Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
B.NỘI DUNG
I.Khái quát về Phật giáo
1.Nguồn gốc ra đời
2.Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam
3.Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo
II.Những giá trị và hạn chế của Phật giáo
1.Đặc điểm của Phật giáo
2.Những giá trị của Phật giáo
3.Hạn chế của Phật giáo
III.Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với Việt Nam hiện nay.
1.Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa
1.1.Phật giáo góp phần trực tiếp hình thành nên các phong tục,tập
quán truyền thống,đậm đà bản sắc dân tộc
1.2.Phật giáo ảnh hưởng không nhỏ đến các loại hình NT của dân tộc
2.Ảnh hưởng của Phật giáo đối với con người Việt Nam
3.Ảnh hưởng của Phật giáo đến tư duy của con người Việt Nam
C.KẾT LUẬN
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài: Đạo phật là một trong những học thuyết Triết học
- tôn giáo lớn nhất thế giới,tồn tại rất lâu đời.Hệ thống giáo lý của nó rất đồ
sộ,số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp.Kể từ khi được hình
thành nó đã đựơc truyên bá khắp năm châu bốn bể,từ phương Đông tới
phương Tây.Tầm ảnh hưởng của Phật giáo cũng không loại trừ Việt Nam một
nước thuộc bán đảo Đông Dương,giao thông đường biển thuận lợi.Phật giáo
vào nước ta vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở
thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con
thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 TCN,đạo Phật được lưu hành rộng rãi ở các quốc gia
trong khu vực Á-Phi,gần đây được truyền bá tới các nước Âu-Mỹ.Trong qúa
trình truyền bá của mình,Đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng,tập tục dân
gian,văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái và học phái,có tác
động vô cùng quan trọng tới đời sống xã hội và văn hoá của nhiều quốc gia .
Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa ( Siddhartha ),con trai
của Trịnh Vạn Vương ( Suddhodana ) vua nước Trịnh Phạn,một nước nhỏ
thuộc bắc ấn Độ( nay thuộc đất Nê Pan )ông sinh ra vào khoảng năm 623
TCN.Do không thể nào xua đi được bốn sự kiện mà mình đã chứng kiến
khiến lòng dạ người không lúc nào được thanh thản Hoàng tử đã rời cung,dứt
áo ra đi và trở thành nhà tu hành.Thoạt đầu,Hoàng tử đi lang thang đây
đó,sống theo kiểu khổ hạnh,sau đó ngài vào rừng tu.
Khi Hoàng tử Siddharatha 35 tuổi,một hôm ngài đến ngồi dưới
gốc cây bồ đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vung đất của vua Bimbisura
vua nước Magadha.Cho đến một hôm có nàng Sudiata,con gái của một nông
dân trong vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa.Ăn xong ngài
xuống sông tắm rửa rồi trở lại gốc cây bồ đề.Ngài ngồi thiền định và nguyện
sẽ không đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau
khổ.Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm Bảy tuần lễ đó là
cả một chuỗi ngày đầy thử thách.Rạng sáng ngày 49,Siddhartha đã tìm ra bí
mật của sự đau khổ,tìm ra được vì sao thế giới lại tràn đầy khổ đau và đã tìm
được cách để chiến thắng sự khổ đau.Siddhartha đã hoàn toàn giác ngộ và trở
thành Buddha (đấng giác ngộ ).Sau khi giác ngộ Đức phật còn ngồi tiếp bảy
ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu kỳ mà mình đã
khám phá ra Ngài phân vân không biết có nên phổ biến đạo pháp của mình
cho thế giới không vì nó huyền diệu quá,khó hiểu quá đối với mọi
người.Chính thượng đế Brahma phải giáng trần để khích lệ Đức phật truyền
bá đạo pháp của mình cho thế gian.Chỉ khi đó Phật mới rời khỏi gốc cây bồ
đề đi đến khu vườn Lộc Uyển gần Varanasi để giảng bài thuyết pháp đầu tiên
3
túp lều.Nhờ đó mà Đồng Tử và Tiên Dung đã biết đến Đạo Phật.Qua dữ kiện
này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các tăng sĩ Ấn Độ truyền vào Việt
Nam khá lâu trước Tây lịch.
Qua nhiều tài liệu lịch sử và dựa vào địa lý, thiên nhiên, cư dân,
lịch sử có thể cho chúng ta một kết luận chắn chắc rằng Đạo Phật đã được
truyền trực tiếp bằng con đường Hồ Tiêu vào Việt Nam chứ không thông qua
4
Trung Hoa .Tuy nhiờn, cng cú nhiu c liu lch s chng minh rng o
Pht ng thi c truyn vo Vit Nam qua con ng ng C.
b. Pht Giỏo du nhp qua con ng ng C:
Con ng ng C (Chemin des Steppes) tc l ng b cũn gi l
con ng t la,con ng ny ni lin ụng Tõy, phỏt xut t vựng ụng
Bc n , Assam hoc phớa Trung , mt nhỏnh ca ng t la i t
Chõu u qua cỏc vựng tho nguyờn v vựng sa mc Trung ti Lc Dng
bng phng tin lc . Cng cú th cỏc thng nhõn v tng s qua vựng
Tõy Tng v cỏc trin sụng Mekong, sụng Hng, sụng m vo Vit Nam.
Cun Lch s Pht Giỏo Vit Nam (H Ni, 1988) cú núi rừ: "Cỏc thng
nhõn xut phỏt t Trung n cú th dựng tuyn ng b ngang qua ốo Ba
Chựa v theo sụng Kanburi m xung Chõu Th Mờnam, bng tuyn ng
hin nay vn ni lin cng Moulmein vi thnh ph Raheng, nm trờn mt
nhỏnh ca con sụng Mờnam () chớnh tuyn ng ny dn ti vựng Bassak
trung lu sụng Mekong, a bn ca vng quc Kambijan. Vng quc
ny cú th l do nhng di dõn n thnh lp trc cụng nguyờn. Rt cú th
cỏc tng s n vo u cụng nguyờn ó theo con ng ny m n t
Lo, ri t õy vt Trng Sn sang Thanh Húa hay Ngh An".
3.Nội dung chủ yếu của t tởng triết học Phật giáo
T tởng triết học Phật giáo đợc tập trung trong một khối lợng kinh điển
rất lớn , đợc tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm :
-Tạng luật :gồm toàn bộ những giới luật của phật giáo quy định cho cả năm
bộ phái phật giáo nh: Tứ phần luật của thợng tọa bộ ,Maha tăng kỉ luật của
Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên(mời hai quan hệ nhân duyên) đợc
coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh ,một cách tất yếu của sự
liên kết nghiệp quả .
+Vô hình :là cái không sáng suốt ,mông muội che lấp cái bản nhiên sáng tỏ
+Hành :(là suy nghĩ mà hành động ,do hành động mà tạo nên kết quả ,tạo ra
cái nghiệp ,cái nếp .Do hành động mà có ý thức ấy là hành làm quả cho vô
minh và là nhân cho thức )
+Thức :(là ý thức là biết .Do thức mà có danh sắc ấy là thức làm quả cho
hành và làm nhân cho danh sắc )
+Danh sắc :(là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của
ta .Do danh sắc mà có lục xứ ,ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho
lục xứ )
+Lục xứ hay lục nhập :(là sáu chỗ ,sáu cảm giác : mắt,mũi,lỡi,tai ,thân và tri
thức .Đã có hình hài có tên phải có lục xứ đẻ tiếp xúc với vạn vật .Do lục nhập
mà có xúc tiếp xúc ,ấy là lục xứ làm quả cho danh sắc và làm nhân cho Xúc.)
+Xúc: (là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên mở
rộng xúc cảm giác .Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho lục xứ và làm nhân
cho Thụ .)
+Thụ :(là tiếp thu lĩnh nạp những tác động của bên ngoài vào mình .Do thụ
mà có ái .Âý là thụ làm quả cho xúc và làm nhân cho ái )
6
+Aí :(là yêu ,khát vọng ,mong muốn ,thích .Do ái mà có thủ do ấy ái làm
quả cho thụ và làm nhân cho thủ .)
+Thủ :(là lấy ,chiếm đoạt cho mình .Do thủ mà có Hữu .Do vậy mà thủ làm
quả cho ái làm nhân cho Hữu .)
+Hữu :(là tồn tại ,hiện hữu ,ham ,muốn ,nên có dục gây thành cái nghiệp .Do
hữu mà có sinh ,do đó hữu là quả của thủ và làm nhân của sinh .)
+Sinh:(hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh làm ngời làm xúc
sinh .Do sinh mà có tử ấy là sinh làm quả cho hữu và làm nhân cho tử )
+Lão tử (là già và chết ,đã sinh ra là phải già yếu mà đã già yếu là phải
đó mà con ngời cứ khát ái ,tham dục ,cứ mong muốn và hành động chiếm đoạt
tạo ra kết quả mà kết quả đó có thể tốt có thể xấu gây ra nghiệp báo ,rơi vào bể
khổ triền miên không bao giờ dứt.
Sở dĩ có nỗi khổ là do quy định của luật nhân quả .Vì thế mà ta
không thấy đợc cái luật nhân bản của mình (bản thể chân thực ).Khi đã mắc vào
sự chi phối của luật Nhân Duyên thì cũng phải chịu nghiệp báo và kiếp luân
hồi ,luân chuyển tuần hoàn không ngừng không dứt .
Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học
Phật giáo mà còn có từ trong Upanishad.
Nghiệp chữ phạn và Karma là do ta tham dục mà thành , do ta muốn
thỏa mãn tham vọng của mình gây lên .Sở dĩ ta tham dục vì ta cha hiểu đợc
chân bản vốn có của ta cũng nh vạn vật luôn luôn biến đổi không có gì là thờng
định và vĩnh viễn cả.
Cuộc đời con ngời là sự gánh chịu hậu quả của nghiệp đơng thời và
các kiếp sống trớc rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau.
Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong
hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ,nó quyết định đời sau xấu hay
tốt thiện hay ác.
Luân hồi :Chữ phạm là Samsara.Có nghĩa là bánh xe quay tròn .Đạo
phật cho rằng sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết đi thì linh hồn sẽ tách
khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác,nhập vào một thể xác khác(có
thể là con ngời ,loài vật thậm chí là cỏ cây).Cứ thế mãi do kết quả ,quả báo
hành động của những kiếp trớc gây ra đó cũng là cách lý giai căn nguyên nỗi
khổ ở đời con ngời.
Sau khi lý giải đợc nỗi khổ ở cuộc đời con ngời là do Thập nhị nhân
duyên làm cho con ngời rơi vào bể trầm luân. Đạo phạt đã chủ trơng tìm con
đờng diệt khổ.Con đờng giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhân thức đợc nó
mà cao hơn ta phải hành động,phải thấm nhuần tứ diệu đế.
Tứ diệu đế:Là bốn sự thật chắc chắn , bốn chân lý lớn ,đòi hỏi chúng
ta phải thấu hiểu và thực hiện nó .Tứ diệu đế gồm: