Ti: Phõn tớch t tng H CH MINH trong trit hc MC Lấ LIN
A/ PHN M U
Ch tch H Chớ Minh, lónh t v i ca ng Cng sn Vit Nam, Anh hựng gii phúng dõn tc,
Danh nhõn vn húa th gii ó v vi cừi vnh hng c gn 40 nm. Ngi ra i, nhng ó li cho
ton ng, ton dõn ta mt di sn vụ cựng to ln - ú l t tng v o c cỏch mng.
Cú th núi rng, t tng H Chớ Minh v o c cỏch mng c bt ngun t truyn thng o c
ca dõn tc Vit Nam, nn o c ó c hỡnh thnh hng ngn nm sut chiu di lch s dõn tc v
k tha t tng o c phng ụng cng nh tinh hoa o c ca nhõn loi v da trờn nn tng t
tng o c cỏch mng ca ch ngha Mỏc - Lờnin. Song, vi t duy c lp v sỏng to, xut phỏt t
thc tin cỏch mng Vit Nam, Ch tch H Chớ Minh ó k tha cú chn lc nhng giỏ tr o c ca
quỏ kh, xut nhng t tng o c mi, phự hp vi yờu cu ca cỏch mng Vit Nam trong thi
i mi. Thụng qua cỏc tỏc phm, cỏc bỳt tớch gc ca Ch tch H Chớ Minh ang c lu gi ti Bo
tng Cỏch mng Vit Nam, chỳng ta cú th nhn thy trong lnh vc o c cỏch mng, Ngi thng
s dng nhiu khỏi nim, phm trự ca cỏc t tng o c ó cú t trc nh: trung, hiu, nhõn, ngha,
cn, kim, liờm, chớnh, chớ cụng, vụ t ó cú trong Nho giỏo t my trm nm trc Cụng nguyờn; hoc
cỏc khỏi nim t do, dõn ch, bỡnh ng, bỏc ỏi xut hin ti Tõy u t thi Hy-Lap c i. Song Ch
tch H Chớ Minh ó "Vit Nam húa" thnh cỏc khỏi nim n gin d hiu, d thc hin v gn gi hn
vi cỏn b v nhõn dõn lao ng. Bài tiểu luận của tôi trên phơng diện triết học với mong muốn đem
một phần hiểu biết của mình cho các bạn thấy đợc t tởng của Hồ Chí Minh.
B/PHN NI DUNG
I, Phng phỏp bin chng H Chớ Minh l s vn dng thun thc phng phỏp bin chng duy
vt macxớt:
1- V trớ ca t tng o c H Chớ Minh trong t tng vn húa H Chớ Minh :
i hi IX ca ng ta ó a ra mt mnh cu thnh nh ngha rt chun xỏc v t tng H
Chớ Minh, rng "T tng H Chớ Minh l mt h thng quan im ton din v sõu sc v nhng vn
c bn ca cỏch mng Vit Nam". Nh vy, t tng H Chớ Minh cn c nghiờn cu khụng phi di
gúc nhng ý kin, nhng suy ngh riờng l, c th, m trong s tng hp cú tớnh h thng, tc l
nghiờn cu di gúc mt hc thuyt chớnh tr - cỏch mng. T tng o c H Chớ Minh l mt b
phn ca t tng vn húa H Chớ Minh v t tng H Chớ Minh v vn húa li l mt b phn ca t
tng H Chớ Minh núi chung. Ch tch H Chớ Minh l mt tm gng tiờu biu, mt mu mc tuyt
vi v o c, khụng ch o c ca con ngi xó hi m cũn l o c ca mt lónh t cỏch mng,
Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào thời kỳ quá độ lên
CHXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: "Chúng ta phải đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ
nào để tiến lên CHXH" và Người nhắc nhở: "Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các
nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì
nước ta có những đặc điểm riêng của ta".
Theo quan điểm macxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản
nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và
đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát
triển. Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: "Cái gì cũng có mâu thuẫn,
vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu
thuẫn sẵn có trong mọi sự vật".
Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đầu
thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội
phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù
chính là đế quốc và phong kiên tay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ
cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống phong kiên đem lại ruộng đất cho dân
cày.
Làm như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật, nếu dân tộc còn
phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Cuộc Cách mạng
tháng 8/1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng
hái tiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giành lại nền độc lập cho
dân tộc. Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng của Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu
thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch - ta, nêu tấm gương về nghệ thuật vận
dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị
Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạn quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng
vạn quân Anh - Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Núp dưới bóng
quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta. Nếu kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng
nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, có gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng
đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giũa mâu thuẫn và thống nhất các mặt đôi lập.
Biện chứng giữa cái "bất biến" và cái “vạn biến".
Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương Đông, xuất phát từ quan
niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều
khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn
biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương
Phép biện chứng duy vật macxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động
và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có
nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam.
Vậy ta hiểu "dĩ bất biến ứng vạn biến" mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theo cách nói của triết
học, có thể hiểu "bất biên" là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu
như bất biến, còn "vạn biến" là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào
quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra quy luật tương
ứng.
Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự
vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi
khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái "bất biến" (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là
điều kiện tồn tại của sự vật).
Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù "bất biến". Hoá học được xây đựng
trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng
lượng học dựa trên định luật bảo toàn năng lượng. Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không đổi.
Về mặt xã hội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã hội nào người ta cũng vẫn cần đến
ăn, mặc, ở tức là vẫn phải có sản xuất và phân phối, nghĩa là sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về
cách thức sản xuất và cách thức phân phối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội nào cũng vẫn
phải có. Cũng có thể gọi đó là các hằng số xã hội. Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứng macxít, đồng
thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông. Người thường bắt đầu từ cái bất biến để
đi tới cái khả biến của xã hội và con người. Thí dụ, Người nói: "Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng
có một điều thì dân nào cũng giống nhau ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”. Khi nghe một vị ủy
viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướng mới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu
động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và
màu da.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung cơ bản:” Con người là
vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng” Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần
chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu
dân, quý dân, trọng dân, vì "có dân là có tất cả". Người nói: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Do đó, "trong xã hội
không có gì tất đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân".
Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một
niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng
con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu. Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của
chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh “ Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng ” Tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con người như là công cụ, như
là phương tiện. Mọi chính sách tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới
con người. Người nói: "Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân", "dựa vào lực lượng
của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân", "chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật
chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây đựng lấy".
Qua đó, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người - mục tiêu và con người - động lực là
thống nhất, vì dân và do dân là thống nhất.
Trong hệ thống các động lực chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đến giáo dục
chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng đồng thời không coi nhẹ vai trò tác
động của các nhân tố tinh thần khác,như : văn hoá, khoa học, pháp luật đặc biệt, Người chú trọng phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, coi "thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi
khó khăn".
Là nhà duy vật macxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu và
lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ
qua các động lực vật chất, khéo léo kết hợp các loại động lực với nhau, tạo sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy
tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng
của người lao động, chủ trương kết hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho "Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng
có lợi".
Chí Minh được trình bày trên đây mới chỉ là những khái quát bước đầu, chắc chắn cần được bổ sung và
hoàn chỉnh cùng với những thành tựu mới trên con đường lâu đài nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh.