Các công cụ của CSTT ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 24

Đề án chuyên ngành GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Duyên
LỜI MỞ ĐẦU
  
Ngày nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong tiến
trình toàn cầu hóa nền kinh tế. Có thể thấy việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO) chính là cơ hội để Việt Nam tiến sâu vào hội nhập và phát
triển bình đẳng với các quốc gia trên thế giới. Song nhìn về đặc điểm, trình
độ, các mối quan hệ kinh tế hiện hữu và năng lực điều hành kinh tế vi mô, vĩ
mô, thì chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức không phải là nhỏ.
Gắn với công cụộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải giải
quyết cùng một lúc: vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở
rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Vì vậy cần
phải có những bước đi thận trọng với những chính sách linh hoạt để tránh
những “cơn sốc” hay “khủng hoảng” đối với kinh tế Việt Nam trên con đường
hội nhập.
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực
kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng
lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm
phát… Để đạt được các mục tiêu của CSTT thì việc sử dụng các công cụ của
nó có vai trò cơ bản, quyết định. Từ khi đổi mới đến nay, các công cụ của
CSTT dang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với
nền kinh tế. Việc lựa chọn các công cụ sao cho phù hợp và việc sử dụng
chúng sao cho hiệu quả nhất trong từng giai đoạn kinh tế luôn là một vấn đề
mà Nhà nước quan tâm theo dõi và đưa ra các quyết định cụ thể. Đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay, thì việc nghiên cứu các công cụ của CSTT là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “Các
công cụ của CSTT ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” để tìm
hiểu và nghiên cứu.
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài gồm 03 chương với bố cục như
sau:
Chương 1: Tổng quan về CSTT trong nền kinh tế thị trường.

phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Tùy theo điều kiện mỗi nước, CSTT có thể được xác lập theo hai
hướng: CSTT mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất
kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – CSTT chống thất nghiệp)
hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản
xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – CSTT ổn
định giá trị đồng tiền).
2. Vị trí
Vị trí CSTT: Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
thì CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực
tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các
chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập,
chính sách kinh tế đối ngoại.
Đối với NHTƯ việc hoạch định và thực thi CSTT là hoạt động cơ bản
nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho CSTT quốc gia được thực hiện
có hiệu quả hơn.
3. Đặc trưng của CSTT
CSTT là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính quốc
gia.

 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Liên - 3 - Lớp NHA-K3O
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Duyên
Mức độ tiền tệ hóa cao hay thấp còn thể hiện trình độ phát triển kinh tế
một nước. Vì vậy, tiền tệ đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong một nền
kinh tế. CSTT là một bộ phận trung tâm của các chính sách kinh tế - tài chính
quốc gia.
CSTT là công cụ thuộc tầm vĩ mô.
Khối lượng tiền tệ là đối tượng mà một số NHTƯ xem là yếu tố cần
tác động chính, từ đó tác động đến lãi suất, đầu tư, ảnh hưởng đến sản xuất và
lưu thông hàng hóa. Vì vậy, CSTT là một chính sách thuộc tầm vĩ mô.

CSTT phải quan tâm đến khả năng tạo công ăn việc làm, giảm thất
nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này CSTT hướng vào việc khuyến khích đầu
tư, gia tăng sản xuất, làm tăng việc làm. Ngược lại khi nền kinh tế được mở
rộng sẽ có tác dụng chống suy thoái, đạt được những tăng trưởng ổn định.
Như vậy, CSTT mở rộng hay thu hẹp đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử
dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh
hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm
thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
Sự phối hợp ba mục tiêu: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công
ăn việc làm là rất quan trọng. Vì giữ các mục tiêu có sự mâu thuẫn với nhau,
nên NHTƯ không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng
thời gian nhất định. Do vậy, khi đặt ra các mục tiêu cho CSTT, cần phải có sự
dung hòa. Cụ thể là phải tùy lúc, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ
tự ưu tiên. Muốn vậy NHTƯ phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến của
quá trình thực hiện các mục tiêu, nhằm điều chỉnh chúng khi có sự thay đổi
bằng những giải pháp thích hợp.
III. Các công cụ của CSTT
Để thực thi CSTT, thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTƯ đã
sử dụng hàng loạt các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín
dụng, cho vay tái chiết khấu… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hành riêng và
có ưu nhược điểm khác nhau. Do đó, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền
kinh tế để sử dụng nó một cách phù hợp, hiệu quả. Nhìn chung, các công cụ
này tác động đến hai đầu mối chủ yếu là ngân hàng trung gian và thị trường
mở.
1. Lãi suất
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi của lãi suất sẽ
kéo theo sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay
mở rộng khối lượng tín dụng trong nền kinh tế. Do đó, lãi suất là một trong
những công cụ chủ yếu của CSTT. Thực tế cho thấy, tùy theo điều kiện thực


Khi tỷ lệ DTBB tăng hoặc giảm thì hệ số tạo tiền của hệ thống NHTM
giảm hoặc tăng dẫn đến khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặc
tăng. Đây là công cụ mang tính hành chính của NHTƯ. Ưu điểm của nó là có
thể tác động đến tất cả các NHTM như nhau và tác động một cách đầy quyền

 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Liên - 6 - Lớp NHA-K3O
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Duyên
lực. Bên cạnh đó việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu
doanh lợi của các NHTM.
3. Hạn mức tín dụng
Công cụ hạn mức tín dụng là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính
hành chính của NHTƯ. Bằng công cụ hạn mức tín dụng, NHTƯ quy định cho
các NHTM một hạn mức tăng tín dụng tối đa. Như vậy, biện pháp này cho
phép NHTƯ ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế
trong một thời gian nhất định. Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng
kể. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế nhất định như:
- Có thể làm tăng lãi suất, bởi vì cung hạn chế.
- Làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng.
- Gây ra tiêu cực trên thị trường vốn.
- Hạn mức tín dụng cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ vì
các ngân hàng thường chọn doanh nghiệp lớn dể cho vay nhằm giảm chi phí
và bảo đảm an toàn trong giới hạn tín dụng được phép.
4. Tái cấp vốn
Tái cấp vốn là một phương pháp mà qua đó NHTƯ sẽ cung ứng tiền
cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các NHTM trên cơ sở nhận
tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá của các NHTM .
NHTƯ điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết
khấu phù hợp với mục tiêu thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hoặc
tăng lượng tiền trong lưu thông. Nếu chính sách của NHTƯ là muốn bành
trướng khối tiền tệ, NHTƯ khuyến khích các NHTM trong việc đi vay bằng

dẫn đến lãi suất chứng khoán giảm, và đến lượt lãi suất ngân hàng giảm, kích
thích doanh nghiệp đi vay, khối tiền tệ tăng lên.
Với cách vận hành như trên, thì nghiệp vụ thị trường mở có một số ưu
điểm hơn các công cụ khác trong CSTT là: NHTƯ có thể can thiệp chủ động
vào thị trường tiền tệ, từ đó tác động trực tiếp đến khả năng cung ứng tín dụng
của các NHTM. Độ linh hoạt và chính xác cao, có thể sử dụng ở bất kỳ mức
độ nào. Dễ dàng thay đổi tình thế khi có quyết định sai lầm trong việc sử dụng
công cụ này. Việc thực hiện có thể được tiến hành nhanh chóng ngay trong
phiên giao dịch.
Tuy nhiên, công cụ này còn có mặt hạn chế là tính tự nguyện tham gia
của các đối tác chưa cao.
6. Tỷ giá hối đoái

 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Liên - 8 - Lớp NHA-K3O
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Duyên
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa
hai đồng tiền. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ
nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
Sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt
động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa. Do vậy, tỷ giá hối đoái là
một công cụ để NHTƯ thực thi CSTT của mình. Tuy nhiên, khi vận dụng
công cụ này, NHTƯ không đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà là
ổn định tỷ giá ở mức phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của quốc gia
trong từng giai đoạn.
Khi vận hành tỷ giá hối đoái, NHTƯ có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặc
thả nổi tỷ giá theo quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Các
loại tỷ giá như: tỷ giá cố định, tỷ giá thả nổi hoàn toàn, tỷ giá thả nổi có sự
quản lý của Nhà nước.
Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơ

Nhìn chung, năm 2007 thực thi CSTT của NHTƯ là cực kỳ khó khăn
bởi tác động bất lợi của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam quá lớn
trong năm, cùng với những diễn biến phức tạp của giá cả những mặt hàng chủ
yếu và những nhu cầu hội nhập của nền kinh tế. Mặc dù vậy, về cơ bản, điều
hành CSTT đã đạt được sự ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng
kinh tế, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho phát triển kinh tế, song năm 2008,
thực thi CSTT vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thách thức do dòng vốn
đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục gia tăng và những biến động khó lường của thị
trường tài chính quốc tế, cùng với biến động của giá cả thế giới. Điều đó đòi
hỏi NHTƯ tiếp tục thực hiện CSTT chặt chẽ và cần có những giải pháp mang
tính dài hạn để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợi của những
thách thức phải đối mặt.
Năm 2008, Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức
chưa từng có trong hơn 20 năm đổi mới. Một năm mà diễn biến kinh tế hàm
chứa cả hai thái cực nóng và lạnh, sự chuyển đổi giữa hai thái cực này cũng
diễn ra hết sức nhanh chóng.
Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước trong 6
tháng đầu năm 2008, NHTƯ đã có những phản ứng kịp thời, sử dụng đồng bộ
và quyết liệt về điều hành CSTT thắt chặt nhằm kìm chế lạm phát có hiệu quả
và ổn định kinh tế vĩ mô. Các công cụ CSTT được điều hành linh hoạt để hút
tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, điều
hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường. NHTƯ đã tăng cường công tác
thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường ngoại hối và của các tổ chức tín
dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể gây mất an toàn hệ thống
của các tổ chức tín dụng. Đến cuối năm 2008, để chủ động ngăn chặn sự suy

 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Liên - 11 - Lớp NHA-K3O
Đề án chuyên ngành GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Duyên
giảm kinh tế, CSTT thắt chặt được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận
trọng.


 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Liên - 12 - Lớp NHA-K3O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status