Phần I: Lời mở đầu
Trong những năm qua, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế
theo cơ chế thị trờng định hớng Xã hội chủ nghĩa và đã đạt đợc những thành tựu to
lớn trên mọi phơng diện. Hòa chung với công cuộc đổi mới, lĩnh vực tài chính - tiền
tệ cũng đã có những cải tổ sâu sắc về tổ chức bộ máy cũng nh về nghiệp vụ để phù
hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trờng. Vì vậy chính sách tiền tệ đã đợc sử
dụng tối đa trong quá trình điều hành và phát triển kinh tế bởi lẽ chính sách tiền tệ
không những là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng của nhà nớc trong
nền kinh tế thị trờng mà nó còn ảnh hởng lớn đến các biến số vĩ mô nh: công ăn việc
làm, tốc độ tăng trởng, lạm phát Do vậy, để đạt đợc các mục tiêu của chính sách
tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản và quyết định.
Việt Nam, kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ; đặc biệt là các công cụ
của nó đang từng bớc hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh
tế. Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử
dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thờng xuyên
phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh
tế trong nớc và quốc tế nh hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là
các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về
chính sách tiền tệ, em quyết định chọn đề tài: Một số vấn đề về việc Sử dụng các
công cụ của chính sách tiền tệ trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
Nội dung, đối tợng, phạm vi nghiên cứu: Đề tài sẽ hệ thống hoá những vấn đề
có tính lý luận về chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng đồng thời qua việc
khảo sát quá trình sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam (từ năm
1989 đến nay) nhằm đánh giá thực trạng sử dụng, điều hành các công cụ đó, trên cơ
sở đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các công cụ
của chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
Phơng pháp nghiên cứu: Lấy phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
làm phơng pháp luận cơ bản kết hợp với quan điểm tiếp cận hệ thống và sử dụng các
phơng pháp thống kê, phơng pháp so sánh, phơng pháp phân tích tổng hợp cùng các
động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc
gia đợc thực hiện có hiệu quả hơn.
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ (3 mục tiêu)
1.2.1 ổn định giá trị đồng tiền: NHTƯ thông qua CSTT có thể tác động
đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nớc mình. Giá trị đồng tiền ổn định đợc
xem xét trên 2 mặt: sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ
trong nớc) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nớc mình so với ngoại tệ). Tuy
vậy, CSTT hớng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0
3
vì nh vậy nền kinh tế không thể phát triển đợc, để có một tỷ lệ lạm phát giảm thích
hợp phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.
1.2.2 Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hởng trực
tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh
và từ đó ảnh hởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghịêp
giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
1.2.3 Tăng trởng kinh tế: Tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi
chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho
nhịp độ tăng trởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan
trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt đ-
ợc khi kết quả hai mục tiêu trên đạt đợc một cách hài hoà.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ
nhau, không tách rời. Nhng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có
thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậyđể đạt đợc các mục tiêu trên
một cách hài hoà thì NHTƯ trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với
các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia
1.3.1 Dự trữ bắt buộc
Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các Ngân hàng phải giữ lại,
do NHTƯ qui định, gửi tại NHTƯ, không hởng lãi, không đợc dùng để đầu t, cho vay
và thông thờng đợc tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của khách hàng
Đặc điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTƯ thực hiện vai trò là ngời
cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán,
và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời có thể tác
động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu t đối với nền kinh tế thông qua việc u đãi tín
dụng vào các lĩnh vực cụ thể. Tuy vậy, hiệu qủa của công cụ này còn phụ thuộc vào
hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm
méo mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trờng.
5
1.3.3 Nghiệp vụ thị trờng mở
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTƯ thực hiện
trên thị trờng mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lợng tiền cung ứng.
Cơ chế tác động: Khi NHTƯ mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số
tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).
Nếu thị trờng mở chỉ gồm NHTƯ và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm
thay đổi lợng tiền dự trữ của các NHTM (R), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ
làm thay đổi ngay lợng tiền mặt trong lu thông (C).
Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trờng nên đây đợc coi là một
công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lợng chứng khoán mua
(bán) tỷ lệ với qui mô lợng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ
đảo ngợc tình thế. Tuy vậy, vì đợc thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn
phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trờng và mặt khác để công cụ này
hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn.
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lợng tiền cung ứng,
trong một nền kinh tế, nếu NHTƯ sử dụng có hiệu quả các công cụ này thì sẽ không
cần đến bất cứ một công cụ nào khác. Tuy vậy trong những điều kiện cụ thể (các
quốc gia đang phát triển; các giai đoạn kinh tế quá nóng) thì để đạt đợc mục tiêu
của mình, NHTƯ có thể sử dụng các công cụ điều tiết trực tiếp sau.
1.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
Khái niệm: là việc NHTƯ quy định tổng mức d nợ của các NHTM không
đợc vợt quá một lợng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực hiện
Chơng II: Thực trạng việc sử dụng
các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay
2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiên chính sách tiền tệ
7
Kể khi đất nớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì quá trình thực hiện
chính sách tiền tệ cũng đợc xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế của nó và
phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:
- Cách xác định lợng tiền cung ứng: Nếu nh trong thời kỳ bao cấp chúng ta
chỉ quan niệm lợng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền mặt và mức cung
là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì ngày nay việc quan niệm về
lợng tiền cung ứng đã thay đổi: bên cạnh lợng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo
tiền của các NHTM, tổ chức tín dụng khác (D). Bên cạnh đó lợng tiền cung ứng hàng
năm phải dựa trên cơ sở: tỉ lệ lạm phát ớc tính, tốc độ tăng trởng kinh tế theo kế
hoạch, vòng quay tiền tệ
- Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Đợc sử dụng một cách
linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không đông
cứng, đóng băng nh thời kì bao cấp (lãi suất cố định nhiều năm )
- Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thống ngân hàng đã đợc phân thành 2
cấp NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nớc trên lĩnh vực
tiền tệ - tín dụng - ngân hàng; trực thuộc chính phủ. Thống đốc NHNN có quyền chủ
động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia.
2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua.
2.2.1 Công cụ lãi suất
ở Việt Nam, lãi suất đợc sử dụng nh công cụ chính của chính sách tiền tệ,
nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trờng, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các Ngân hàng sang cơ chế
tự hạch toán kinh doanh.
Giai đoạn 1988- 1991: Chính sách lãi suất đợc thay đổi cơ bản: Lãi suất tiết
kiệm cao hơn tốc độ trợt giá (lạm phát), nâng lãi suất tiền gửi và tiền vay của các tổ
T8/1994 mức lãi suất đợc điều chỉnh tới 6 lần), NHNN khống chế sàn lãi suất tiền
gửi, trần lãi suất cho vay và có một bộ phận cho vay theo lãi suất thoả thuận.
(T8/1992: Lãi tiết kiệm loại 3 tháng: 2,3%, lãi cho vay 2,5%, lạm phát +0,3%).
Để thực hiện nguyên tắc trên đồng thời tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay
để khuyến khích đầu t phát triển trong nền kinh tế một số biện pháp sau đây đã đợc
sử dụng:
9
- Thay đổi cơ cấu nguồn vốn ngân hàng theo hớng tăng nhanh nguồn vốn
có lãi suất thấp (tăng tiền gửi giao dịch, vốn tín dụng nớc ngoài, vốn ngân sách)
- Thu hẹp chênh lệch lãi suất huy động và cho vay giữa ngoại tệ và bản tệ
theo hớng tăng lãi suất đối với ngoại tệ: Lãi suất cho vay ngoại tệ năm 1993 là 7,5%
lên 8,5% năm 1994 và 9,0% năm 1995 và điều chỉnh hàng tháng lãi suất ngoại tệ
theo biến động lãi mất thị trờng TCQT Singapore.
- Qua việc quốc hội thông qua dự luật bỏ thuế doanh thu NH đã hỗ trợ cho
NHNN tiến thêm một bớc trong việc cải tiến lãi suất vào cuối T12/1995: Lãi suất cho
vay ngắn hạn tối đa giảm từ 2,1% tháng xuống 1,75% tháng; lãi suất cho vay trung -
dài hạn đợc giữ nguyên không quá 1,7% tháng. Mặt khác có quy định để các NHTM
tuân thủ chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động và cho vay là 0,35% tháng.
Ngoài ra, từ T8/94: Chính sách lãi suất TD còn đợc cải cách theo hớng nâng
lãi suất tiền gửi có kì hạn lên gần với lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân c cùng kì hạn
để bảo đảm lợi ích kinh tế chính đáng của họ và khuyến khích họ gỉ tiền vào ngân
hàng. Đồng thời thực hiện lãi suất cho vay trung, dài hạn cao hơn lãi suất cho vay
ngắn hạn: Năm 1994 giữ nguyên mức lãi suất cho vay ngắn hạn; nâng lãi suất cho
vay trung hạn, dài hạn từ 1,2% lên 1,7% tháng.
Quá trình cải cách lãi suất trên đã nâng cao tính chủ động cho các NHTM
trong việc ấn định mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động vốn và nhu cầu tín dụng
thị trờng, tăng sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng và làm giảm chi phí NH có lợi
cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các NHTM thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu t theo
mục tiêu chính sách tín dụng.
Giai đoạn từ 1996 - nay: Đến cuối 1996, NHNN chỉ quy định các mức lãi
- Đa ra mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng bằng VND:
lãi cho vay ngắn hạn từ 1%-1,2% tháng; lãi suất cho vay trung và dài hạn là 1,1-
1,25% tháng; đồng thời xoá bỏ sự chênh lệch về lãi suất giữa 2 khu vực thành thị và
11
nông thôn. Đó là cơ sở tăng lãi suất huy động vốn VND. Hạn chế rút tiền VND tích
trữ USD, tăng vốn cho sản xuất kinh doanh.
- Quy định trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên 8,5% năm nh tr-
ớc đây đồng thời NHNN còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa của các pháp nhân tại
TCTD nhằm hạn chế việc quản lí ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi góp phần tăng cờng
cho việc quản lí ngoại hối.
- Đến cuối năm, trần lãi suất cho vay bằng USD đợc điều chỉnh giảm từ
8,5% xuống 7,5%/năm để phù hợp với cân bằng lãi suất LiBOR, SiBOR hiện hành;
đồng thời góp phần mở rộng cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế.
Nhìn chung việc điều chỉnh lãi suất trong năm 1998 là phù hợp với diễn
biến kinh tế vĩ mô và tỷ giá, nó đã có tác động tích cực đối với việc huy động vốn và
cho vay trong nền kinh tế. Tổng số vốn huy động ở hầu hết các tổ chức tín dụng đều
tăng lên điều đó cho thấy mối tơng quan giữa lạm phát và lãi suất tiền gửi đợc coi là
tơng đối hợp lý. Từ đó, quy mô tín dụng cung ứng cho nền kinh tế tăng lên đặc biệt
tín dụng bằng VND có tốc độ tăng cao hơn. Thị trờng ngoại tệ, tỉ giá VND/USD lại
trở về trạng thái tơng đối ổn định.
Bớc sang năm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trởng chững lại, để phù
hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trờng tiền tệ và thực hiện
giải pháp kích cầu về đầu t của chính phủ, NHNN đã 5 lần điều chỉnh trần lãi suất
cho vay bằng VND theo xu hớng giảm: Từ 1,2%/tháng (ngắn hạn) và (1,25%/tháng -
trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85%/tháng (thành thị); 1%/tháng (nông
thôn); 1,15%/tháng (NHTMCP nông thôn - Quỹ TDND cơ sở); 0,7%/tháng (NH phục
vụ ngời nghèo). Trần lãi suất cho vay bằng USD là 7,5% năm.
Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp với diễn
biến của nền kinh tế, kích thích tăng trởng kinh tế trong bối cảnh nguy cơ giảm phát
đang làm chậm lại tốc độ tăng trởng.
tín nhiệm với khách hàng vay là các pháp nhân và cá nhân Việt Nam, nớc ngoài hoạt
động tại Việt Nam.
13
Tiếp đó NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức
lãi suất cho vay thơng mại với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng để
làm tham khảo và định hớng lãi suất thị trờng. Theo Thống đốc NHNN Việt Nam: Lê
Đức Thúy thì đây là một bớc chuyển biến căn bản của Việt Nam trong việc điều hành
lãi suất, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lới để huy động, cho
vay vốn với mức lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu vốn thị trờng, đồng thời nâng
cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu chuẩn an toàn và khả năng hội
nhập với thị trờng tài chính tiền tệ quốc tế của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Với cơ
chế này, nhà nớc chính thức không can thiệp vào hoạt động điều hành lãi suất bằng
việc ấn hành lãi suất cho vay mà chỉ gián tiếp điều tiết lãi suất sao cho có lợi nhất với
nền kinh tế. Cơ chế này cũng giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng và giúp
các ngân hàng nới lỏng các biện pháp bảo đảm tiền vay (thế chấp) đối với khách
hàng.
Cũng trong ngày 30 - 05 NHNN đã có quyết định công bố lãi suất cơ bản
bằng đồng VN áp dụng từ ngày 1 - 6 - 2002 là 0.6%/tháng hay 7.2%/năm.
Việc sử dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận có những u điểm sau:
- Việc áp dụng lãi suất thỏa thuận có lợi với cả ngân hàng lẫn khách hàng.
Theo các ngân hàng khi áp dụng cơ chế này thì các ngân hàng có thể chủ động hơn
trong vấn đề kinh doanh và khi thỏa thuận đợc mức lãi suất từ đó ngân hàng sẽ mở
rộng diện cho vay, đó là điều kiện để xóa bỏ nạn tín dung đen.
- Việc áp dụng lãi suất thỏa thuận sẽ giúp cho các dòng chảy vốn thông
thoáng hơn. Trớc đây, lãi suất đầu ra của các NHTM bị khống chế bởi lãi suất trần do
NHNN qui định. Cụ thể lãi suất trần đợc tính bằng lãi suất cơ bản 0.6%/tháng cộng
với 0,3% (với loại vay ngắn hạn) và cộng với 0.5% (với loại vay dài hạn). Tại các đô
thị, do các nguồn vốn dồi dào, có các ngân hàng cạnh tranh nên lãi suất cho vay th-
ờng thấp, hiếm khi động đến lãi suất trần. Do vậy, quyết định 546 này của NHNN sẽ
tạo điều kiện giúp các NHTM chủ động hơn trong việc huy động và cho vay với lãi
tăng gấp 2 lần so với dự kiến (8,65%), mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều
(17,6%), tiền tệ đi dần vào ổn định.
ở thời kỳ đầu, công cụ hạn mức TD chỉ áp dụng cho 4 NHTMQD (NH
Ngoại thơng, NH Công thơng, NH Nông nghiệp, NH Đầu t phát triển) nhng sau vài
năm đổi mới, do quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quá nhanh, số lợng các
NHTM ngày càng nhiều nên NHNN quyết định áp dụng hạn mức tín dụng cho hầu
hết các NHTM. Tính đến cuối năm 1997 có 26 NHTM trong nớc phải áp dụng hạn
mức tín dụng còn các NH nớc ngoài và NH liên doanh tuy chiếm thị phần tín dụng
đáng kể (10-15% thị phần tín dụng trong nớc) nhng vẫn cha phải áp dụng hạn mức
tín dụng.
Những năm sau đó, đặc biệt là từ 1995 đến 1997, NHNN vẫn tiếp tục thực
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát từ đó đa ra tỉ lệ hạn mức tín
dụng ở mức vừa phải cho các NHTM. Song kết quả thực tế cho thấy hiện tợng phổ
biến là hầu hết các NHTM đều có xu hớng vợt qúa chỉ tiêu hạn mức tín dụng đợc
giao.
Biểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức tín dụng (1995-1998).
Năm
1995 1996 1997 Quỹ T D /1998
KH
giao
Thực
hiện
KH
giao
Thực
hiện
KH
giao
Thực
hiện
2.2.3 Công cụ dự trữ bắt buộc
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiền đợc sử dụng sớm nhất ở
Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB có thể ở mức từ
10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM.
Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTM Việt
Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã đợc kiềm chế ở mức đáng kể, nên NHNN đã quy
định tỉ lệ DTBB là 10%; đợc áp dụng cho các NHTMQD, NHTM cổ phần, chi nhánh
NH nớc ngoài, NH liên doanh và các Công ty tài chính.
Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10% nhất
là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này, trong năm
1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mức DTBB thống nhất đối
với tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửi khác nhau: tiền gửi, tiền tiết
kiệm không kì hạn: 13%; tiết kiện kì hạn 3,6 tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu:
17
8%); đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng quy chế phạt đối với các tổ chức tài chính
không thực hiện đúng quy chế DTBB.
Năm 1995, NHNN quy định (T10/1995) DTBB chỉ đợc tính đối với loại tiền
gửi có kì hạn từ 12 tháng trở xuống, thống nhất ở mức 10% đợc áp dụng cho tất cả
các NHTM (trừ NHTMCP nông thôn, HTX tín dụng, quỹ TDND tạm thời cha phải
thực hiện). Số lần tính DTBB hàng tháng tăng lên, lại bỏ dần tín phiếu kho bạc trong
cơ cấu tiền gửi DTBB; tiễn gửi DTBB đợc hợp nhất với tiền gửi thanh toán của các
NHTM vào một tài khoản chung là tài khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN. Tiền
gửi dự trữ vợt đợc trả lãi 0,1% tháng (Năm 1996). Điều này đã tạo sự linh hoạt hơn
cho việc điều chỉnh dự trữ của các NHTM tại NHNN, góp phần gián tiếp khống chế
lãi suất thị trờng và khối lợng tín dụng cung ứng để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế
lạm phát.
Đến T12/97, Quy chế DTBB có sự thay đổi để đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng
hơn: Tiền gửi DTBB tại NHNN đợc tính bình quân trong cả kì duy trì, tỷ lệ DTBB
vẫn là 10%, tiền dự trữ vợt đợc hởng lãi suất 0,2% tháng (bằng VND) và 4,86% năm
(đối với USD). Đồng thời NHTM nào thiếu tiền gửi DTBB trong kì duy trì sẽ bị phạt
ngoài hởng chênh lệch lãi suất, khuyến khích các TCTD cho vay trong nớc, ngày
1/10/2000 NHNN đã điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ
hạn dới 12 tháng là 8% kể từ kỳ duy trì DTBB tháng 11/2000. Sau đó nhằm tiếp tục
thực hiện chủ trơng trên, ngày 1/12/2000 NHNN tiếp tục nâng tỷ lệ DTBB lên 12%
áp dụng từ kỳ duy trì DTBB 12/2000.
Nh vậy, công cụ DTBB ngày càng đợc hoàn thiện và trở thành công cụ đắc
lực của NHNN Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ.
2.2.4 Công cụ cho vay tái chiết khấu
ở Việt Nam, cho vay tái chiết khấu đã đợc sử dụng nh là một công cụ của
CSTT ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Tuy vậy, vì cha hội đủ những điều
kiện nên việc áp dụng nó còn giản đơn làm cho hiệu quả của nó còn nhiều hạn chế.
Mặc dù vậy trong những năm gần đây nó đã trở thành công cụ đắc lực góp phần thực
hiện tốt các mục tiêu của CSTT quốc gia.
19
Thời kỳ đầu, cho vay chiết khấu đợc thực hiện qua việc NHNN cho NHTM
vay ngắn hạn căn cứ vào khế ớc tín dụng (có chất lợng) do NHTM đem thế chấp tại
NHNN, lãi suất tái cấp vốn đợc xác định dựa theo lãi suất cho vay (cao nhất) của các
NHTM và đợc điều chỉnh linh hoạt theo mục tiêu CSTT quốc gia ở mỗi thời kỳ.
Năm 1994 với mục tiêu kiềm chế lạm phát, NHNN hạn chế tới mức thấp
nhất mức tái cấp vốn cho các NHTM qua việc nâng lãi suất tái cấp vốn từ 85%
-100% lãi suất cho vay các NHTM, riêng NH nông nghiệp là 95%. Năm 1995 để đẩy
mạnh mục tiêu trên, NHNN đã ngng tái cấp vốn cho các NHTM nhằm đẩy mạnh
công tác thu hồi nợ và giảm cho vay tín dụng của các NHTM. Nhờ đó, đến cuối 1995
d nợ cho vay chiết khấu của NHNN đã giảm xuống 13% so với 1994.
Năm 1996, để giải quyết tình trạng khó khăn trong thanh toán của các
NHTM, NHNN đã thực hiện việc cho vay ngắn hạn đối với các NHTM trong trờng
hợp tạm thời thiếu khả năng thanh toán (qua các phiên thanh toán bù trừ trên từng địa
bàn), nhng áp dụng lãi suất tái chiết khấu ở mức tối đa. Điều này một mặt bảo đảm đ-
ợc sự ổn định của hệ thống ngân hàng, mặt khác hạn chế đợc khả năng cung ứng vợt
qúa về tín dụng của các NHTM đồng thời khuyến khích việc huy động vốn của các
trờng này, đồng thời tạo tín hiệu cho các TCTD tăng lãi suất huy động, ngày
2/11/2000 NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn lên 0,5%/tháng và tăng lãi
suất tái chiết khấu lên 0,45%/tháng.
Nh vậy công cụ cho vay chiết khấu đã dần đợc áp dụng theo đúng bản chất
của nó là tín hiệu cho các NHTM điều chỉnh lãi suất cùng với sự phát triển của thị
trờng ở Việt Nam , trở thành một công cụ đắc lực của chính sách tiền tệ quốc gia
2.2.5 Công cụ nghiệp vụ thị trờng mở
Luật NHNN Việt Nam quy định NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trờng mở
thông qua việc mua, bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHNN các
loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trờng tiền tệ để thực hiện CSTT quốc gia.
21
Trớc khi thị trờng mở chính thức đợc đa vào vận hành ở Việt Nam, NHNN
đã từng bớc tạo lập cơ sở cho nó qua việc tổ chức đấu thầu và phát hành các loại tín
phiếu, đó là:
Tín phiếu kho bạc Nhà nớc (KBNN): từ năm 1996 đến hết năm 1998
NHNN đã phối hợp với KBNN tổ chức đấu thầu tín phiếu và trái phiếu kho bạc. Năm
1996, KBNN đã phát hành gần 100 tỷ đồng tín phiếu qua NHNN, sau đó chủ yếu là
phát hành trái phiếu kho bạc (thời hạn một năm). Tổng mệnh giá trúng thầu năm
1997 là 2917,5 tỷ VND (37 đợt); năm 1998 là 4020,7 tỷ VND (46 đợt), năm 1999 là
3011.6 tỉ VND (46 đợt), năm 2000 là 4441.0 tỉ VND (43 đợt). Các đối tợng trúng
thầu chủ yếu là các NHTM Quốc doanh, các NHTM cổ phần và các Công ty Bảo
hiểm. Song nếu theo quy định của luật NHNN thì các trái phiếu này không thể sử
dụng làm công cho thị trờng mở đợc.
Tín phiếu NHNN: Do NHNN Việt Nam phát hành từ năm 1995, tính đến
thời điểm tháng 7/1999 NHNN đã tổ chức đợc 6 đợt phát hành tín phiếu NHNN. Các
đợt này đều đợc tổ chức vào các thời điểm khi mà tổng phơng tiện thanh toán và lạm
phát có xu hớng gia tăng nhằm rút bớt tiền trong lu thông. Tổng mệnh giá đã phát
hành của cả 6 đợt là 3.400 tỉ VND; phần lớn các tín phiếu này đều có thời hạn 3
tháng.
Cho đến ngày 12/7/2000, NHNN chính thức khai trơng đa nghiệp vụ thị tr-
Chỉ tiêu
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng của
M2(%)
78 34 19,8 27,8 22,3 22,7 25,4 23,9 39,28 38
Tỷ lệ lạm phát
(%)
67,6 17,6 5,2 14,4 12,7 4,5 3,6 9,2 0,9 6
Về sức mua đối ngoại của đồng tiền, cơ chế điều hành tỉ gía từng bớc đợc
điều chỉnh phối hợp cùng với các công cụ của CSTT đã dần phù hợp với thông lệ
23
quốc tế, góp phần đẩy mạnh các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam, thúc
đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Biểu 5: Tốc độ tăng trởng xuất nhập khẩu của Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
- Xuất khẩu (%) 24 12 39 28 38 24 4
23,3
=11.540 tr USD
- Nhập khẩu (%) 9 53 48 24 54 -7 11 _
* Góp phần tăng trởng kinh tế: Việc ổn định giá trị VND đã tạo lòng tin
của nhân dân vào đồng bản tệ, tạo môi trờng đầu t lành mạnh, thu hút đợc nguồn vốn
đáng kể từ trong và ngoài nớc. Đặc biệt việc điều chỉnh các công cụ CSTT: lãi suất, tỉ
lệ dự trữ bắt buộc của NHNN ở các giai đoạn cụ thể đã có vai trò quan trọng ảnh h-
ởng tới việc huy động và phân bổ nguồn vốn có hiệu quả trong nền kinh tế của các
TCTD. Cũng từ đó mà góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế liên tục qua các năm.
Biểu 6:Tình hình tăng trởng kinh tế (GDP) của Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
Nhóm các công cụ trực tiếp: Đợc sử dụng chủ yếu trong việc điều tiết
cung tiền thời gian qua, những công cụ này chỉ phù hợp với quá trình chuyển đổi
kinh tế trong giai đoạn đầu nhng trong tơng lai sẽ không còn phù hợp nữa (rõ nhất là
công cụ hạn mức tín dụng đã bị loại bỏ từ quý II/98).
Lãi suất là công cụ đợc sử dụng thờng xuyên nhất trong điều hành CSTT ở
Việt Nam vừa qua. Tuy nhiên, cũng nh tình trạng ở các nớc đang phát triển khác, ở
Việt Nam lãi suất không nhạy cảm lắm với đầu t. Điều này đợc thể hiện rõ rệt trong
hai năm (1998, 1999) khi trần lãi suất cho vay giảm liên tục nhng đầu t vẫn cha tăng
mạnh, giá cả và sản lợng không những không tăng mà còn tiếp tục giảm (tuy điều
này còn liên quan đến các yếu tố thực của nền kinh tế chứ không hoàn toàn xuất phát
từ yếu tố tiền tệ danh nghĩa).
Việc NHNN luôn tiếp điều chỉnh lãi suất trong một khoảng thời gian ngắn
((từ 1/6/99-4/9/99) đã 3 lần giảm lãi suất cho vay)đã gây khó khăn cho các tổ chức
25