ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐẮC LÝ
TƢ TƢỞNG HÕA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƢƠNG
TÂY CẬN HIỆN ĐẠI VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN ĐẮC LÝ TƢ TƢỞNG HÕA BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƢƠNG
ơn PGS.TS Trần Văn Phòng, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng đã tận tình hướng
dẫn, động viên trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận án để tác giả có
thể hoàn thành bản luận án này.
Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo thuộc khoa Triết học,
phòng Đào tạo sau đại học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội; các cán bộ thư viện Quân đội, Học viện Chính trị,
Bộ Quốc phòng, thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Hàm lâm
Khoa học Xã hội Việt Nam, , đã tận tình giúp đỡ tác giả tìm kiếm các nguồn
tài liệu cần thiết trong quá trình viết luận án này.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, cơ quan
và bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên
cứu thực hiện bản luận án.
Tác giả: Nguyễn Đắc Lý 1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……….……………………………………………………
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN TỚI NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI …………………….………
8
1.1. Các công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề ra đời tư
tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại
8
Chƣơng 4. Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TƢ TƢỞNG HÕA
BÌNH TRONG TRIẾT HỌC PHƢƠNG TÂY CẬN HIỆN ĐẠI …
108
4.1. Những giá trị và hạn chế của tư tưởng hòa bình trong triết
học phương Tây cận hiện đại ……………………………………
108
2
4.2. Sự kế thừa tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận
hiện đại của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin ……
119
4.3. Xây dựng “văn hóa hòa bình” - sự kế tiếp và triển khai dự án
“nền hòa bình vĩnh cửu” trong bối cảnh toàn cầu hóa ……………
127
KẾT LUẬN …………………………………………………………
140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……………………………………………
144
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………
145 3
phát triển xã hội. Ngược lại với quan niệm trên, một số triết gia như J.J.
Rousseau, I. Kant, v.v., đã đánh giá chiến tranh là tập hợp mọi tội ác của nhân
loại và kêu gọi hoà bình. Sự đối lập của các quan điểm này còn tiếp diễn cả
trong điều kiện hiện nay, phản ánh lập trường phản tiến bộ và lập trường tiến
bộ của các lực lượng xã hội khác nhau. Do vậy, nghiên cứu tư tưởng hòa bình
của nhân loại nói chung và phương Tây nói riêng, đặc biệt tư tưởng hòa bình
trong triết học phương Tây cận hiện đại nổi lên như là một nội dung quan
trọng nhằm vạch trần bản chất phản tiến bộ của các thế lực ủng hộ chiến
tranh, bảo vệ bản chất tiến bộ của các lực lượng yêu chuộng hòa bình, từ đó
kêu gọi mọi người tích cực tham gia gìn giữ hoà bình như một việc làm vừa
có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách.
Dân tộc Việt Nam vốn yêu hòa bình, sống trong điều kiện phải thường
xuyên đấu tranh chống lại các thế lực thù địch từ bên ngoài, chúng ta hiểu rõ
những hậu quả của chiến tranh cũng như những giá trị quý báu của hòa bình.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, chúng ta luôn có những ứng xử mềm
dẻo đối với các nước lớn để tìm kiếm hòa bình, do vậy đã hình thành nên
truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc. Để xây dựng và phát triển đất
nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thì việc nghiên
cứu tư tưởng hòa bình được phản ánh trong triết học của thời đại trước để
hiểu rõ xu thế phát triển chung toàn nhân loại là việc làm cần thiết.
Như vậy, trong thời đại ngày nay, vấn đề chiến tranh và hoà bình đã trở
thành một trong những vấn đề căn bản của toàn bộ nền chính trị quốc tế. Hoà
bình trở thành điều kiện khách quan cần thiết để duy trì và phát triển nền văn
minh nhân loại. Việc tạo dựng một nền hòa bình vững chắc đòi hỏi phải có
nền tảng lý thuyết là toàn bộ lịch sử tư tưởng về hòa bình mà nhân loại đã tích
luỹ được. Chính vì những lý do nêu trên và trong giới hạn phạm vi một luận
án tiến sĩ triết học, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Tư tưởng hòa bình
5
thị một định hướng giá trị thể hiện ở thái độ chống chiến tranh dựa trên các
căn cứ đạo đức bắt nguồn từ bản tính người; Ủng hộ việc tổ chức đời sống
cộng đồng theo các nguyên tắc xuất phát từ giá trị thuần túy mang bản chất
người; Sử dụng các biện pháp phi bạo lực để giải quyết xung đột như phương
tiện cơ bản nhằm đạt tới những mục đích cá nhân và cộng đồng. Nói cách
khác, hòa bình là giá trị tinh thần đóng vai trò như bộ phận cấu thành nhân
tính của con người cộng đồng. Thái độ đối với hòa bình của cá nhân biểu thị
nhân cách của mình với tư cách một thực thể xã hội. Do vậy, triết học xem xét
hiện tượng “hòa bình” từ hai kiểu lập trường của con người đối với cách thức
giải quyết xung đột. Lập trường thụ động thể hiện ở việc phản đối chiến tranh
bằng tuyên bố, lời nói về mặt đạo đức, văn hóa tinh thần. Lập trường xây
dựng tích cực thể hiện ở sự ủng hộ và kiên định hợp tác cộng đồng dựa trên
thỏa hiệp, đàm phán. Hai chiều cạnh này của thái độ đối với giá trị “hòa bình”
có nghĩa là thừa nhận rằng, hòa bình không đơn giản là vắng mặt chiến tranh
mà còn là điều kiện để tổ chức cuộc sống cộng đồng thông qua sự hợp tác tự
nguyện giữa các thành viên cộng đồng, chống lại sự tổ chức đời sống đó theo
kiểu bị gán ghép bằng áp lực từ bên ngoài. Những nội dung nêu trên của khái
niệm tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại là đối tượng
nghiên cứu trong luận án.
Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng hòa bình được trình bày trong tác phẩm
của các nhà triết học phương Tây tiêu biểu thời cận hiện đại T. Hobbes, J.
Locke, C.I. Saint Pierre, Montesquieu, J.J. Rousseau và I. Kant.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án phân tích làm rõ và khái quát được nội dung quan trọng nhất của
tư tưởng hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại.
7
Luận án cũng nêu bật ý nghĩa của nó trong việc kiến tạo văn hoá hoà
Bàn về điều kiện cho sự ra đời tư tưởng hòa bình trong triết học phương
Tây cận hiện đại, trong tác phẩm “Tình hình nước Đức” [61]. F. Engels đã chỉ
ra hoàn cảnh nước Đức trong các thế kỷ trước, đặc biệt, nước Đức cuối thế kỷ
XVIII như một đống những chán chường, mục nát và tan rã. Không ai cảm
thấy dễ chịu. Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp
đều rơi vào cảnh điêu tàn và cùng cực. Bên cạnh đó, F. Engels cũng viết về sự
ảnh hưởng của cuộc cách mạng Pháp đến thời cận hiện đại nói chung và đến
nước Đức nói riêng, nó như một luồng gió mới thổi từ bên ngoài vào nước
Đức [Xem: 61, tr. 754-756]. Những điều kiện trên đây có ảnh hưởng lớn đến
tư tưởng về hòa bình trong triết học phương Tây cận hiện đại nói chung và tư
tưởng về hòa bình trong triết học cổ điển Đức nói riêng.
Trong cuốn “Lịch sử triết học”, tập II, (1992), [118], với mục đích chính
là trình bày tư tưởng triết học thời cận đại, các tác giả đã phân tích làm sáng
tỏ những điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của
9
thời đại. Theo đó, khi nhân loại chuẩn bị bước sang thế kỷ XIX, một loạt
nước tây Âu theo con đường tư bản chủ nghĩa đã đạt đến trình độ phát triển
kinh tế tương đối cao. Và sự kiện quan trọng nhất trong đời sống xã hội có
ảnh hưởng lớn và làm thay đổi bộ mặt các nước tây Âu là cuộc cách mạng
công nghiệp ở Anh bắt đầu từ năm 1760. Với sức ảnh hưởng của cuộc cách
mạng công nghiệp, đã biến nước Anh từ một nước có nền công nghiệp nhỏ bé
thành một nước tư bản chủ nghĩa lớn mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn về kinh tế
và chính trị đến các nước trên thế giới [Xem: 118, tr. 140]. Đồng thời, để làm
rõ tính đặc thù trong sự hình thành tư tưởng lý luận của các nhà triết học cổ
điển Đức, tác giả còn chỉ rõ, tuy nằm trong khuôn khổ lịch sử cận hiện đại ở
tây Âu, song tư tưởng triết học Đức nói chung và tư tưởng về hòa bình nói
riêng có những sắc thái nội dung khác biệt được quy định bởi điều kiện lịch
sử đặc thù của nước Đức. Có thể nói, trong khi nước Anh và Pháp đang tiến
Platon đã chỉ ra con đường đem lại hạnh phúc cho tất cả mọi công dân của
nhà nước - thành bang dưới hình thức tổ chức cộng hòa là ở chỗ “cần phải tạo
lập hòa bình, cần phải loại bỏ xung đột xã hội, thực hiện chính sách nhân đạo”
[134, tr. 120]. Tác giả J. Annas lại nhấn mạnh tư tưởng của Platon về mối liên
hệ mật thiết giữa hòa bình với khế ước xã hội. Theo ông, Platon đã coi nhân
tố chủ quan của con người là điều kiện tiên quyết để nhà nước, xã hội thực
hiện những luật pháp trong các lĩnh vực tôn giáo, đạo đức, luân lý, v.v Đây
chính là biểu hiện tính năng động, tính chủ thể xã hội của con người như cái
hạn chế, ngăn chặn sự lộng hành của bản năng, dục vọng, thói vị kỷ của con
người tự nhiên và qua đó loại bỏ sự bất công và xung đột, chiến tranh không
tránh khỏi trong xã hội [Xem: 121, tr. 88-95]. Theo R.F. Stalley, Platon luôn
đề cao hòa bình hơn chiến tranh, ông ưu tiên các giải pháp chính trị hơn các
giải pháp quân sự, đề nghị sử dụng hòa giải chứ không phải vũ lực để giải
quyết xung đột xuất hiện giữa các nhà nước [Xem: 133, tr. 210-212].
11
Trong phần dẫn nhập “Kinh thánh Cựu ước & Tân ước - Lời Chúa cho
mọi người” (2007), [30], Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nêu bật tinh thần
nhân văn nhân ái, tình yêu thương đối với con người, tinh thần hướng thiện
như là chuẩn mực để đạt được nền hòa bình Kitô giáo, hòa bình chính là sự
“bình an”, cái mà nhân loại luôn hướng tới [Xem: 06, tr. 100-101]. Tinh thần
đó của Kitô giáo tiếp tục được đề trong cuốn “Tóm lược Học thuyết Xã hội
của Giáo hội Công giáo” (2007), [29], do Hội đồng Giám mục Việt Nam, ủy
ban Bác ái xã hội biên soạn, bên cạnh việc trình bày hệ thống học thuyết xã
hội của Giáo hội Công giáo, cuốn sách còn dành cả một chương (chương 11,
trang 337-356) để trình bày tư tưởng về hòa bình Kitô giáo. Nó nói nên tinh
thần nhân văn Kitô giáo đối với nền hòa bình thế giới cũng như trách nhiệm
của mỗi con người đối với mọi thời đại. Theo đó, “hòa bình không phải chỉ là
không có chiến tranh, cũng không phải hạ thấp xuống tới mức chỉ là giữ cho
trong triết học tây Âu thời cận hiện đại.
1.2. Các công trình nghiên cứu về nội dung tƣ tƣởng hòa bình trong
triết học phƣơng Tây cận hiện đại
Tư tưởng hòa bình trong triết học tây Âu thời cận hiện đại là chủ đề
nghiên cứu của công trình “Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân
đội” do Đ.A. Vôncôgônốp viết (1998), [116]. Tác giả đã phân tích nguồn gốc
và bản chất của chiến tranh, các kiểu chiến tranh cơ bản và vai trò của chiến
tranh trong lịch sử. Tác giả còn đặc biệt chú ý trình bày những quan điểm
trước Mác về chiến tranh và hòa bình trong lịch sử [Xem: 116, tr. 129-137].
Qua đó tác giả cũng khẳng định bên cạnh những hạn chế về lập trường tư
tưởng khi đưa ra tư tưởng về hòa bình, thì nó cũng có những giá trị nhất định
cho việc luận chứng sự cần thiết của hòa bình đối với sự tồn vong của nhân
loại. Tác giả cuốn sách khẳng định, những quan điểm trước Mác giải quyết
vấn đề chiến tranh và hòa bình nói chung đều xuất phát từ lập trường trừu
13
tượng, phi lịch sử. Do vậy thực chất và bản chất sâu xa của chiến tranh và hòa
bình không được nhận thức một cách đúng đắn, vai trò của chúng trong lịch
sử bị đánh giá một cách hời hợt, phiến diện [Xem: 116, tr. 136].
Ở một công trình nghiên cứu khác, cuốn “Lịch sử các học thuyết chính
trị trên thế giới” (2001), [93], trên cơ sở cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử
chính trị, các tác giả đã đề cập đến tư tưởng về hòa bình và lên án chiến tranh
của nhiều nhà tư tưởng phương Tây từ thời kỳ cổ đại đến thời cận hiện đại,
trong đó tư tưởng hòa bình được thể hiện trong tư tưởng chính trị của
Montesquieu, J.J. Rousseau, I. Kant. Chẳng hạn như trong học thuyết chính trị
của mình Montesquieu (1689 - 1775) đã “hết sức chú trọng các quy luật tự
nhiên mà theo ý ông đã tồn tại trước khi xã hội ra đời. Đó là bình đẳng, hòa
bình, khát khao kiếm thức ăn,… Ra khỏi tình trạng tự nhiên con người đã bị
mất đi bình đẳng và giữa họ bắt đầu có chiến tranh. Các cuộc chiến tranh đã
con người tới xã hội công dân thông qua lý luận về khế ước xã hội, coi nó như
là sự đảm bảo cho nền hòa bình xã hội. Ở đó, J. Locke đề cao tinh thần khoan
dung giữa nhà nước thế tục và giáo hội như là điều kiện để đảm bảo hòa bình
xã hội [Xem: 79, tr. 556-562].
Bên cạnh các công trình chuyên khảo trên bàn về vấn đề hòa bình, còn có
những bài viết của các tác giả được đăng trên các tạp chí khoa học khác nhau.
Ở bài viết “Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu - Khát vọng của nhân loại”
(2005) [66], tác giả Nguyễn Thị Phương Mai đã đi sâu trình bày một cách đầy
đủ tư tưởng về nền hòa bình vĩnh cửu của I. Kant trong tác phẩm “Hướng tới
nền hòa bình vĩnh cửu” của ông được viết năm 1795. Theo I. Kant để có một
nền hòa bình vĩnh cửu, nhân loại cần áp dụng ba điều khoản cuối cùng: “1.
Hiến pháp dân sự của mỗi quốc gia nên hướng tới nền cộng hòa; 2. Luật pháp
quốc tế phải dựa trên liên minh của những quốc gia tự do; 3. Quyền công dân
thế giới bị giới hạn bởi hoàn cảnh của lòng mến khách chung” [66, tr. 53].
15
Qua đó, theo tác giả, trong điều kiện hiện nay, mặc dù còn những điều khó có
thể thực hiện được khi trong xã hội vẫn có không ít thế lực nuôi tham vọng
thống trị xã hội bằng chiến tranh, bằng sức mạnh của vũ khí hủy diệt. Nhưng
một nền hòa bình thực sự chỉ có được khi cả nhân loại đoàn kết trong một liên
minh rộng lớn và đủ sức chống lại chiến tranh.
Trong bài viết “Chủ nghĩa nhân đạo trong đạo đức học của I. Kant: ảo
tưởng hay hiện thực? (qua phân tích ý tưởng của I. Kant về một nền hòa bình
vĩnh cửu)” (2006), [14], tác giả Nguyễn Quang Hưng đã khẳng định ý tưởng
về một nền hòa bình vĩnh cửu không phải là kết quả của sự tưởng tượng vô
căn cứ mà đã được xây dựng trên hai tiền đề là chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn
Tây Âu cân đại với những quan niệm về “quyền tự nhiên của con người” và
chủ nghĩa tư bản với nền sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường, nhu cầu trao
đổi thương mại gắn liền với tinh thần trọng thương. Hòa bình theo quan niệm
định, chiến tranh và hòa bình đều xuất phát từ chính con người, khẳng định sự
cần thiết phải xây dựng hòa bình như là điều kiện cho sự tồn tại của con người
trên trái đất, còn chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh phi nghĩa là phản tiến bộ,
là việc làm dã man đối với loài người. Tuy nhiên, tư tưởng về hòa bình của
các triết gia phương Tây, cũng như các công trình nghiên cứu về nó đều cho
thấy, hòa bình mới chỉ dừng lại ở việc coi hòa bình là sự vắng bóng của chiến
tranh, hòa bình là sự biểu thị quan hệ giữa các nhà nước, các quốc gia. Những
giá trị tích cực trong những nghiên cứu tư tưởng về hòa bình trong triết học
phương Tây cận hiện đại sẽ được chúng tôi kế thừa trong triển khai nghiên
cứu của mình.
1.3. Các công trình nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của tƣ tƣởng hòa
bình trong triết học phƣơng Tây cận hiện đại
Có thể thấy, đối với các công trình trong nước nghiên cứu về chiến tranh
và hòa bình, cũng như những nhận định về giá trị, ý nghĩa của chiến tranh và
17
hòa bình được nghiên cứu từ những phương diện khác nhau rất phong phú.
Nhưng, các công trình nghiên cứu về tư tưởng hòa bình từ phương diện triết
học thì còn khiêm tốn, mới chỉ dừng lại ở những cuốn sách nhỏ, những bài
viết được trình bày trong kỷ yếu hội thảo quốc tế hay được đăng trên các tạp
chí mà thôi.
1.3.1. Các công trình bàn về chiến tranh và hòa bình trên lập trường
của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong sách “Vấn đề chiến tranh và hòa bình và vấn đề chung sống hòa
bình” (1961), [91], tác giả đã đề cập tới giá trị mang tính chất nền tảng của
hòa bình đối với sự tồn tại của nền văn minh nhân loại hiện đại, trong đó
khẳng định, với tiềm năng quân sự hiện có, khả năng tồn tại và phát triển tiếp
theo của loài người đòi hỏi các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau
phải chung sống hòa bình với nhau, loại trừ chiến tranh.
trong quan hệ quốc tế trở thành những nhiệm vụ hàng đầu của thời đại” [49,
tr. 2]. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định hòa bình là sản phẩm của lao động,
là sản phẩm của chủ nghĩa xã hội, hòa bình là bản chất của chế độ ta, là khát
vọng của dân tộc Việt Nam.
Bài viết “Những vấn đề chiến tranh và hòa bình trong thời đại ngày nay”
của tác giả G.V. Srendin (1983), [89], đã phân tích, làm sáng tỏ hai vấn đề.
Một là, giữ gìn và củng cố hòa bình, làm dịu căng thẳng, ngăn chặn chiến
tranh hạt nhân. Hai là, vấn đề đẩy nhanh tiến bộ xã hội và đổi mới cách mạng
đối với thế giới. Trong đó, vấn đề chiến tranh và hòa bình là vấn đề đặc biệt
quan trọng, đe dọa đến sự tồn vong của nhân loại đòi hỏi loài người phải
chung tay chống lại cuộc chạy đua vũ trang và thảm họa hạt nhân cũng như sự
nhất quán đường lối yêu chuộng hòa bình của Đảng Cộng sản Liên Xô.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên khẳng định dù là chính nghĩa
hay phi nghĩa, chiến tranh là sản phẩm của lịch sử, là chức năng của nhà
19
nước. Trong đó, chiến tranh phi nghĩa ngày nay đang đe dọa sự tồn vong của
nhân loại đòi hỏi loài người phải chung tay chống lại các cuộc chay đua vũ
trang, chống lại thảm họa hạt nhân để duy trì và bảo vệ nền hòa bình trên trái
đất. Qua đó khẳng định một giá trị phổ biến đã được chủ nghĩa Mác - Lênin
bàn tới như một chính sách của đường lối đối ngoại của đất nước từ những
thập niên đầu thế kỷ XX, muốn hòa bình phải thực hiện nguyên tắc cùng tồn
tại hòa bình trong các chế độ chính trị khác nhau.
1.3.2. Các công trình bàn về chiến tranh và hòa bình ở thời hiện đại
Cuốn “Bàn về chiến tranh” của tác giả Các Phôn Clau Đơ Vít, Tập 1, 2
và 3 (1981, 1988 và 1989), [10, 11, 12]. Tác giả đã nghiên cứu chiến tranh
trong các mối quan hệ của nó và đi đến kết luận đúng đắn rằng, chiến tranh là
sự tiếp tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, chính trị làm nảy sinh chiến tranh,
còn chiến tranh là chính trị, là sự thay đổi ngòi bút bằng thanh kiếm. Theo tác
vai trò đặc biệt quan trọng của Liên Hợp Quốc.
Trong chương hai “Vấn đề chiến tranh và hòa bình” của cuốn sách
“Những vấn đề toàn cầu ngày nay” (1999), [85] của mình, tác giả Nguyễn
Trần Quế khẳng định vấn đề chiến tranh và hòa bình là một vấn đề then chốt
nhất trong những vấn đề toàn cầu ngày nay, nó “quyết định đến sự tồn tại hay
không tồn tại, sự phát triển hay không phát triển của xã hội loài người” [85, tr.
30]. Trên cơ sở trình bày khái quát những cuộc chiến tranh trong lịch sử loài
người đặc biệt là hai cuộc thế chiến của thế kỷ XX, những loại vũ khí chiến
tranh trong hiện tại và tương lai, cũng như thế giới sau chiến tranh lạnh với
những mâu thuẫn gay gắt và xu thế mới trong quan hệ quốc tế hiện nay, tác
giả đi đến khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong việc gìn giữ hòa bình,
kiểm soát và giảm trừ quân bị, dự báo hai xu hướng chiến tranh và hòa bình
trong tương lai. Đó là xu hướng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghịa vị kỷ, chủ nghĩa
địa phương ngóc đầu dậy ở nội bộ phần nhiều quốc gia và sự tăng cường thế
21
lực hồi giáo kết hợp lại thành một trào lưu ngược khổng lồ tạo ra thách thức
đối với nền hòa bình thế giới. Khả năng chiến tranh lớn sẽ dễ dàng xảy ra khi
thế giới chuyển thành đa cực. Xu hướng thứ hai sau chiến tranh lạnh kết thúc,
đám cháy dần dần sẽ lắng dịu đi và đi vào trật tự. Thế giới sẽ được hòa bình.
Cuối cùng, để thế giới đi vào hòa bình và ổn định theo tác giả cần phải có tư
duy mới về an ninh toàn cầu. Đó là nền an ninh toàn cầu bao gồm 5 lĩnh vực
(quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường - sinh thái); Qúa trình mở cửa
hội nhập của các quốc gia vào nền kinh tế thế giới là một xu hướng toàn cầu
không thể đảo ngược; “Sự tồn tại của trái đất, hòa bình của nhân loại và chủ
nghĩa thống nhất thế giới đang trở thành 3 giá trị phổ quát của nhân loại…
Toàn thể loài người đã tìm thấy kẻ thù chung của mình: nguy cơ chiến tranh
hủy diệt toàn cầu, chủ nghĩa ly khai và khủng bố, nạn ô nhiễm môi trường
sinh thái đang đe dọa sự tồn tại của nhân loại. Ba kẻ thù chung đó đang thách