Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt nam - thực trạng và giải pháp hoàn thiện doc - Pdf 87


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Phát triển kinh tế hợp
tác và hợp tác xã trong nông
nghiệp ở thời kì đổi mới 1
LỜI MỞ ĐẦU

2

PHẦN MỘT
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỢP TÁC

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỢP TÁC:
1. Định nghĩa
Là phạm trù hẹp hơn, phản ánh một phạm vi hợp tác trong lĩnh vực kinh tế.
Mô hình kinh tế hợp tác lúc ban đầu xuất hiện một cách sơ khai và tự phát không
chỉ ở nông thôn mà ở cả các thành thị, không chỉ ở trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp mà còn trong nhiều ngành sản xuất dịch vụ khác. Các thành viên khởi
xướng ra các mô hình kinh tế hợp tác này, thông thường là những chủ thể điều
khiển kinh tế tài chính có hạn nên thường bị thiệt thòi, chịu nhiều bất lợi trong sản
xuất kinh doanh trong cạnh tranh. Để có thể khác phục các khó khăn duy trì công
ăn việc làm cho mình, những người cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh tại một khu
vực địa bàn nhất định đã tìm cách liên kết hợp tác với nhau theo từng tổ từng nhóm
nhỏ đó là tiền thân của các tổ chức HTX sau này.
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối
hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng
thành viên với ưu thế sức mạnh tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản
xuất, kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích
của mỗi thành viên.
2. Các loại hình kinh tế hợp tác.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều loại hình kinh tế hợp
tác. Mỗi loại hình phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và
hình thức phân công lao động tương ứng. Do đó, nó có đặc điểm riêng về nguyên
tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức và phát huy tác dụng trong những điều kiện nhất
định. Bởi vậy, việc làm rõ những đặc điểm nói trên của từng loại hình kinh tế hợp
tác để lựa chọn những loại hình phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức


người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau

4
lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi, nghĩa vụ sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao
vào HTX. Phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu
bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh
doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung…
2.2.2.Vai trò của HTX
Ở những nước tư bản, kinh tế HTX chỉ là kinh tế phụ song có vai trò đặc biệt
đối với nông dân. HTX giúp đỡ các chủ trang trại nông dân tồn tại trước những tác
động của kinh tế thị trường và ảnh hưỏng của các tổ chức độc quyền lớn. Do vậy
ngoài mục tiêu kinh tế, HTX còn là loại hình kinh tế mang tính chất xã hội nhân
đạo.
Ở những nước nông nghiệp như nước ta thì HTX nông nghiệp là hình thức
kinh tế tập thể nông dân vì vậy hoạt động của HTX nông nghiệp có tác động to lớn,
tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông nghiệp nông dân. Nhờ có hoạt động
của HTX các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp được cung cấp kịp thời đầy đủ đảm bảo chất lượng, các khâu sản xuất tiếp
theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân được nâng lên.
Thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được
thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều
kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá. Ví dụ dịch vụ làm
đất, dịch vụ tưới nước, dịch vụ bảo vệ thực vật… đòi hỏi sản xuất của hộ nông dân
phải được thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng và chủng loại giống, về thời vụ
gieo trồng và chăm sóc.
HTX là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nước tới hộ nông dân, vì vậy
hoạt động của HTX có vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông dân một
cách có hiệu quả trong một số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham gia hoạt động
dịch vụ cho hộ nông dân hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tượng phải
phục vụ tốt cho nông dân.

nghề, địa giới, hành chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ bao
gồm: Quyền làm việc, hưởng lãi, tiếp nhận thông tin, đào tạo bồi dưỡng, hưởng
phúc lợi của HTX được phép chuyển các quyền lợi, nghĩa vụ của mình cho người

6
khác và xin ra khỏi HTX, được trả lại vốn góp và các quyền lợi khác khi ra khỏi
HTX. Mỗi xã viên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của điều lệ
như: Góp vốn vào HTX và chia sẻ mọi rủi ro của HTX theo mức vốn đóng góp
thực hiện cam kết kinh tế với HTX .
Thứ năm: Quan hệ giũa HTX và xã viên: Được xây dựng chủ yếu trên cơ sở
quan hệ kinh tế. Nó được xác lập từ nhu cầu phát triển sản xuất, tăng thu nhập của
các thành viên HTX. HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh tế của xã viên.
Trong HTX nông nghiệp, xã viên là hộ, trang trại gia đình, hoặc đại diện hộ, đó là
những đơn vị kinh tế tự chủ tham gia vào HTX với trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi
ích theo điều lệ quy định. Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá
vỡ tính độc lập tự chủ của kinh tế hộ trang trại gia đình, nó có tác dụng tạo điều
kiện phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của hộ xã viên. Trên cơ sở đó mà thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế HTX.
Thứ sáu: Điều kiện thành lập, hoạt động và giải thể HTX: khi thành lâp HTX
phải có điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được đại hội
xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt.
Trong trường hợp giải thể tự nguyện theo nghị quyết đại hội xã viên hoặc bịi
buộc phải giải thể theo quyết định của pháp luật. HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ với cơ quan có thẩm quyền.
Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có quyền quyết định cao nhất
đối với mọi hoạt động của HTX. HTX có quyền thiết lập quan hệ hợp tác với các
HTX khác ở trong nước và ngoài nước, tham gia tổ chức liên minh HTX Việt Nam
theo quy định của pháp luật.
Thứ bẩy: HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên có nhu cầu tự nguyện
lập ra, nó không phải là một tổ chức xã hội. HTX hoạt động theo luật pháp quy

vụ, lịch thời vụ sản xuất, cung ứng vật tư, tưới tiêu theo quy trình kĩ thuật thâm
canh, phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ sản phẩm ngoài đồng để tránh hao hụt. Với
những vùng có mức bình quân ruộng đất và mức độ cơ giới hoá cao, nông hộ cần
thêm khâu dịch vụ làm đất, thu hoạch sửa chữa cơ khí, vận chuyển sản phẩm đến
nơi tiêu thụ.
+ HTX đơn mục đích (HTX chuyên ngành) HTX này được hình thành từ nhu
cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá tập trung,
hoặc cùng làm một nghề giống nhau, HTX thức hiện các khâu dịch vụ của kinh tế
hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ, vận
chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế
biến nông sản.
* HTX sản xuất kết hợp dịch vụ: HTX loại này có đặc điểm; nội dung hoạt
động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp mô hình HTX loại này phù hợp trong
các ngành tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, nghề đánh cá, nghề làm muối (trừ ngành
trồng trọt và chăn nuôi.

9
* HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện
Đặc điểm cơ bản của mô hình HTX loại này là:
+ Cơ cấu tổ chức nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế độ hạch toán,
kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc của HTX kiểu mới và tương tự một
“doanh nghiệp” tập thể.
+ Sở hữu tài sản trong HTX gồm 2 phần: sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần.
Xã viên HTX tham gia lao động trong HTX được hưởng theo nguyên tắc phân phối
theo lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tập thể của HTX).
+ HTX hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển
kinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên.
+ HTX loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai
thác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thuỷ sản, nghề làm muối, đánh cá.
Ở các địa phương, mô hình HTX kiểu này thường gặp trên địa bàn thị trấn,

trình sản xuất sẽ gặp khó khăn hoặc không có khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả
kinh tế thấp kém hơn so với hợp tác. Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ
cao hơn, đó là hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công, giá trị
dịch vụ, dẫn đến hình thành HTX. Như vậy, sự ra đời của HTX trong nông nghiệp
là nhu cầu khách quan gắn với quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển cùng với quá trình phân công chuyên
môn hoá làm nảy sinh cơ các chuyên ngành như sản xuất lương thực, hoa, rau ,
quả, cây công nghiệp … Đồng thời cũng xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ chuyên
ngành phục vụ cho nông nghiệp như cung ứng vật tư, vận chuyển, chế biến tiêu
thụ nông sản.
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính
trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình
thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành. Lực lượng sản xuất ngày
càng phát triển thì nhu cầu hợp tác ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng
sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế
hợp tác ở trình độ cao hơn.
III. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA

11
1. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội .
Mỗi vùng có những đặc điểm riêng về trình độ phát triển nền nông nghiệp
hàng hoá, trình độ dân trí, tập quán canh tác, điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu
mật độ dân cư … từ góc độ này cho phép nhận thấy rõ sự khác nhau không chỉ
trong sản xuất nông nghiệp, mức sống vật chất của dân cư, mà còn tạo nên sự khác
nhau về quá trình hình thành, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông
nghiệp nôngthôn. Đồng thời với những tác động nói trên, đặc điểm truyền thống
văn hoá, tâm lý … cũng ảnh hưởng không nhỏ tạo nên những nét đặc trưng về kinh
tế hợp tác ở mỗi vùng.
Về tự nhiên: Các vùng nói trên phần lớn do địa hình hiểm trở, phức tạp lại

khăn, đe doạ chiến tranh có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào thì kinh tế HTX đã giúp nước
ta phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, truyền thống này đã tạo ra sức mạnh
thần kỳ đưa nhân dân ta thoát khỏi nạn đói khủng khiếp từ những năm 1945 đồng
thời tạo ra một hậu phương vững chắc để sẵn sàng phục vụ tiền tuyến bất kể hoàn
cảnh nào. Tuy nhiên việc đưa nông dân vào HTX chỉ thực sự trở thành phong trào
rộng lớn từ năm 1958.
Sau khi Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, thực hiện chỉ thị TW5-1955
việc hình thành tổ đổi công đã trở thành phong trào rộng khắp trong nông thôn.
Năm 1955 đã hình thành 6 HTX tại 6 tỉnh (Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,
Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An). Năm 1958 toàn Miền Bắc đã xây dựng được
gần 245 nghìn tổ đổi công bao gồm cả tổ đổi công thường xuyên và tổ đổi công
theo việc. Thu hút khoảng 66% tổng số nông hộ tham gia cũng trong thời điểm này,
toàn Miền Bắc có 4.832 HTX với 126.082 hộ tham gia chiếm 4,74% tổng số nông
hộ. Đến những năm 1959-1960 phong trào hợp tác hoá trong thời kỳ này được thực
hiện theo tư tưởng “còn chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lối làm ăn cá
thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho khuynh hướng TBCN”. Bởi vậy,
phải đẩy nhanh tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp. Việc đẩy
nhanh tốc độ hợp tác hoá xuất phát từ mục tiêu giải phóng nông dân đưa nông dân
đi nên CNXH. Tuy nhiên do tốc độ hợp tác hoá quá nhanh không chú ý đến những
đặc điểm riêng của từng địa phương nên quá trình này đã bị vi phạm những sai lầm

13
lớn về nguyên tắc tự nguyện quản lý dân chủ cùng có lợi. Dẫn đến một thực trạng
là nhiều hộ nông dân bị bắt buộc vào HTX mặc dù họ không muốn như vậy. Khi ra
nhập HTX họ trở thành những thành viên không nhiệt thành với phong trào thi đua
sản xuất, chống đối thậm chí mưu đồ phá hoại HTX.
Vào những năm 1961-1975 nhiều HTX bậc thấp đã được đưa lên bậc cao
hơn và đã trở thành một phong trào lớn lan rộng cả nước từ việc mở rộng quy mô
HTX theo mô hình tập thể hoá tới việc củng cố HTX về mọi mặt: cải tiến quản lý
HTX, mở rộng lĩnh vực hoạt động - chuyển sang hoạt động kinh doanh đa dạng

các năm: năm 1966 nhập 388,1 ngàn tấn, năm 1975 đã tăng lên là 1.055 ngàn tấn.
Tuy nhiên do điều kiện đất nước có chiến tranh, toàn dân phải dốc sức lực phục vụ
mọi nhu cầu chiến đấu giành chiến thắng, do vậy các khuyết tật của mô hình HTX
chưa bộc lộ gay gắt. Bao trùm trong đời sống ở nông thôn, miền núi là tinh thần
đoàn kết, đùm bọc, chia sẻ khó khăn để dành tất cả cho tiền tuyến. Thời kỳ này
HTX mang ý nghĩa xã hội nổi trội nên những mâu thuẫn bất hợp lý trong cơ cấu tổ
chức, quản lý, phân phối…tạm thời lắng xuống.
Sau ngày giải phóng Miền Nam 1975 thì phong trào HTX đã lan rộng khắp
cả nước. Từ Bắc chí Nam số HTX, tổ đổi công tăng lên nhanh chóng. Thậm chí có
nơi dụng biện pháp hành chính đưa nông dân vào HTX gây bất bình trong nông dân
nhất là ở Nam Bộ. Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nền kinh tế đất nước lâm vào tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trước hết đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế tập
thể trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Trước tình hình đó 03-01-1981 Ban bí thư TW Đảng đã ra chỉ thị 100/TW về
cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong HTX nông nghiệp (gọi tắt là khoán sản phẩm). Cùng với khoán 100 là những
đổi mới bước đầu về chính sách giá cả, nghĩa vụ lương thực, cơ chế phân phối
trong nội bộ HTX nông nghiệp và sự lưu thông trao đổi nông phẩm. Mục đích của
chủ chương mở rộng khoán sản phẩm là bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới ở nông thôn. Không
ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên, tăng tích luỹ của HTX làm tròn
nghĩa vụ và khong ngừng tăng khối lượng nông sản cung ứng cho Nhà nước.
Nguyên tắc của chỉ thị 100 CT/TW: quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả
TLSX, tổ chức tốt việc quản lý và điều hành lao động,quy hoạch và kế hoạch của

15
HTX phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch của huyện, phải nắm được sản phẩm
để bảo đảm phân phối hài hoà ba lợi ích: lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích
xã viên. Phải phát huy quyền lầm chủ của tập thể xẫ viên trong khoấn sản phẩm,
phải khuyến khích hon nữa lợi ích chính đáng của người lao động, làm cho mọi

duy hoạt động kinh tế tự chủ, chưa có kinh nghiệm quản lý…lại chưa được chuẩn
bị chu đáo thông qua các chương trình đào tạo, huấn luyện mà phải làm cán bộ
quản lý hàng trăm lao động, có HTX tới hàng ngàn người bao gồm cả lĩnh vực
nông – công – thương – tín thì thật là quá sức. Khuyết điểm thiếu sót là điều không
thể tránh khỏi. Thêm vào đó tư tưởng chủ quan duy ý trí, nóng vội muốn tiến thẳng
lên CNXH được áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua phong
trào hợp tác hoá càng bộc lộ những sai lầm, hạn chế ở mức độ nghiêm trọng hơn về
sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, về sự không phù hợp với những đặc điểm riêng của từng vùng,
từng ngành, trình độ quản lý…
- Chỉ thị 100 của Ban bí thư đã có tác dụng tạo nền móng cho quá trình đổi
mới mô hịnh HTX kiểu cũ, đồng thời đã chặn đứng tình trạng sa sút của sản xuất
nông nghiệp thời kỳ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên động lực của
khoá 100 đã nhanh chóng bị triệt tiêu và bộc lộ những hạn chế của nó. Hiện tượng
này do các nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Kinh tế nông hộ không được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, các tư
liệu sản xuất chủ yếu vẫn bị tập thể hoá do HTX thống nhất quản lý. Do vậy chưa
phát huy tính tự chủ của nông dân trong sản xuất.
+ Phương thức khoán ngày càng nẩy sinh nhiều bất hợp lý như: HTX giao
khoán ngắn hạn, manh mún. Trong 8 khâu của quá trình sản xuất thì 5 khâu do
HTX đảm nhận, hộ nhận khoán 3 khâu (Gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch). Dần dần
HTX khoán trắng cả cho xã viên, nhưng định mức bù tương ứng xã viên không
được nhận đầy đủ. Các khâu dịch vụ cho xã viên không được đáp ứng.
- Hoạt động quản lý của HTX ngày càng yếu kém, bất hợp lý, tệ nạn tham
mô, mất dân chủ và những nhược điểm trong phân phối không được khắc phục. Do
vậy lợi ích của người lao động bị vi phạm nghiêm trọng. Kết quả là lòng tin, sự gắn
bó của xã viên với HTX giảm sút.

17
- Những khó khăn vô cùng to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trích đoạn NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HTX NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status