữ 348 giới.
Người xuất gia phải được phép của cha mẹ, không tàn tật, không nói ngọng,
không phải là tội phạm, không phải là kẻ trốn nợ và phải được tăng chúng
trong chùa hay tu viện đồng ý. Người xuất gia tu hành được gọi là tăng
(Nam), Ni (Nữ). Giới luật quy định cho những người xuất gia là rất nghiêm
ngặt, chi tiết cho tất cả các sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, ngủ nghỉ, nói năng,
quan hệ giao tiếp vói gia đình xã hội, đồng đạo và phương thức hành động.
Hàng tháng vào ngày 15, 29 hoặc 30 âm lịch những người xuất gia trong một
chùa hay trong một tu viện phải tập họp lại để tụng giới. Người phạm giới
được xử theo phép xết ma. Giáo lý, giới luật của Phật giáo tạo ra những nội
dung đạo đức khá phong phú, điển hình như "từ bi hỷ xã", "vô ngã vị tha",
"bình đẳng hòa hợp, khoan dung yêu thương giúp đỡ lẫn nhau".
• Các ngày lễ chính trong Phật giáo
Tính theo âm lịch thì những ngày lễ chính là:
- Ngày 01 tháng 01, lễ vía Phật Di lặc.
17
- Ngày 15 tháng 01, lễ thượng nguyên.
- Ngày 08/02, lễ vía Phật thích ca xuất gia.
- Ngày 15/2, lễ vía Phật thích ca nhập diệt.
- Ngày 04/04, lễ vía bồ tát văn thù.
- Ngày 15/04, lễ vía Phật đản sinh; từ 15/04 -đến 15/07 mùa kiết hạ.
- Ngày 19/6, lễ vĩa quán thế âm bồ tát thành đạo.
- Ngày 13/07, lễ vía địa tạng bồ tát.
- Ngày 19/9, lễ vía quán thế âm xuất gia.
- Ngày 30/9 lễ vía Phật Dược sư.
- Ngày 17/11, lễ vía Phật A di da.
- Ngày 8/12, lễ vía Phật thích ca thành đạo.

hay không có mặt cũng không thây đổi được điều đó.
* Các nhân tố hình thành con người.
- Con người là hợp thể của Danh và Sắc
Có nhiều cách giải thích khác nhau về những nhân tố hình thành nên
con người, trong đó có hai nhân tố cơ bản và chung nhất mà Phật giáo đề cập
đến: Danh và Sắc (namarupa).
Danh - Sắc là tên gọi chung của Ngũ uẩn. Danh chỉ cho phương diện
tinh thần hay tâm; còn Sắc chỉ về cơ thể, thể xác hay vật chất. Trong một số
trường hợp, để nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, Đức Phật đã đề cập đến các
khái niệm khác như Ngũ uẩn, Lục giới, Tứ thực, Thập nhị xứ, Thập bát giới
Chẳng hạn, khi nhấn mạnh về vật chất, đức Phật nói Lục giới (đất, nước, lửa,
gió, không và thức); Tứ thực (đoạn thực, xác thực, tư thực và thức thực); khi
nhấn mạnh đến yếu tố nhận thức, Đức Phật nói Lục xứ (nhãn, nhĩ, tị, thiệt,
thân và ý), Nhị thập xứ (lục xứ kết hợp với lục cảnh: sắc, thanh, hương, vị,
xúc), Thập bát giới (lục xứ kết hợp lục cảnh hình ra lục thức: nhãn thức, nhĩ
thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức; cộng lại là 18).
Khi nói con người là hợp thể của Danh và Sắc, điều đó có nghĩa con
người chỉ được gọi là con người khi có sự tương hợp của hai yếu tố: tinh thần
19
và vật chất. Nói cách khác, nói con người được sinh thành thuần túy từ vật
chất hoặc từ tinh thần đều là sai lầm; thay vào đó, khi có sự phối hợp hay
tương hợp của hai yếu tố này cùng lúc thì khi đó mới có con người. Quan
niệm về con người là hợp thể của Danh - Sắc này là quan niệm cơ bản và
chung nhất trong tất cả các quan niệm khác về con người, không chỉ tiếp tục
tái khẳng định con người là Vô ngã vì là hệ quả của Duyên khởi mà còn muốn
nhấn mạnh một điều: vật chất và tinh thần hay thể xác và tâm thức chính là
hai nhân tố hình thành nên con người.
- Con người là hợp thể của Lục giới (Lục đại)
Lục giới (sad dhatavah) là sáu yếu tố hình thành ra con người gồm đất,
nước, gió, lửa, không và thức. Gọi là giới vì mỗi thứ đều có giới hạn riêng, có

- Ngoài ra để con người có thể tồn tại và phát triển thì con người cần phải
ăn uống. Ăn (thực) là cái vô cùng quan trọng, trong Phật giáo có 4 loại thực:
(1) Đoạn thực: thức ăn là động vật, thức ăn vật chất.
(2) Tư thực: thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi.
(3) Xúc thực: thức ăn là những cảm xúc, cảm giác.
(4) Thức thực: thức ăn là những món ăn tinh thần thuần khiết. Đây la
thức ăn của cõi vô sắc, sống bằng tinh thần thanh cao.
1.2.2. Quan niệm của Phật giáo về thân thể con người
Khi phân tích con người, Đức Phật sử dụng khái niệm Ngũ uẩn. Khi
quán chiếu quá trình hình thành ra con người, nói đúng hơn là quá trình hình
thành Ngũ uẩn, Đức Phật sử dụng khái niệm Thập nhị nhân duyên. Cả hai
quan niệm Ngũ uẩn và Thập nhị nhân duyên đều nhằm mục đích nhấn mạnh
con người vốn dĩ Vô ngã, tức là không có ngã để thường hằng, thường trụ và
bất biến. Tuy vậy, mỗi một khái niệm có một chức năng riêng biệt nhằm nhấn
mạnh các khía cạnh khác nhau. Ngũ uẩn nhằm phân tích sự hiện hữu của con
người ở khía cạnh hiện hữu, Thập nhị nhân duyên nhằm chỉ rõ tiến trình sinh
thành và hoại diệt của con người. Thập nhị nhân duyên gồm 12 chi là: Vô
21

Trích đoạn Quan niệm của Phật giáo về thân thể con người Quan niệm của Phật giáo về bản chất con người Quan niệm của Phật giáo về cuộc đời con người KHÁI LƯỢC VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI HUẾ Sự tác động của Phật giáo đến đời sống xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status