Ảnh hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học phật giáo đến tư duy của người việt nam - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian 4 năm học tập tại lớp Cử nhân Triết K11, khóa học
2011-2015, được sự giảng dạy của quý thầy cô, sự giúp đỡ và tạo điều kiện
của Khoa Lý luận Chính trị, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Kim Hoa, cùng sự giúp
đỡ của Ban lãnh đạo nhà trường đã giúp cho tôi có được những kiến thức vô
cùng quý giá.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Th.S Nguyễn Thị Kim Hoa, giảng viên hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp của
tôi đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, dạy bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tập thể lớp CN Triết K11 đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, mặc dù đã cố gắng
hết sức song kiến thức còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong quý thầy cô góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Hà Thu
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài với những biến động
và thăng trầm của riêng mình. Gắn liền với nó là sự ảnh hưởng của rất nhiều
các trường phái triết học khác nhau đã du nhập, đã được chọn lọc và áp dụng
trong cách sống, cách tư duy của người Việt Nam chúng ta. Và không thể phủ
nhận rằng trong hàng loạt các tư tưởng triết học đó, Việt Nam nói riêng và
Đông Nam Á cũng như Châu Á nói chung đã bị ảnh hưởng khác sâu sắc và rõ
rệt bởi triết học Phật giáo.
Phật giáo là một tôn giáo lớn nhất thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống

người Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
1.2. Mục tiêu đề tài
-Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề tôn giáo, đề tài đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về ảnh
hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo đến tư duy của người
Việt Nam.
-Với mục đích trên, khóa luận đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Một là, khái quát về Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển của Phật
giáo ở Việt Nam.
Hai là, trình bày lý luận chung về yếu tố biện chứng trong triết học
Phật giáo.
Ba là, ảnh hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo đến tư
duy của người Việt Nam.
Bốn là, chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Phật giáo đến
tư duy của người Việt Nam.
1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy của con người
Việt Nam là một đề tài rộng lớn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đạt
được những kết quả đáng trân trọng. Có thể kể ra một số công trình sau đây:
- Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt
Nam hiện nay của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997;
- Ảnh hưởng của tư tưởng Triết học Phật giáo trong đời sống văn hoá
tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998;
- Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam
hiện nay của Lê Văn Đính, Tạp chí Tôn giáo, số 10 - 2007;
- Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1 của Nguyễn Hùng
Hậu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002;
- Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông của

đời sống tư duy của con người Việt Nam. Các công trình nghiên cứu nói trên,
trực tiếp hoặc gián tiếp, ở từng khía cạnh và mức độ xem xét khác nhau, đó
thể hiện tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tư
duy của người Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu làm sáng tỏ có tính hệ thống
về ảnh hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo đến tư duy của
người Việt Nam thì cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học chuyên
khảo nào trực tiếp đề cập đến. Các công trình trên là những tài liệu quý, hết
sức có giá trị là cơ sở để sinh viên tiếp thu và kế thừa những thành quả nghiên
cứu của những người đi trước. Vì vậy, khóa luận này, từ góc độ triết học đi
sâu nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về yếu tố biện chứng trong
triết học Phật giáo, từ đó tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với tư duy của người
Việt Nam.
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối trượng nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo
đến tư duy của người Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận không đi vào nghiên cứu tất cả nội dung yếu tố biện chứng
của các tông phái trong mọi giai đoạn phát triển của Phật giáo, kể cả yếu tố
biện chứng trong triết học Phật giáo Việt Nam, cũng không đề cập đến ảnh
hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo trong mọi lĩnh vực của
đời sống văn hóa, tinh thần con người Việt Nam, mà khóa luận chỉ đi vào
nghiên cứu yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo trên nội dung chủ yếu
là tư duy của người Việt. Từ đó, tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với tư duy
của người Việt.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Khái quát về Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt
Nam.
Trình bày lý luận chung về yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo.
Làm rõ ảnh hưởng của yếu tố biện chứng trong triết học Phật giáo đến

Trung Quốc, thế kỷ thứ V có Đàm Hoằng. Ở thời kỳ này cũng có một số nhà
sư Việt Nam có danh tiếng như Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền. Quá trình
truyền đạo này đã hình thành nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu (một trong 3
trung tâm Phật giáo lớn: Lạc Dương, Bành Thành, Luy Lâu).
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ X vẫn
được xem là giai đoạn truyền giáo. Tuy nhiên, giai đoạn này, ảnh hưởng của
các nhà truyền giáo Ấn Độ giảm dần, trong khi các nhà truyền giáo Trung
Quốc tăng lên. Đáng chú ý hơn cả là việc truyền nhập các phái thiền Trung
Quốc vào Việt Nam, đặc biệt là hai phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và phái thiền
Vô Ngôn thông.
Đến thế kỷ thứ X, Việt Nam giành được quyền tự chủ. Chính trong thế
kỷ này Phật giáo mới bắt đầu hưng thịnh và có những đóng góp tích cực cho
đất nước. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định ra phẩm trật tăng già và ban
chức cho tăng sĩ. Bắt đầu từ đây cho đến thế kỷ XIV, các thiền sư được trọng
dụng, được mời tham gia vào chính sự, góp phần to lớn vào công cuộc hưng
thịnh của quốc gia.
Vua Đại Hành sau khi hoà với nhà Tống đã sai sứ sang triều cống
Trung Hoa và xin thỉnh kinh Phật đem về truyền bá. Nhiều thiền sư đã được
vua Lê Đại Hành mời tham gia đóng góp trí tuệ cho đất nước như Thiền sư
Pháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh.
Triều Lý, triều đại được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên và cũng là
triều đại thuần từ trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Lý Thái Tổ (Lý
Công Uẩn), vị vua đầu tiên sáng lập nên triều đại nhà lý là người xuất xuất
thân từ cửa Phật, được nuôi dưỡng và trưởng thành ở chốn thiền môn. Việc
lên ngôi của ông cũng do sự sắp sếp tài tình của thiền sư Vạn Hạnh. Điều đó
đủ nói lên sức ảnh hưởng của Phật giáo trong triều đại này. Mọi công việc lớn
nhỏ của nhà nước thế tục trong giai đoạn này như chuyện chính trị, quân sự,
ngoại giao, chuyện dời đô đến chuyện dạy đạo đức cho dân đều có sự đóng
góp ý tưởng của các vị thiền sư. Nhiều thiền sư nổi tiếng về việc tu hành và
có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước, như sư Vạn Hạnh, sư Viên Chiếu, sư

Thời Minh Mạng và Thiệu Trị bắt đầu có sắc trùng tu những ngôi chùa
và Tổ đình quan trọng, nhưng trong dân gian thì ảnh hưởng của Phật giáo
không còn sâu đậm như trước.
Thời vua Tự Đức, nước ta rơi vào vòng đô hộ của Pháp, Phật giáo Việt
Nam vốn đã suy vi, nay lại càng suy vi hơn. Dưới sự cai trị của nhà Nguyễn
(cả trước và sau khi Pháp xâm lược), Phật giáo tiếp tục suy tàn.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số nhà tu hành và một số nhân
sĩ, trí thức Phật giáo đã đứng ra vận động phong trào “Chấn hưng Phật giáo”.
Kể từ đó, Phật giáo có sự khởi sắc. Một bộ phận Phật giáo đi vào hoạt động
có tổ chức, một số cơ sở đào tạo tăng tài lần lượt ra đời như An Nam Phật học
hội, Hội Phật học Bắc kỳ, Hội tăng già Trung Việt, hội Phật học Việt Nam,
tổng hội Phật giáo Việt Nam…
Thời kỳ Mỹ - Diệm, Phật giáo ở hai miền có sự khác biệt nhất định. Ở
miền Bắc, Phật giáo được quy tụ trong một tổ chức duy nhất là “Hội Phật giáo
thống nhất Việt Nam” sinh hoạt tín ngưỡng gắn với các hoạt động yêu nước, gắn
bó với dân tộc. Ở miền Nam, do tình hình chính trị phức tạp, Phật giáo bị phân
rã theo nhiều xu hướng chính trị khác nhau và hình thành nên 14 hệ phái.
Sau đại thắng mùa xuân năm1975, đất nước hoà bình, Bắc Nam thu về
một mối đã tạo điều kiện cho các hệ phái Phật giáo thống nhất. Tháng 11/1981,
Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại Hà Nội. Đại hội đã lập
ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chương, Chương trình hành
động và bầu ra cơ quan lãnh đạo. Đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải
qua sáu kỳ Đại hội và không ngừng trưởng thành, phát triển.
Đánh giá một cách khái quát quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo
ở Việt Nam chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Thứ nhất, Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường dân giã và mang tính
tự phát thông qua các thương nhân Ấn Độ và các nhà truyền giáo Trung Quốc.
Phật giáo vào Việt Nam hoàn toàn mang tính tự phát. Công lao đầu tiên
của việc Phật giáo du nhập vào Việt Nam phải kể đến vai trò của các thương
nhân Ấn Độ. Từ những năm đầu công nguyên người Ấn Độ đã đi buôn bán

bối cảnh như vậy, Phật giáo với thuyết Nhân quả nghiệp báo, luân hồi, với
những quan niệm về công đức, Tam bảo… không những không đi ngược với
tín ngưỡng của người Việt mà còn rất phù hợp nên nó đã được tiếp nhận
nhanh chóng. Đồng thời, trong hoàn cảnh bị đô hộ bởi thế lực ngoại bang,
người Việt đã tìm thấy ở Phật giáo một nền tảng tư tưởng để củng cố bản sắc
dân tộc.
Với thái độ khoan dung, mềm dẻo, linh hoạt nên quá trình truyền bá
Phật giáo vào Việt Nam nhìn chung không gây ra những xung đột về văn hoá,
tôn giáo. Không những thế, Phật giáo còn chấp nhận chung sống và hòa đồng
một cách tích cực với hệ thống tôn giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa.
Vào Việt Nam, Phật giáo không những không loại trừ hệ thống tín
ngưỡng dân gian bản địa mà còn dung nạp nó, làm phong phú thêm giá trị của
bản thân mình. Với phương châm “hoằng hóa tùy duyên phương tiện”, Phật
giáo tỏ ra là tôn giáo khá linh hoạt thích ứng nhanh với các điều kiện nơi mà
nó đứng chân. Chính vì vậy, vào Việt Nam, Phật giáo đã không gây nên
những xáo trộn về mặt văn hóa. Nó nhanh chóng hòa đồng, bén rễ trong lòng
dân tộc và chiếm được cảm tình của đông đảo người dân Việt Nam.
Thậm chí, ngay từ những giai đoạn đầu khi mới được du nhập vào Việt
Nam, Phật giáo đã từng được sử dụng như một công cụ để chống lại sự xâm
lăng văn hoá, sự đồng hoá văn hoá của các thế lực xâm lược phương Bắc.
Triết lý Phật giáo gần gũi với với tinh thần dân tộc nên ngay từ giai đoạn đầu,
các nhà tư tưởng của nước Việt đã đến với Phật giáo để tìm một xu hướng độc
lập cho dân tộc, chống lại sự nô dịch tinh thần của tư tưởng Đại Hán. Và
người Việt đã thành công khi sử dụng Phật giáo làm ngọn cờ tư tưởng để tập
hợp, cố kết lòng dân.
Các giai đoạn sau này, trong quá trình phát triển ở Việt Nam, Phật giáo
cũng luôn luôn chung sống hài hòa và có đóng góp vào sự phát triển văn hóa
của dân tộc.
- Thứ ba, trong quá trình du nhập, phát triển, Phật giáo luôn gắn bó,
đồng hành với dân tộc và đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo

thành một thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhiều nhà tu hành
Phật giáo đã tham gia quốc hội trong nhiều khóa. Phật giáo là tôn giáo duy
nhất ở Việt Nam hiện nay nêu phương châm hành động: “Đạo pháp - Dân tộc
- Chủ nghĩa xã hội”. Với phương châm hành đạo này, Phật giáo ngày càng
gắn bó mật thiết hơn với vận mệnh của dân tộc trong giai đoạn mới. Nhìn suốt
chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam, có thể nói rằng, Phật giáo là tôn giáo
luôn gắn bó, đồng hành thuỷ chung với dân tộc, được lòng dân tộc hơn các
tôn giáo khác và vì vậy nó có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, góp phần
hình thành lối sống, nhân cách, đạo đức, tư duy cho một bộ phận không nhỏ
người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay. Hai ngàn năm Phật giáo
Việt Nam là hai ngàn năm Phật giáo nhập thân vào dân tộc.
1.1.2. Khái quát một số nội dung cơ bản của Phật giáo
Tư tưởng triết lí Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh điển
rất lớn, được tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:
Tạng luật: gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định
Tạng kinh: chép lời Phật dạy
Tạng luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật giáo
1.1.2.1. Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo
Thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù: vô ngã, vô thường và
duyên.
Vô ngã (không có cái tôi chân thật)
Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và đa số các môn phái
triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên
tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta
và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành
bởi sự kết hợp của 2 yếu tố là “Sắc” và “Danh”. Trong đó, Sắc là yếu tố vật
chất, là cái có thể cảm nhận được, nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí;
Danh là yếu tố tinh thần, không có hình chất mà chỉ có tên gọi. Nó bao gồm:
thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ), hành (ý muốn để hành động) và thức (sự
nhận thức).

Hạt lúa được gọi là “nhân” khi gặp “duyên” là điều kiện thuận lợi về không
khí, nước, ánh sáng, nhiệt độ…thì nhân sẽ phát triển thành “quả” là cây lúa.
Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết học
Phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman
sáng tạo ra con người và thế giới. Phật giáo cho rằng sự vật và con người
được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần. Các sự vật hiện tượng thế
giới nằm trong quá trình liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng. Nguyên
nhân của sự vận động , biến đồi nằm trong các sự vật. Đó là quan điểm biện
chứng về thế giới tuy còn mọc mạc chất phát nhưng rất đáng trân trọng. Và đó
cũng là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới.
1.1.2.2. Quan điểm về nhân sinh quan của Phật giáo
Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung
trong thuyết “Tứ Diệu Đế” (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) tức là 4 chân
lý tuyệt diệu đòi hỏi mọi người phải nhận thức được. Tứ diệu đế là:
Khổ đế:
Chân lí về sự khổ, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất
khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ. Phật xác nhận
đặc tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải
chịu khổ. Có 8 nỗi khổ là : sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ
(yêu thương nhau phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau phải gần nhau), sở
cầu bất đắc (mong muốn mà không đạt được) và ngũ thụ uẩn (do 5 yếu tố tạo
nên con người).
Như vây, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức
xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất. Về phương
triết học, khổ đau là một thực tại như thực đối với con người. khổ đế là một
chân lý khách quan hiện thực. khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng lọat
nhân duyên được tạo tác từ tâm thức. Như vậy tri nhân thực tại là một cách
trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình thái khổ đau của con người. Để thấu hiểu
triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người không thể dừng lại ở sự thật
của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản chất nội

9. Duyên thủ: do yêu thích quyến luyến, không chịu xa lìa, rồi muốn
chiếm lấy, giữ lấy không chịu buông ra.
10. Duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.
11. Duyên sinh: sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.
12. Duyên lão tử: khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi mòn, trẻ
rồi già, ốm đau rồi chết.
Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn
chung đều cho rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm
duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau.
Cũng có lời giải thích là 12 yếu tố tích luỹ đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà
yếu tố căn đế là ái và thủ, nghĩa là tham lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp.
Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của
nổi khổ đau nhân loại.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê
không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh
khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc
lập ở trong chúng. Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay
không là do lòng mình. Hay nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người
đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục
vọng, vị kỹ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời
đầy an lạc hạnh phúc.
Diệt đế:
Là chân lý về diệt khổ. Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể
tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết bàn”. Một khi gốc của mọi tham ái
được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. muốn diệt khổ phải đi ngược lại
12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh.
Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại,
thực tướng của vũ trụ là con người, không còn tham dục và kéo theo những
hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nói cách
khác diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến

7.Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát,
luôn tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý.
8.Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu
đế, vô ngã, vô thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian .
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vô
minh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh,
sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi.
Ngoài ra Phật giáo còn đưa ra 5 đều nhằm răn đe đem lại lợi ích cho
con người và xã hội. Chúng bao gồm: bất sát (không sát sinh), bất dâm
(không dâm dục), bất vọng ngữ (không nói năng thô tục, bậy bạ), bất âm tửu
(không rượu trà) và bất đạo (không trộm cướp).
Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, có yếu tố duy vật và
tư tưởng biện chứng của thế giới. Phật giáo khuyên con người suy nghỉ thiện
và làm việc thiện nhằm góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân. Tuy nhiên
trong triết lý nhân sinh và con đường giải phóng của phật giáo vẫn mang nặng
tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội. Và những tư tưởng xã
hội phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội
Ấn Độ cổ – trung đại và nêu lên ước vọng giải thoát nổi bi kịch cho con người
lúc đó. Phật giáo cũng nói lên được tự do bình đẳng trong xã hội nhưng triết
lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về
xã hội.
1.2. Khái quát đặc điểm Phật giáo Việt Nam và tình hình Phật giáo
Việt Nam hiện nay
1.2.1. Đặc điểm Phật giáo Việt Nam
Bàn về đặc điểm Phật giáo, còn có những ý kiến khác nhau. Nhìn
chung các nhà nghiên cứu có sự thống nhất cao về những đặc điểm của Phật
giáo Việt Nam. Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, đặc điểm cơ bản của
Phật giáo Việt Nam là tính tổng hợp, tính linh hoạt và xu hướng hài hòa âm
dương có phần thiên về nữ tính. Ông diễn giải tính tổng hợp của Phật giáo là
sự kết hợp giữa các tông phái của Phật giáo cũng như sự hòa đồng với các tôn

tại siêu việt ẩn dấu sau giáo điển. Giáo điển chỉ là cái bè qua sông, chỉ là ngón
tay chỉ mặt trang mà thôi. Tu thiền là làm cho tâm lặng, lọc bỏ hết tham -sân - si
sẽ thấy được Phật tính và do vậy sẽ thành Phật.
Người tu theo Thiền tông phải là người có năng lực trí tuệ và phải tập
trung cao độ toàn bộ thời gian và tâm sức cho việc tu hành. Do đó Thiền tông
chủ yếu lưu truyền trong giới thượng lưu và tầng lớp trí thức. Ở Việt Nam
xuất hiện một số dòng thiền như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo
Đường…Đặc biệt, Ở Viết Nam đã xuất hiện một dòng Thiền riêng, đó là dòng
Trúc Lâm. Nhìn chung, các dòng Thiền ở Việt Nam giao quyện với nhau và
đều đề cao cái tâm, cho rằng, “Phật tại Tâm, Tâm tức là Phật”.
Tịnh Độ tông chủ trương phải dựa vào sự giúp đỡ, hỗ trợ từ bên ngoài
để chứng ngộ chân lý. Tịnh Độ tông quan niệm, một số người có thể tự lực
giác ngộ, nhưng với đa số người khác thì sự giúp đỡ bên ngoài là vô cùng
quan trọng. Như vậy, Thiền tông hay Tịnh Độ tông đều là những biện pháp tu
hành, chỉ đối tượng áp dụng là khác nhau mà thôi. Nếu chỉ có Thiền tông,
Phật giáo chỉ có thể được biết đến trong giới tu hành và một số phật tử thuộc
tầng lớp trên của xã hội. Nhờ có Tịnh Độ tông, với quan niệm và cách thức tu
hành đơn giản, Phật giáo đã trở nên phổ biến và gần gũi với mọi người dân.
Mật tông (Chân ngôn tông) là tông phái sử dụng những phép tu huyền
bí như linh phù, mật chú, ấn quyết, để đạt được sự giác ngộ và giải thoát. Khi
du nhập vào nước ta, Mật tông nhanh chóng hoà quyện với tín ngưỡng dân
gian bản địa như dùng pháp thuật, yểm bùa để trừ tà ma, chữa bệnh, nên
không còn tồn tại như một tông phái riêng.
Khi được truyền bá vào nước ta, các tông phái trên không còn tồn tại
biệt lập, riêng rẽ và thuần khiết như ban đầu nữa mà chúng có sự kết hợp với
nhau, sử dụng những phương pháp của nhau trong quá trình phát triển
Thứ hai, Phật giáo Việt Nam có sự dung hợp với các tôn giáo khác, đặc
biệt sự dung hợp giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đã đến mức “tam giáo
đồng nguyên”. Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa truyền thống
Việt Nam là tính dung hợp. Các yếu tố văn hoá ngoại lai khi du nhập vào Việt

nông nghiệp là đạo thờ Mẫu để hình thành nên một thứ “Tam giáo bình dân”,
trong đó Nho giáo được thay thế bằng đạo Thánh Mẫu. Hầu hết các ngôi chùa
cổ Việt Nam đều thờ cả Phật và mẫu hoặc thần. Kiến trúc chùa thường theo
mô típ “Tiền Phật hậu Mẫu” hoặc “Tiền Phật hậu Thần”, và trong thực tế
nhiều nơi, gian thờ mẫu còn lấn át cả không gian thờ Phật. Sự kết hợp giữa
Phật giáo với tín ngưỡng bản địa của người Việt đã tạo ra dòng Phật giáo dân
gian, với truyền thuyết về Phật mẫu Man nương và những tích chèo cổ như
Quan Âm Thị Kính, hay truyện thơ về công chúa Ba…cùng những quan niệm
độc đáo mang đậm bản sắc Việt Nam.
Phật giáo còn được kết hợp với tín ngưỡng tổ tiên của người Việt mà
điển hình nhất là sự xuất hiện của Phật giáo Hoà Hảo. Phật giáo Hòa Hảo hay
còn gọi là đạo Hòa Hảo ra đời vào năm 1939 ở An Giang. Giáo lý Phật giáo
Hoà Hảo là sự kết hợp của Tịnh Độ tông với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt. Tôn chỉ của nó là “Học Phật, Tu Nhân”, noi theo giáo lý Đức Phật
mà tu sửa con người, tích cực thực hành thuyết “Tứ ân” – Ân cha mẹ, ân đất
nước, ân Tam Bảo và ân nhân loại. Cách thức tu hành của Phật giáo Hoà Hảo
rất đơn giản là “tu hành tại gia”. Các nghi lễ gần gũi với nghi lễ thờ cúng tổ
tiên.
Thứ ba, sự hòa quyện giữa Phật giáo với văn hóa, tín ngưỡng bản địa
của người Việt đã làm nảy sinh dòng Phật giáo dân gian hết sức độc đáo.
Phật giáo là tôn giáo linh hoạt, có tính thích ứng cao. Ở Việt Nam,
dòng Phật giáo dân gian đã có lịch sử khoảng 20 thế kỷ, bởi ngay từ khi được
truyền bá vào nước ta, Phật giáo đã có sự tiếp biến với tín ngưỡng cổ truyền
của người Việt. Ngay từ buổi đầu du nhập, Phật giáo nhanh chóng bị bản địa
hóa và trở thành chỗ dựa tinh thần để người Việt chống lại sự xâm lăng và
đồng hóa về văn hóa của các thế lực ngoại bang. Dòng Phật giáo dân gian là
sản phẩm của sự kết hợp giữa Phật giáo với phong tục, tập quán và tâm thức
của người Việt. Người Việt đã gửi gắm vào đó quan niệm, ước vọng và các
giá trị văn hóa của mình. Do đó, quan niệm về Đức Phật trong dòng Phật giáo
dân gian cũng có nét đặc thù so với Phật giáo nguyên thuỷ. Trong dòng Phật

của người Việt cổ vẫn tồn tại với tư cách là một hiện tượng văn hóa thông qua
các lễ hội ở các làng quê trên khắp lãnh thổ nước ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status