Thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Thị trường TPCP là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính. Nó có
chức năng thu hút, di chuyển các nguồn vốn từ nơi có khả năng sinh lợi thấp đến nơi
có khả năng sinh lợi cao hơn và từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn; đáp ứng các yêu
cầu về vốn để phát triển kinh tế và là công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong quá trình
điều hành vĩ mô nền kinh tế.
Trải qua hàng chục năm hình thành và phát triển, thị trường TPCP ở Việt Nam
đã khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng trong việc huy động vốn cho NSNN
và cho đầu tư phát triển; ổn định nền tài chính quốc gia; kiểm soát được lạm phát;
thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường tài chính. Với sự có mặt của TTCK nói
chung và thị trường TPCP nói riêng, đã góp phần khắc phục được những khiếm
khuyết của thị trường tài chính, tạo cơ hội cho việc luân chuyển vốn đầu tư, đáp ứng
yêu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ở Việt Nam, để thực hiện thành công mục tiêu nâng thu nhập quốc dân năm
2010 tăng gấp đôi năm 2000; duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 7%- 8%; phấn
đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại hoá và đẩy nhanh tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi Chính phủ
Việt Nam phải đầu tư một lượng vốn khá lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Theo tính
toán của các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn 2001-2010 tổng nhu cầu vốn đầu tư
của toàn xã hội khoảng 155-165 tỷ USD (trong đó vốn trong nước chiếm khoảng
65%). Trước mắt giai đoạn 2006-2010 nhu cầu vay trong nước thông qua thị trường
TPCP ước tính khoảng 100.190 tỷ đồng. Huy động vốn thông qua thị trường TPCP
thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan, là kênh huy động vốn quan trọng
cho NSNN và cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thị trường
TPCP ở Việt Nam còn bộc lộ không ít nhược điểm, chưa tương xứng với vị trí và
tiềm năng của nền kinh tế; thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp còn bộc lộ những
hạn chế nhất định. Để khai thác có hiệu quả các nguồn vốn thông qua thị trường
TPCP, đáp ứng nhu cầu về vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, đòi hỏi thị
trường TPCP phải ngày càng được củng cố, phát triển và hoàn thiện hơn nữa.
1

- Trên phương diện thực tiễn: Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển và
hoàn thiện thị trường TPCP ở Việt Nam thời gian tới.
2
2
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, danh mục các bảng và đồ
thị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về trái phiếu Chính phủ và thị trường trái phiếu
Chính phủ
Chương 2 : Thực trạng thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam
Chương 3 : Một số giải pháp phát triển và hoàn thiện thị trường trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam.
3
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VÀ
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1. TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1.1. Khái niệm
Trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ của Chính phủ hoặc doanh nghiệp, thể
hiện nghĩa vụ của người phát hành phải trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu một số
tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất định và phải trả lại khoản tiền gốc
khi khoản tiền vay đến hạn. Trái phiếu là loại chứng khoán nợ, tổ chức phát hành với
tư cách là người đi vay, người mua trái phiếu là người cho vay, hay còn gọi là nhà
đầu tư. Đối với người thiếu vốn, trái phiếu là phương tiện vay vốn qua thị trường; đối
với người đầu tư, trái phiếu cũng là một phương tiện đầu tư để thu lời. Trái phiếu
thể hiện sự ràng buộc pháp lý giữa người đi vay và người cho vay; người đi vay có
trách nhiệm phải trả cho chủ nợ một khoản tiền gốc và lãi nhất định; đây là một hình
thức tín dụng có nét đặc thù riêng, nó ra đời muộn hơn các hình thức tín dụng khác
và phát triển mạnh trong nền kinh tế hàng hoá, đặc biệt là ở những quốc gia có thị

trường hợp nếu các cơ quan được Chính phủ cho phép phát hành không có đủ khả
năng thanh toán các khoản nợ thì Chính phủ sẽ đứng ra trả nợ.
Trái phiếu Chính phủ có nhiều loại khác nhau, nếu căn cứ vào kỳ hạn và mục
đích phát hành thì TPCP được chia thành: Tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái
phiếu công trình; trái phiếu đầu tư; trái phiếu ngoại tệ; công trái xây dựng tổ quốc.
+ Tín phiếu kho bạc: Là loại TPCP có kỳ hạn dưới 1 năm, mục đích của việc
phát hành tín phiếu kho bạc là nhằm phát triển thị trường tiền tệ và huy động vốn để
bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN trong năm tài chính. Tín phiếu kho bạc được
phát hành theo phương thức đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước, dưới hình thức chiết
khấu mệnh giá; khối lượng và lãi suất tín phiếu kho bạc được hình thành qua kết quả
đấu thầu. Bộ Tài chính có thể uỷ thác cho Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thương
mại Nhà nước phát hành, thanh toán tín phiếu kho bạc. Toàn bộ khoản vay từ việc
phát hành tín phiếu kho bạc được tập trung vào ngân sách Trung ương để sử dụng
theo quy định; ngân sách Trung ương đảm bảo nguồn thanh toán gốc, lãi tín phiếu
kho bạc và chi phí tổ chức phát hành, thanh toán cho các tổ chức nhận uỷ thác phát
hành. Tín phiếu kho bạc được giao dịch trên thị trường tiền tệ hoặc được chiết khấu
tại Sở giao dịch của Ngân hàng Nhà nước.
5
5
+ Trái phiếu kho bạc: Là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 1 năm trở
lên, do Kho bạc Nhà nước phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt của NSNN
hàng năm đã được Quốc hội phê duyệt. Trái phiếu kho bạc được đảm bảo bằng ngân
sách Nhà nước, vì thế loại trái phiếu này có độ rủi ro không đáng kể. Trái phiếu kho
bạc được bán lẻ qua hệ thống KBNN hoặc đấu thầu qua thị trường giao dịch chứng
khoán, bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành. Lãi suất trái phiếu kho bạc do Bộ
trưởng Bộ Tài chính quyết định trên cơ sở tình hình thực tế của thị trường tài chính
tại thời điểm phát hành. Trường hợp đấu thầu lãi suất thì lãi suất hình thành qua kết
quả đấu thầu.
+ Trái phiếu công trình: Là loại TPCP có kỳ hạn từ 1 năm trở lên do KBNN
phát hành, nhằm huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho các dự

+ Công trái xây dựng tổ quốc: Công trái xây dựng tổ quốc do Chính phủ
phát hành nhằm huy động nguồn vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công
trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời
sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước. Việc mua công trái thực hiện theo
nguyên tắc tự nguyện. Nhà nước đảm bảo giá trị công trái và bảo hộ quyền sở hữu,
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người sở hữu công trái.
- Thứ hai, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh: Là loại chứng khoán nợ do
doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho các công trình theo chỉ định của
Chính phủ, được Chính phủ cam kết trước các nhà đầu tư về việc thanh toán đúng
hạn của tổ chức phát hành. Trường hợp tổ chức phát hành không thực hiện được
nghĩa vụ thanh toán (gốc, lãi) khi đến hạn thì Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trả nợ
thay tổ chức phát hành.
- Thứ ba, trái phiếu chính quyền địa phương: Là một loại chứng khoán nợ, do
chính quyền địa phương phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhận nghĩa
vụ trả nợ của chính quyền địa phương đối với người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu
chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích để huy động vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của từng địa phương.
1.1.2.2. Phân loại theo lợi tức trái phiếu
- Thứ nhất, trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được
xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định theo mệnh giá.
- Thứ hai, trái phiếu có lãi suất thay đổi (thả nổi): Lợi tức của trái phiếu được
trả trong các kỳ có sự khác nhau được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một
lãi suất tham chiếu.
7
7
- Thứ ba, trái phiếu có lãi suất bằng không (zero - coupon Bonds): Là loại trái
phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh
giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.
1.1.2.3. Phân loại theo hình thức trái phiếu
- Thứ nhất, trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua

Giá trị hiện tại của trái phiếu coupon được tính theo công thức sau:
( ) ( )
( ) ( )
n
i
F
n
i
C
i
C
i
C
i
C
Pb
+
+
+
++
+
+
+
+
+
=
11
.....
3
1

nghĩa là giá trái phiếu càng gần với mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn hiện hành càng gần
với lãi suất hoàn vốn. Như vậy, lãi suất hiện hành biến động cùng chiều với lãi suất
hoàn vốn.
Đối với trái phiếu có cuống thanh toán lãi, lãi suất hoàn vốn hiện hành được
xác định như sau:
b
P
C
c
I
=
(1.3)
Trong đó:
9
9
Ic : Là lãi suất hoàn vốn hiện hành
P
b
: Là giá trái phiếu coupon (giá trái phiếu hiện hành)
C : Là tiền lãi coupon hàng năm (tiền lãi trái phiếu hàng năm)
Đối với trái phiếu chiết khấu, lãi suất hoàn vốn được tính như sau
( )
h¹nd¸o khitíi ngµySè
360
F
d
PF
I

=

t+1
: Là giá trái phiếu ở thời điểm t+1
C : Là tiền lãi coupon
Nếu lãi suất thị trường tăng sẽ làm sụt giảm giá trái phiếu, dẫn đến tình trạng
thua lỗ về vốn đối với những trái phiếu mà thời gian đến ngày đáo hạn dài hơn thời
gian lưu giữ trái phiếu. Lãi suất thị trường tăng quá cao có thể dẫn đến tình trạng lỗ
vốn quá lớn, khi mức lỗ về vốn cao hơn mức lãi suất hiện hành ban đầu thì lãi suất kỳ
hạn của trái phiếu trở thành lãi suất âm. Lãi suất thị trường giảm sẽ làm cho giá trái
phiếu tăng lên và sẽ có mức lời về vốn đối với những trái phiếu mà thời gian đến
ngày đáo hạn dài hơn thời gian lưu giữ trái phiếu.
1.1.3.2. Tính rủi ro
Trái phiếu nào cũng có tính rủi ro, mức độ cao hay thấp thì hoàn toàn phụ
thuộc vào tính chất, đặc thù của từng loại trái phiếu. Thường thì nhà đầu tư vào trái
phiếu đều trông chờ vào tiền lãi mà không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý
10
10
của tổ chức phát hành trái phiếu; tuy nhiên, trước lúc đầu tư vào trái phiếu họ cũng
phải so sánh, cân nhắc giữa tiền lời thu được từ lãi trái phiếu với lợi nhuận thu
được từ việc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Khi nền kinh tế có những biến động tiêu
cực như tỷ lệ lạm phát, lãi suất thị trường cao, kinh tế khủng khoảng... thì những yếu
tố này cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến rủi ro trong việc đầu tư vào trái
phiếu. Khi trái phiếu được lưu hành giá của trái phiếu được hình thành trên thị
trường do cung và cầu quyết định. Rủi ro đối với đầu tư vào trái phiếu thể hiện trên
hai khía cạnh đó là: Khi lãi suất thị trường tăng làm cho giá trái phiếu giảm điều này
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi tức đầu tư vào trái phiếu. Trong trường hợp trái phiếu có
tính thanh khoản thấp thì việc chuyển đổi trái phiếu ra tiền mặt sẽ gặp nhiều khó
khăn.
Các loại TP khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau; cụ thể, TPCP có mức độ
rủi ro thấp nhất vì nguồn vốn thanh toán TPCP khi đến hạn được NSNN đảm bảo;
trái phiếu chính quyền địa phương thì được đảm bảo bằng ngân sách của địa phương;

Là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả
tiền vốn lần cuối. Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuối được
gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu. Có nhiều cách phân loại kỳ hạn trái phiếu khác
nhau, trên thực tế người ta thường phân ra các loại kỳ hạn sau: Trái phiếu ngắn hạn
(có kỳ hạn dưới một năm); trái phiếu trung hạn (có kỳ hạn từ 1 đến 5 năm); trái phiếu
dài hạn (có kỳ hạn từ 5 năm trở lên).
1.1.4.3. Lãi suất trái phiếu
Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công
bố được gọi là lãi suất danh nghĩa; lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm
(%) với mệnh giá của trái phiếu và cũng là một căn cứ để xác định lợi tức của trái
phiếu. Lãi suất trái phiếu là một trong những yếu tố cơ bản nhất của trái phiếu, đó là
tiêu điểm quan tâm của nhà đầu tư; do vậy, nó có ảnh hưởng nhiều đến giá của trái
phiếu. Lãi suất trái phiếu phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như thời hạn của trái phiếu;
chỉ số lạm phát và những biến động khác của thị trường.
1.1.4.4. Giá phát hành
Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường, giá phát
hành được xác định theo tỷ lệ (%) của mệnh giá. Tuỳ theo tình hình của thị trường
12
12
và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách hợp lý. Có thể phân ra 3
trường hợp sau:
+ Giá phát hành bằng mệnh giá
+ Giá phát hành thấp hơn mệnh giá
+ Giá phát hành cao hơn mệnh giá
1.2. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.2.1. Khái niệm
Thị trường trái phiếu Chính phủ là một bộ phận của thị trường tài chính, đây
chính là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các tài sản tài chính. Trái
phiếu Chính phủ là một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành, TPCP là một
trong những công cụ nợ của Chính phủ chính vì vậy mà thị trường TPCP được coi

thông qua việc phát hành trái phiếu quốc tế. Chính phủ tham gia vào thị trường trái
phiếu với tư cách là chủ thể phát hành, là người cung cấp hàng hóa cho thị trường tài
chính. Thông qua thị trường này, Chính phủ sẽ thu hút được các luồng vốn nhàn rỗi
trong dân cư; thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường này và cuối cùng Chính
phủ sẽ tập trung được một lượng tiền cần thiết để đầu tư cho các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội.
1.2.2.2. Các tổ chức trung gian
Khác với các thị trường phổ thông; thị trường TPCP muốn hoạt động được
ngoài việc tham gia của chủ thể phát hành và nhà đầu tư ra thì luôn tồn tại chủ thể thứ
ba đó là các tổ chức trung gian. Tổ chức trung gian là người đứng ra kết nối các hoạt
động mua, bán, trao đổi giữa chủ thể phát hành và nhà đầu tư; giữa các nhà đầu tư
với nhau. Các tổ chức trung gian trên thị trường TPCP bao gồm:
- Thứ nhất, tổ chức bảo lãnh, đại lý phát hành
Tổ chức bảo lãnh hoặc đại lý đối với trường hợp phát hành trái phiếu theo
phương thức bảo lãnh phát hành hoặc đại lý phát hành là các công ty Chứng khoán;
Quỹ đầu tư; Công ty tài chính; các tổ chức Ngân hàng. Để thực hiện được việc bảo
lãnh phát hành tức là tổ chức này giúp cho tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục
trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán; phân phối trái phiếu cho
các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn chưa phân
phối hết. Trong khi đó, Tổ chức đại lý phát hành được chính tổ chức phát hành trái
phiếu ủy thác cho thực hiện việc bán trái phiếu cho các nhà đầu tư.
Bảo lãnh phát hành gồm hai khâu cơ bản: Tư vấn tài chính và phân phối
chứng khoán. Các tổ chức bảo lãnh phát hành được hưởng một khoản phí nhất định
14
14
căn cứ trên số tiền thu được từ đợt phát hành. Phí bảo lãnh phát hành được quy định
theo một tỷ lệ nhất định (Ở Việt Nam hiện nay phí bảo lãnh phát hành trái phiếu tối
đa là 0,15%/số tiền trái phiếu nhận bảo lãnh). Việc bảo lãnh phát hành thường được
thực hiện theo một trong các phương thức sau:
Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ

hành và xếp hạng chúng theo năng lực thanh toán tiền lãi và vốn vay theo kỳ hạn đã
cam kết của nhà phát hành trái phiếu. Tại nhiều nước đã hình thành những tổ chức
chuyên môn phân tích và đánh giá hệ số tín nhiệm đối với nhà phát hành. Hai công ty
lâu đời và nổi tiếng trong lĩnh vực này là hai công ty của Mỹ: Công ty Moody và
công ty Standard và Poors ( S & P), các công ty này đưa ra ký hiệu trong việc xếp
hạng trái phiếu theo mức độ rủi ro và cách xếp hạng này được sử dụng phổ biến ở
các nước. Mức độ “ tín nhiệm” của các công ty thường được xếp theo các chữ cái A,
B, a, b…… dưới đây là cách xếp hạng của hai công ty nói trên: AAA thể hiện chất
lượng cao nhất đó là việc chắc chắn hoàn trả được tiền lãi và tiền gốc cho các nhà
đầu tư chứng khoán; với mức AA thì năng lực thanh toán tiền gốc và lãi có phần
kém hơn so với AAA; tiếp theo là các hạng A, BBB, BB,B, CCC, CC,C… và thấp
nhất là D (thể hiện có nguy cơ vỡ nợ). Ngoài ra người ta còn sử dụng thêm các dấu
( +) và (-) để thể hiện mức độ đánh giá chính xác hơn.
Hệ số tín nhiệm sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà đầu tư về tình
trạng của người phát hành để lựa chọn khi đầu tư vào trái phiếu một cách thích hợp.
Hệ số tín nhiệm góp phần làm giảm bớt chi phí sử dụng vốn cho người phát hành,
khi một nhà phát hành có định mức tín nhiệm cao thì việc phát hành trái phiếu sẽ
thuận lợi, dễ dàng, giảm được chi phí huy động vốn và họ có thể phát hành trái phiếu
ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất các loại hình tín dụng khác nhưng vẫn thu hút được
các nhà đầu tư. Định mức tín nhiệm nâng cao trách nhiệm của người phát hành đối
với nhà đầu tư vì việc đánh giá định mức tín nhiệm liên quan đến chữ “Tín” của
người phát hành, điều đó thúc đẩy người phát hành thực hiện tốt hơn cam kết đối với
nhà đầu tư trong việc đảm bảo thanh toán tiền lãi và tiền vốn vay.
- Thứ ba, đại lý phân phối chứng khoán
Để phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư được thuận tiện, tổ chức phát
hành thường thuê một hoặc một nhóm công ty đứng ra làm đại lý phân phối chứng
khoán. Công ty này thường có mạng lưới, chi nhánh rộng, tạo điều kiện để người có
nhu cầu đầu tư dễ dàng có được các thông tin cần thiết trước khi đưa ra các quyết
định đầu tư của mình. Kết thúc đợt phát hành, tổ chức phát hành sẽ thanh toán chi
16

mua TPCP. Còn các nhà đầu tư có tổ chức là các công ty kinh doanh chứng khoán, tổ
chức tài chính,..... họ là những tổ chức có quy mô, chuyên hoạt động kinh doanh
17
17
trong lĩnh vực mua, bán chứng khoán và sử dụng các nguồn vốn kinh doanh của mình
để đầu tư vào TPCP, vì đây là lĩnh vực đầu tư khá an toàn, lãi suất TPCP thường ổn
định, ít có những biến động lớn và người phát hành đảm bảo được khả năng thanh
toán cao và hệ số tín nhiệm của chủ thể phát hành rất cao.
1.2.3. Thị trường sơ cấp
Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra các
hoạt động mua bán tài sản tài chính. Thị trường TPCP là một bộ phận không thể tách
rời thị trường chứng khoán; thông qua thị trường TPCP, Chính phủ và các doanh
nghiệp sẽ thu hút và khơi thông được các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để tập
trung đầu tư cho các mục tiêu dài hạn đã được hoạch định. Theo cơ chế hoạt động,
thị trường TPCP cũng bao gồm có thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường
sơ cấp là thị trường để thực hiện việc phát hành mới các loại TPCP, khác với thị
trường thứ cấp là nơi mua, bán các loại TP đã phát hành trước đó. Như vậy, thị
trường sơ cấp là nơi cung cấp vốn, thông qua hoạt động của thị trường này những
luồng tiền nhàn rỗi trong dân chúng và các tổ chức kinh tế - xã hội có thể được
chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán; thị trường này có
đặc điểm là hoạt động không liên tục và chỉ hoạt động khi có đợt phát hành TPCP
mới. TPCP thường được phát hành theo các phương thức sau:
1.2.3.1. Phương thức bảo lãnh phát hành trái phiếu
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện
các thủ tục trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán, phân phối trái
phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn
lại chưa phân phối hết. Hoạt động bảo lãnh phát hành TP thường do các công ty
chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, các ngân hàng và các định chế tài
chính khác được Bộ tài chính cho phép đứng ra đảm nhiệm. Căn cứ vào kết quả đăng
ký mua trái phiếu của các nhà đầu tư các thành viên tham gia bảo lãnh phát hành gửi

đạo (nếu có). Khối lượng trúng thầu được chọn từ mức lãi suất đặt thầu thấp nhất
đến mức lãi suất chỉ đạo (nếu có). Tại mức lãi suất đặt thầu mà khối lượng đặt thầu
vượt quá khối lượng vốn cần huy động thì khối lượng trúng thầu được phân chia cho
mỗi phiếu đặt thầu theo tỷ lệ thuận giữa khối lượng vốn cần huy động còn lại và khối
lượng đặt thầu của từng phiếu tại mức lãi suất đó.
Nếu đấu thầu theo kiểu của Hà Lan, thì lãi suất trúng thầu cao nhất sẽ là lãi
suất trúng thầu áp dụng chung cho mọi đối tượng trúng thầu. Phương pháp này có ưu
điểm là giá trúng thầu ngang bằng với giá thị trường, song có hạn chế là giá trúng
19
19
thầu có thể thấp vì người trúng thầu chỉ trả tiền ở mức trúng thầu thấp nhất chứ
không phải giá thầu mà họ đã đưa ra.
Nếu đấu thầu theo kiểu Mỹ các thành viên trúng thầu sẽ mua trái phiếu có lãi
suất đúng bằng lãi suất họ đã đặt thầu; như vậy, theo phương thức này thì một đợt
phát hành có nhiều mức giá khác nhau, dẫn đến có các mức lợi tức hoàn vốn khác
nhau. Phương pháp này cho phép xác định được mức giá trung bình cao hơn kiểu
đấu thầu theo phương pháp Hà Lan, song nó có hạn chế là dễ dẫn đến sự phân chia
thị trường.
1.2.3.3. Phương thức đại lý phát hành trái phiếu
Đại lý phát hành trái phiếu là việc Chính phủ (tổ chức phát hành) ủy thác cho
một hoặc một số tổ chức bán trái phiếu. Trường hợp, nếu không bán hết số lượng trái
phiếu mà Chính phủ dự định phát hành thì tổ chức làm đại lý trả lại cho tổ chức phát
hành, không có trách nhiệm phải mua hết số trái phiếu còn lại. Các nhà đại lý phát
hành là các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, Kho bạc
Nhà nước được coi như một đại lý đặc biệt của Chính phủ trong việc phát hành trái
phiếu. Trái phiếu có thể bán với hình thức ngang mệnh giá hoặc không ngang mệnh
giá; nếu thời điểm phát hành và thanh toán của mỗi đợt là đồng nhất thì được phép
niêm yết, giao dịch tại thị trường chứng khoán. Tổ chức đại lý được nhà phát hành
trả cho một khoản phí trên số trái phiếu đã bán. Điểm khác biệt chủ yếu giữa phương
thức đại lý phát hành và bảo lãnh phát hành chính là ở khả năng phân phối trái phiếu

(OTC); việc niêm yết và giao dịch qua Sở GDCK chỉ có ý nghĩa cung cấp thông tin
về giá cả cho công chúng đầu tư và làm cơ sở cho mọi giao dịch kỳ hạn.
1.2.4.2. Thị trường chứng khoán phi tập trung hay thị trường trao tay (Over
The Counter market - OTC)
Là thị trường không có trung tâm giao dịch, việc giao dịch chứng khoán được
các công ty chứng khoán thực hiện qua mạng lưới điện thoại, điện tín. Việc mua, bán
trên thị trường OTC được thực hiện thông qua thương lượng, mặc cả giữa bên mua
và bên bán; đặc điểm của thị trường này là không có sàn giao dịch, do vậy các nhà
mua, bán chứng khoán bị ngăn cách nhau về không gian và trong nhiều trường hợp
họ không liên lạc kịp thời với nhau. Ở đây có hai cách thức định giá chứng khoán:
Đối với những thị trường OTC mà kỹ thuật tự động còn chưa được ứng dụng thì các
chứng khoán được bán buôn với các mức giá khác nhau, ở nhiều địa điểm khác nhau,
mức giá này trên thực tế là mức giá thỏa thuận, thương lượng chứ không phải được
hình thành trên cơ sở đấu giá. Trong khi đó, ở thị trường OTC, nơi mà hệ thống yết
21
21
giá tự động được sử dụng thịnh hành (Anh; Mỹ) thì các nhà mua, bán chứng khoán
được liên kết với nhau trong toàn quốc bằng màn hình điện tử, thông tin giá cả được
thực hiện liên tục tại trụ sở; chính vì vậy, khách hàng luôn có được thông tin về giá
thị trường một cách đầy đủ nhất. Trên thị trường OTC có những công ty chuyên kinh
doanh những loại chứng khoán nhất định gọi là nhà tạo lập thị trường ( Market
Maker ), họ sẵn sàng mua, bán một loại chứng khoán nào đó theo giá mà công ty
niêm yết; thị trường OTC có một điểm linh hoạt hơn thị trường tập trung là nó cho
phép giao dịch các trái phiếu niêm yết và không niêm yết. Việc giao dịch được thực
hiện bởi các công ty chứng khoán. Những chứng khoán giao dịch tại thị trường phải
thỏa mãn một số điều kiện do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quy định. Sự
khác biệt giữa thị trường Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC chính là điều
kiện tham gia thị trường. Để tham gia đầy đủ vào Sở giao dịch chứng khoán đòi hỏi
phải có những điều kiện ngặt nghèo liên quan đến năng lực, vốn,.... trong khi đó để
tiếp cận thị trường OTC dễ dàng hơn nhiều nhờ các điều kiện tham gia thị trường

nhận thấy chức năng của thị trường TPCP trong nền kinh tế thể hiện ở các mặt sau
đây:
- Thứ nhất, thị trường TPCP có chức năng huy động và phân bổ các nguồn
vốn. Bởi vì, TPCP vừa tham gia vào thị trường tiền tệ (tín phiếu kho bạc), vừa tham
gia vào thị trường vốn (trái phiếu kho bạc). Như vậy, thị trường TPCP là một bộ phận
của thị trường tài chính, là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán, trao đổi các loại
TPCP nhằm thoả mãn các nhu cầu về vốn đầu tư của các chủ thể trong xã hội.
- Thứ hai, các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hay các nước đang
phát triển đều có thị trường TPCP để huy động vốn cho đầu tư phát triển, thị trường
TPCP được coi là một công cụ quan trọng của Chính phủ để thực hiện chính sách tài
khoá và chính sách tiền tệ quốc gia. TPCP phát hành có nhiều loại kỳ hạn khác nhau,
mỗi loại TPCP lại có một tác động nhất định đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, cùng với
việc phát hành TPCP của các cơ quan thuộc Chính phủ và các chính quyền địa
phương đã góp phần làm phong phú khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển và
tạo hàng hoá cho thị trường vốn. Phát triển thị trường TPCP chính là một trong
những giải pháp quan trọng để thu hút các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu phát
triển của quốc gia. Điều này đã khẳng định vị trí của TPCP và thị trường TPCP trong
việc phát triển kinh tế; nó không chỉ đơn thuần là công cụ huy động vốn mà còn là
công cụ để điều chỉnh nền kinh tế. Bởi vì thế mà hầu hết các nước đều quan tâm đến
việc phát triển thị trường TPCP.
23
23
1.3.2. Vai trò của thị trường trái phiếu Chính phủ
Thị trường TPCP là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, là một
công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong quá trình điều hành vĩ mô nền kinh tế; có thể
nhận thấy vai trò quan trọng của thị trường TPCP, thể hiện qua các mặt sau:
- Thứ nhất, thị trường TPCP có vai trò khuyến khích tiết kiệm và thu hút các
nguồn vốn đầu tư trong xã hội. Nhà nước sử dụng thị trường TPCP để huy động vốn
cho NSNN và cho đầu tư phát triển. Thông qua phát hành TPCP ra thị trường sẽ tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư có nhiều cơ hội đầu tư; phát

tầng quan trọng của đất nước. Thông qua thị trường TPCP, Chính phủ các nước sẽ
thu hút được các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu phát triển của quốc gia. Trái
phiếu Chính phủ là một trong những công cụ huy động vốn của Chính phủ; trong
trường hợp NSNN không bị thâm hụt, Bộ Tài chính vẫn phát hành tín phiếu kho bạc
với mục đích là để thực hiện chính sách tiền tệ. TPCP trung và dài hạn đáp ứng đủ
các yêu cầu kỹ thuật được niêm yết tại TTGDCK; bên cạnh đó TPKB, trái phiếu
chính quyền địa phương, trái phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành đã góp phần
làm phong phú các công cụ nợ trên thị trường tài chính.
Tóm lại, qua việc phát hành TPCP để huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư
phát triển kinh tế, đã khẳng định vai trò của TPCP và thị trường TPCP trong quá trình
phát triển kinh tế. TPCP và thị trường TPCP không những là các công cụ huy động
vốn, mà còn là công cụ để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Trong xu thế hội nhập và mở
cửa nền kinh tế, huy động các nguồn vốn thông qua phát hành TPCP và phát triển thị
trường TPCP ngày càng được nhiều Chính phủ quan tâm bởi những tác động tích cực
của thị trường TPCP đến quá trình phát triển kinh tế; cùng với quá trình tự do hoá
thị trường vốn trong nước, thì việc phát hành TPCP và phát triển thị trường TPCP sẽ
thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường này.
Ngoài ra, sự luân chuyển các luồng vốn trên thị trường TPCP có ý nghĩa rất quan
trọng đối với thị trường tài chính.
1.4. NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các quan hệ hàng hoá tiền tệ, quan hệ thị
trường tài chính còn kém phát triển, các quan hệ tài chính chủ yếu gắn liền với
NSNN. Vì vậy, nó tạo ra một cơ chế tài chính kém hiệu quả. NHNN vừa đảm nhiệm
chức năng của NHTW trong việc quản lý lưu thông tiền tệ, vừa làm chức năng
25
25

Trích đoạn Công trái xây dựng tổ quốc Đánh giá hoạt động của thị trường sơ cấp TTGDCK TP HỒ CHÍNH MINH GIAI ĐOẠN 2000-2004 NĂMTPCP NIÊM YẾT Những kết quả đạt được Chưa có chính sách hợp lý để thu hút các nguồn vốn nhàn rỗ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status