Trường Đại học Ngoại Thương Hà nội
Bộ môn Khoa học Mác-Lê nin
********
Tiểu luận Triết học
Tên đề tài:
Một số vấn đề về đạo đức
trong triết học Mác - Lênin
và thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay
Hà nội
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
Mục lục:
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài: 2
2. Phương pháp nghiên cứu 2
B. CUỘC CÁCH MẠNG TRONG LĨNH VỰC ĐẠO ĐỨC: 5
1. Đạo đức tôn giáo 6
2. Đạo đức của triết học duy tâm: 7
3. Tư tưởng đạo đức của các nhà duy vật Pháp: 9
C. CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT, NGUỒN GỐC VÀ
QUY LUẬT CỦA ĐẠO ĐỨC NÓI CHUNG VÀ ĐẠO ĐỨC CỘNG SẢN
NÓI RIÊNG 9
D. CÁC PHẠM TRÙ ĐẠO ĐỨC KINH TẾ - XÃ HỘI 14
1. Thiện và ác: 14
2. Lương tâm 15
3. Nghĩa vụ 16
4. Nhân phẩm 17
5. Danh dự 17
6. Lẽ sống ( Lý tưởng ) 18
7. Hạnh phúc 19
ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY 20
A. CƠ CHẾ ĐẠO ĐỨC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
đạo đức xã hội của chúng ta. Hy vọng thông qua cuốn tiểu luận này mọi
người có thể hiểu biết một cách rõ ràng hơn về những lý luận đạo đức
đúng đắn của Mác – Lênin và áp dụng ít nhiều vào thực trạng xã hội hiện
nay để xây dựng nên một chuẩn mực đạo đức mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu sách báo, tìm hiểu những hiện tượng đang tồn tại
trong xã hội dẫn đến tổng hợp, khái quát lại. Từ đó nêu ra một số biện
pháp giải quyết với hy vọng có thể góp phần giải quyết những vấn nạn
đang tồn tại trong đạo đức Việt Nam.
Tiểu luận triết học
2
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VỀ ĐẠO ĐỨC
CỦA MÁC - LÊNIN
A. Ý THỨC XÃ HỘI:
Để hiểu một cách rõ ràng về vấn đề đạo đức, trước tiên ta phải hiểu thế
nào là ý thức xã hội bởi đạo đức chính là một hình thái của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan
điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống, của cộng
đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong
những giai đoạn phát triển nhất định.
Tuỳ theo góc độ xem xét mà chúng ta có thể phân ý thức xã hội thành ý
thức xã hội thông thường và ý thức lý luận, nhưng quan trọng hơn cả là
tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội.
Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, thói quen, tập
quán của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội hình
thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản
ánh đời sống đó.
Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp điều kiện sinh
sống hàng ngày của con người, là sự phản ánh có tính chất tự phát,
có thể nhận thấy huynh hướng lạc hậu của ý thức xã hội có thể được hiểu
rõ trong điều kiện chủ nghĩa xã hội. Nhiều hiện tượng ý thức có nguồn
gốc sâu sa trong xã hội cũ vẫn tồn tại trong xã hội mới như lối sống ăn
bám, lười lao động, tệ tham nhũng, Vì vậy trong sự nghiệp xây dựng
xã hội Đảng ta đã xác định phải thường xuyên tăng cường công tác tư
tưởng, đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của
những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư
ý thức cũ, đồng thời ra sức phát huy những truyền thống tư tưởng tốt
đẹp.
Nắm vững quan điểm của triết học Mác - Lênin về tính kế thừa của ý
thức xã hội có ý nghiã quan trọng đối với công cuộc đổi mới ở nước ta
Tiểu luận triết học
4
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
hiện nay trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng. Đảng ta khẳng định, trong điều
kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan
tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy
truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu
tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá
Việt Nam.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, những hoạt động tư tưởng như triết
học, văn học nghệ thuật, mà tách rời đường lối chính trị đúng đắn của
Đảng sẽ không tránh khỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể
đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
Ý thức xã hội tồn tại trong những hình thái khác nhau. Những hình thái
chủ yếu của ý thức xã hội bao gồm: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền,
ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức nghệ thuật, ý thức tôn giáo. Ở
đây ta chỉ bàn đến vấn đề đạo đức, vì vậy ta sẽ chỉ đi vào phân tích cơ sở
khoa học đạo đức của chủ nghĩa Mác – Lênin và áp dụng vào thực trạng
xã hội Việt Nam bây giờ.
cố nhiên cùng với những nhăn nhó đáng thương”
1
Mác-Engghen đã chỉ ra rằng đạo đức mà tôn giáo tuyên truyền không
dựa vào ý thức về phẩm giá của con người mà dựa vào ý thức về sự yếu
hèn của nó. Đạo đức tôn giáo giết chết ở mỗi người tất cả những gì còn
là nhân tính. Nó sỉ nhục con người bằng cách nêu lên bản chất tội lỗi của
con người, đòi hỏi một tinh thần tận tụỵ không bờ bến đối với chủ nô và
chúa phong kiến. Đạo đức ấy không chống lại những sự tàn ác của giai
cấp bóc lột mà che đậy cho chúng. “ Đạo đức tức là sự bất lực được đưa
ra hành động”, Mác mượn câu nói ấy của Phuariê để phê phán đạo đức
tôn giáo.
∗
Đối lập với đạo đức tôn giáo ấy, Mác nêu lên những nguyên tắc đạo đức
mới, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức khẳng định sự cao quý của
con người trong sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân và nhân
1
C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, tập 4, tiếng Nga, tr.404
Tiểu luận triết học
6
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
dân lao động. Đối với Mác và Ăngghen đạo đức cao đẹp nhất của con
người là phải từ chỗ phê phán tôn giáo đi tới khẳng định người là giá trị
cao nhất đối với người và phải lật đổ tất cả những quan hệ xã hội trong
đó con người bị làm nhục.
2. Đạo đức của triết học duy tâm:
Mác-Ăgghen đã phê phán những học thuyết đạo đức của những nhà triết
học duy tâm, nhất là Căng và Hêghen. Cũng như mọi hệ thống thần học,
triết học duy tâm Đức đã tìm nguồn gốc của đạo đức bên ngoài lịch sử xã
hội, bên ngoài đấu tranh giai cấp.
. Tư tưởng đạo đức học ấy của Căng đã chỉ là
một ảo tưởng trong một xã hội còn có đối kháng giai cấp, nghĩa là trong
xã hội mà quần chúng nhân dân đã thực tế được sử dụng như một
phương tiện của giai cấp bóc lột.
Không nhìn thấy những quan hệ thực tế của xã hội như thế, Căng đã đi
thuyết giáo cho một sự hoàn thiện đạo đức coi như phương tiện duy nhất
để cải thiện hoàn cảnh xã hội. Trong hoàn cảnh của chế độ phản động
của nước Đức lúc bấy giờ học thuyết đạo đức của Căng đã có một tác
dụng rất tiêu cực là nó kêu gọi sự thiện chí đối với giai cấp bóc lột, nó
đòi hỏi niềm tin đối với Thượng Đế. Tư tưởng đạo đức của Căng phù
hợp với sự yếu hèn, sự bất lực và sự vô vị của giai cấp tư sản Đức lúc
bấy giờ.
Mác – Engghen cũng nêu lên thiếu sót cơ bản của đạo đức học Hêghen.
Hêghen quan niệm đạo đức như là một giai đoạn phát triển của ý niệm
tuyệt đối độc lập với thế giới khách quan, đối với những quan hệ xã hội
thực tế. Hay nói một cách khác, những quan hệ xã hội thực tế như gia
đình, xã hội công dân, nhà nước chỉ được coi như sự thể hiện của ý niệm
đạo đức. Mác – Engghen đã phê phán ở Hêghen sự thần bí hoá ấy của
các quan hệ xã hội. Mặt khác, Mác – Engghen cũng nêu lên hạt nhân hợp
lý, nêu lên nội dung hiện thực đã được Hêghen trình bày một cách biện
chứng trong những lập luận tự biện của ông. Công lao Hêghen ở chỗ ông
ta trình bày những phạm trù đạo đức học, đặc biệt là cái thiện và cái ác,
trong những mâu thuẫn nội tại và sự chuyển hoá giữa chúng với nhau.
Hêghen đã nhìn thấy trong qua trình phát triển của lịch sử và trong
những điều kiện cụ thể, cái ác có thể trở thành cái thiện và cái thiện có
thể trở thành cái ác. Mác và Ăngghen đã kiên quyết bác bỏ các tư tưởng
phản động của Hêghen khi ông ta bào chữa cho chế độ thối nát của nhà
nước Phổ và quan niệm của nhà nước ấy như sự thể hiện hoàn thiện nhất
của “ ý niệm đạo đức”
1
Tiểu luận triết học
9
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
Với sự hình thành của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, Mác – Ăngghen đã đặt cơ sở khoa học cho việc tìm hiểu,
nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề của đời sống xã hội, trong đó có
những vấn đề của đạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Như mọi hình thái ý thức xã hội
khác, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội. Đạo đức thay đổi tuỳ theo sự thay
đổi của tồn tại xã hội. Cho nên muốn tìm hiểu một hiện tượng đạo đức
không chỉ dừng lại ở chỗ giải thích nội dung khái niệm của nó mà phải đi
sâu tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp, nghĩa là
tìm hiểu tồn tại xã hội đã đẻ ra hiện tượng đạo đức ấy.
Đạo đức luôn luôn thay đổi theo tồn tại xã hội cho nên Mác, Ăngghen,
Lênin không thừa nhận có thứ đạo đức tồn tại vĩnh viễn. Mác, Ăngghen,
Lênin nhấn mạnh tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại của đạo đức.
Những ý kiến của Mác – Ăngghen, Lênin về tính dân tộc và tính giai cấp
của đạo đức có ý nghĩa rất lớn trong việc xoá bỏ thành kiến dân tộc đối
với những đặc điểm về đời sống đạo đức và những phong tục tập quán
không giống với dân tộc mình. Mỗi dân tộc đều có cách thức riêng biệt
trong tổ chức đời sống, xây dựng những lễ nghi. Những tập quán đạo
đức ấy được xây dựng, phát triển, biến đổi và cải tiến dần dần cho mỗi
ngày một hợp lí hơn, phù hợp với sự tiến bộ của lịch sử và lợi ích của
nhân dân hơn. Trong quan hệ gần gũi giữa dân tộc này và dân tộc khác,
những tập quán đạo đức ấy thường có một sự giao lưu và được bổ sung
thêm bằng những cách thức sinh hoạt của dân tộc bạn. Nhưng trong quan
hệ hằng ngày thường nảy sinh những thành kiến, những sự đánh giá
không đúng đắn về lễ nghi phong tục không giống với dân tộc mình.
Sự khác nhau về tính dân tộc trong đạo đức chỉ là thứ yếu, sự khác nhau
cơ bản chính là khác nhau về giai cấp. Trong xã hội có giai cấp đối
người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới,
cộng sản chủ nghĩa”
1
Trong quá trình phát triển của nó, đạo đức cũng như mọi hình thái kinh
tế xã hội khác, có tính độc lập tương đối. Đạo đức là sản phẩm của quan
hệ kinh tế, của hoàn cảnh đấu tranh giai cấp. Đó là nguyên lý cơ bản của
1
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Sự thật, tập 31, tr 354
Tiểu luận triết học
11
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
đạo đức học Mác – Lênin. Nhưng điều này không có nghĩa rằng những
quan niệm và những nguyên tắc đạo đức có thể rút thẳng ra từ những
quan hệ kinh tế mặc dù so với các hình thái ý thức xã hội khác, tác dụng
của kinh tế đối với đạo đức là thẳng và trực tiếp hơn nhiều. Mối liên hệ
giữa cơ sở kinh tế và đạo đức có thể rất phức tạp và thông qua nhiều mắt
khâu trung gian.
Là sản phẩm của cơ sở kinh tế, đạo đức tác động trở lại cơ sở. Các kiểu
đạo đức đối lập vừa phản ánh đấu tranh giai cấp trong lãnh vực kinh tế
và chính trị, vừa thúc đẩy sự đấu tranh đó. Đạo đức có tác dụng tiến bộ
khi nó góp phần xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và đấu tranh cho sự ra đời
và phát triển của quan hệ sản xuất mới.
Sự phát triển của đạo đức còn chịu sự tác động qua lại giữa nó với các tư
tưởng chính trị, tôn giáo, triết học, nghệ thuật. Đạo đức bao giờ cũng
chịu sự chi phối của tư tưởng chính trị. Giai cấp thống trị nào cũng muốn
sử dụng đạo đức như một phương tiện để nô dịch quần chúng nhân dân.
Đạo đức cũng luôn luôn gắn liền với nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính
bao giờ cũng chứa đựng một nội dung đạo đức lành mạnh, gắn liền với
lợi ích và tình cảm của quần chúng nhân dân.
Đạo đức cũng có tác động qua lại như thế đối với tôn giáo, triết học và
chất của xã hội mới – xã hội lấy hạnh phúc của con người làm mục đích
cho sự phát triển.
Nội dung đạo đức cộng sản còn bao gồm chủ nghĩa yêu nước và chủ
nghĩa quốc tế. Đạo đức cộng sản ở đây đòi hỏi mỗi người phải giác ngộ
ý thức đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, tích cực tham gia và công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc mình, đồng thời góp phần vào cuộc đấu
tranh chung của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; kiên quyết chống mọi biểu hiện của
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa vô sanh nước lớn.
Tiểu luận triết học
13
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
Sự hình thành đạo đức cộng sản trong ý thức hành vi của mọi người là
kết quả của một quá trình đấu tranh xây dựng xã hội mới, một quá trình
giáo dục con người lâu dài, bền bỉ, cả về lý luận cũng như về thực tiễn.
Hơn nữa xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội vừa thoát khai từ
xã hội cũ, trong lòng nó còn mang dấu ấn cả về kinh tế, lẫn tinh thần đạo
đức của xã hội cũ. Do đó để hình thành đạo đức mới còn phải đấu tranh
xoá bỏ dần tàn dư lỗi thời của đạo đức cũ.
Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp
của dân tộc đang trở thành một nguồn sức mạnh tinh thần của sự nghiệp
đổi mới đất nước, có không ít vấn đề đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết.
Đó là cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: Lối sống có lý tưởng, lành mạnh,
trung thực, sống bằng lao động của chính mình, có ý thức bảo vệ thành
quả của lao động, chăm lo lợi ích của cộng đồng; và lối sống thực dụng,
ích kỷ, dối trá, ăn bám, chạy theo đồng tiền bất chính Vì vậy, giáo dục
đạo đức mới cho mọi người, làm lành mạnh đời sống tinh thần xã hội là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay.
D. CÁC PHẠM TRÙ ĐẠO ĐỨC KINH TẾ - XÃ HỘI
Lịch sử triết học có Platon cho lương tâm là “sự mách bảo của thượng
đế”, Kant cho lương tâm là “sự thao thức của tinh thần”. Đến thế kỷ 17 –
18 các triết gia duy vật Pháp phủ nhận nguồn gốc thượng đế của lương
tâm và xác nhận lương tâm là ý thức của con người đối với xã hội.
Tiểu luận triết học
15
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
Lương tâm biểu hiện ở hai trạng thái khẳng định (tích cực) và phủ định
(tiêu cực). Giá trị của khẳng định là sự thanh thản của lương tâm ngược
lại với sự phủ định biểu hiện trạng thái cắn rứt của lương tâm. Sự cắn rứt
lương tâm với thời gian sẽ phai nhạt dần, nhưng sự hổ thẹn thì tồn tại rất
lâu, có khi suốt cuộc đời, nên có ngạn ngữ coi “sự hổ thẹn đáng sợ hơn
cái chết”.
Lương tâm là thể thống nhất giữa tình cảm, lý trí và cái thiện mà hạt
nhân là ý thức về nghĩa vụ. Chức năng đặc trưng của lương tâm là sự tự
kiểm soát, đánh giá về hành vi của mình và sự tự lên án khi có việc gì sai
trái xảy ra.
Lương tâm làm động lực tâm lý thúc đẩy con người làm điều thiện, tránh
điều ác, làm tròn nghĩa vụ của mình. Lương tâm là hạt nhân của nhân
cách, là thành trì bảo vệ tính người. Khi lương tâm bị suy thoái thì con
người trở nên lạnh nhạt, dửng dưng trước mọi đau khổ. Khi đánh mất
lương tâm con người còn độc ác gây đau khổ cho người khác, mà không
hề ân hận, hối tiếc. Họ trở thành kẻ bất lương hay vô lương tâm.
3. Nghĩa vụ
Nghĩa vụ là những bổn phận, nhiệm vụ mà mỗi cá nhân, chủ thể phải
thực hiện đối với xã hội.
Nghĩa vụ bắt nguồn từ nhu cầu mà xã hội đã đề ra cho mọi người trong
những giai đoạn lịch sử nhất định. Chỉ khi nào mỗi người ý thức rõ ràng
các nhu cầu đó và tự giác biến thành nhiệm vụ của chính mình thì chúng
mới trở thành nghĩa vụ cá nhân.
Tiểu luận triết học
17
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
Đối lập với tình cảm danh dự là sự háo danh.
Háo danh là một tính xấu của con người vì người háo danh chỉ thực hiện
hành vi tốt khi nào việc này được mọi người biết tới và khen ngợi. Vì
“hư danh” người này có thể thực hiện mọi thủ đoạn kể cả khi danh dự
của mình bị xâm phạm. Sự háo danh sẽ đưa đến các thói xấu, hẹp hòi,
kèn cưa, đố kị, đấu đã với với người kể cả người đang quan hệ tốt với
mình.
6. Lẽ sống ( Lý tưởng )
Lẽ sống là một trong ba câu hỏi cố hữu của loài người : con người từ
đâu mà có, sống để làm gì và chết đi đâu?
Hạnh phúc luận, cho con người hoạt động để thoả mãn mọi khát vọng
tinh thần và vật chất của bản thân như danh vọng, quyền lực, tiền tài,
và coi đó là lẽ sống của mình.
Nghĩa vụ luận, cho lẽ sống là sự thực hiện nghĩa vụ của mình đối với
người khác, xã hội và siêu nhiên.
Đạo đức học ngày nay không thể coi lẽ sống con người chỉ giới hạn
trong việc thoả mãn những nhu cầu thường tục, “người ta ăn để mà sống
chứ không phải sống để mà ăn” như ngạn ngữ đã nói. Lẽ sống còn gọi là
lý tưởng thì phải cao đẹp, phải có tính xã hội.
Lẽ sống biểu hiện ở sự hoạt động tích cực cống hiến chó xã hội, phục vụ
sự tiến bộ xã hội. Đó là lẽ sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.
Người có lý tưởng tốt đẹp sẽ có khả năng vượt qua mọi khó khăn để
vươn lên trên cuộc sống. Ngược lại sự khủng hoảng lẽ sống sẽ dẫn con
người tới đổ vỡ niềm tin, hoang mang lệch hướng và rồi hoạt động sẽ bị
rối loạn dẫn tới hậu quả khó lường.
Tiểu luận triết học
18
Sau năm 1986, chúng ta phát triển xã hội theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế đạo đức điều chỉnh các hành vi đạo đức
cá nhân trong cơ chế này không phải là cơ chế được hình thành trong
thời bao cấp, cũng không phải là cơ chế xuất hiện trong thị trường tư bản
chủ nghĩa. Nhân tố định hướng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường
này làm xuất hiện một cơ chế đạođức điều chỉnh hành vi rất mới. Trong
cơ chế này, các định chuẩn đạo đức không hoàn toàn phải làm quân bình
và duy trì các lực lượng cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại nó thúc
đẩy lý tưởng đạo đức xã hội chủ nghĩa, làm cho các hành vi đạo đức
ngày càng thoát khỏi những cạnh tranh khốc liệt, bất công trong xã hội.
Như chúng ta đều biết, trong cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa, những
nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái đã bị phá vỡ, chủ nghĩa cá nhân được
đề cao, lối sống thực dụng gia tăng rõ rệt. Cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghiã của chúng ta cổ vũ việc làm giàu chính đáng, cho phép
tăng tính năng động, tích cực sáng tạo cá nhân được phát triển, nhưng nó
xác lập hệ chuẩn đạo đức gắn với chủ nghĩa nhân đạo mà ở đó, con
người không phát triển một chiều. Cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đòi hỏi phải làm xuất hiện một cơ chế đạo đức điều chỉnh
hành vi, kích thích phát triển các phẩm chất ưu tú của cá nhân, bảo đảm
cho các cá nhân lựa chọn các hành vi đạo đức chân chính trong hoàn
cảnh phức tạp của các quan hệ lợi nhuận.
Tiểu luận triết học
20
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới xác lập các
quan hệ đạo đức mà ở đó, cá nhân phải có trách nhiệm với sản phẩm cá
nhân của mình, ngăn chặn mọi sự làm dối, làm ẩu phương hại đến sản
xuất và tiêu dùng. Như vậy định hướng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị
trường của chúng ta có liên quan đến ý thức tự giác, tính năng động xã
hội và trách nhiệm đạo đức không những của hành vi cá nhân, mà còn
ta đã xuất hiện nhiều hiện tượng đạo đức xuống cấp. Các chuẩn mực mới
chưa hình thành, các chuẩn mực cũ vẫn còn tồn tại, nhiều chuẩn mực đã
không phản ánh đúng tình hình thực tế. Có những khoảng trống trong sự
vô chuẩn đã được dư luận quan tâm điều chỉnh, song các tiêu cực đạo
đức không hề suy giảm, mà ngược lại, trong các lĩnh vực tình dục, bạo
lực, tài chính, ngân hàng, quyền lực đều gia tăng các phản đạo đức.
Ở nước ta hiện đang có sự vận hành của cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nó đã tạo
ra trong cơ chế đạo đức điều chỉnh hành vi một nội dung mới mẻ - đó là
yêu cầu con người có đạo đức phải phát triển nội sinh về khoa học, kỹ
thuật. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là thành quả phát triển của lực
lượng sản xuất, đồng thời tác động đáng kể đến các quan hệ xã hội, làm
cho tính tích cực của cá nhân không ngừng nâng cao, các giao tiếp xã hội
mang nhiều nội dung mới. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
mỗi cá nhân không chỉ năng động hơn, nâng cao trình độ học vấn hơn,
mà trách nhiệm đạo đức trước xã hội phải cao hơn. Các định hướng giá
trị mới do công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra đòi hỏi con người phải có
trách nhiệm hơn không chỉ trong lao động sản xuất, mà cả ứng xử đạo
đức với môi trường. Các quy trình công nghệ mới luôn đòi hỏi trách
nhiệm đạo đức cao, đòi hỏi con người phải sản xuất tốt hơn và giữ gìn sự
trong sạch hơn cho môi trường sống của chúng ta. Nội dung mới của cơ
chế phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi
phải có các chuẩn mực đạo đức mới nhằm điều chỉnh tính tích cực đạo
đức của các hành vi cá nhân và đánh giá các hành vi đó. Hiện nay trong
bộ luật đạo đức của chúng ta, hệ chuẩn này xuất hiện rất mờ nhạt. Nó
chưa kích thích được tính tích cực đạo đức của các cá nhân và còn bỏ
một khoảng trống cho các tiêu cực đạo đức xuất hiện. Do đó trong nhiều
vấn đề xã hội và môi trường, còn có những ứng xử thiếu đạo đức hoặc
rơi vào im lặng đáng sợ.
thương mại hoá đã thâm nhập sâu vào những lĩnh vực vốn xưa kia là
mảnh đất nuôi dưỡng những hành vi đạo đức như giáo dục – đào tạo, y
tế, Trong phạm vi của cuốn tiểu luận này tôi chỉ nêu ra và phân tích
Tiểu luận triết học
23
Một số vấn đề về đạo đức trong triết học Mác Lê nin và thực tiễn xã hội Việt nam hiện nay
những hiện tượng điển hình nhất ở một số lĩnh vực trong một xã hội
đang vươn tới một chủ nghĩa cộng sản lý tưởng như chúng ta.
1. Đạo đức trong gia đình:
Gia đình là tế bào của xã hội, là đơn vị xã hội đầu tiên trong đó con
người sinh ra và lớn lên, là môi trường có tác dụng to lớn đến sự hình
thành và phát triển của con người về mọi mặt tinh thần cũng như thể
chất.
Từ trong sinh hoạt gia đình, con người bắt đầu thể nghiệm những quan
hệ xã hội, hình thành nếp sống đạo đức, học được cách cư xử với những
người xung quanh, bồi dưỡng những tình cảm đạo đức cụ thể. Gia đình
có ảnh hưởng sâu sắc đối với nhân cách đạo đức của mỗi người, góp
phần quan trọng vào việc xây dựng thái độ của con người đối với xã hội.
Gia đình truyền thống ở Việt Nam xưa kia vẫn nổi tiếng với những tình
cảm cổ truyền tốt đẹp như “ cha con hoà mục”, “anh em như thể chân
tay”, “thuận vợ thuận chồng”, “lá lành đùm lá rách” Quý trọng những
giá trị đạo đức đẹp đẽ trong quan hệ gia đình là một nét sâu sắc của tâm
hồn và tính cách Việt Nam.
Tuy nhiên dưới tác động của nền kinh tế thị trường, bên cạnh những giá
trị đạo đức mới, nếp sống văn hoá gắn liền với qua trình phát triển kinh
tế thị trường, đã có những giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống văn hoá
gia đình truyền thống bị xâm hại và có nguy cơ mai một.
Trước tiên phải nói đến sự gắn bó giữa các thành viên trở nên lỏng lẻo
hơn. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái vốn được coi là quan hệ tình cảm
và sâu nặng nhất trong xã hội giờ đây dường như không còn đúng nữa.