Thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 32

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Thị trường TPCP là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính. Nó có
chức năng thu hút, di chuyển các nguồn vốn từ nơi có khả năng sinh lợi thấp đến nơi
có khả năng sinh lợi cao hơn và từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn; đáp ứng các yêu
cầu về vốn để phát triển kinh tế và là công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong quá trình
điều hành vĩ mô nền kinh tế.
Trải qua hàng chục năm hình thành và phát triển, thị trường TPCP ở Việt Nam
đã khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng trong việc huy động vốn cho NSNN
và cho đầu tư phát triển; ổn định nền tài chính quốc gia; kiểm soát được lạm phát;
thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường tài chính. Với sự có mặt của TTCK nói
chung và thị trường TPCP nói riêng, đã góp phần khắc phục được những khiếm
khuyết của thị trường tài chính, tạo cơ hội cho việc luân chuyển vốn đầu tư, đáp ứng
yêu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ở Việt Nam, để thực hiện thành công mục tiêu nâng thu nhập quốc dân năm
2010 tăng gấp đôi năm 2000; duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 7%- 8%; phấn
đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại hoá và đẩy nhanh tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi Chính phủ
Việt Nam phải đầu tư một lượng vốn khá lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Theo tính
toán của các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn 2001-2010 tổng nhu cầu vốn đầu tư
của toàn xã hội khoảng 155-165 tỷ USD (trong đó vốn trong nước chiếm khoảng
65%). Trước mắt giai đoạn 2006-2010 nhu cầu vay trong nước thông qua thị trường
TPCP ước tính khoảng 100.190 tỷ đồng. Huy động vốn thông qua thị trường TPCP
thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan, là kênh huy động vốn quan trọng
cho NSNN và cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thị trường
TPCP ở Việt Nam còn bộc lộ không ít nhược điểm, chưa tương xứng với vị trí và
tiềm năng của nền kinh tế; thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp còn bộc lộ những
hạn chế nhất định. Để khai thác có hiệu quả các nguồn vốn thông qua thị trường
TPCP, đáp ứng nhu cầu về vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, đòi hỏi thị
trường TPCP phải ngày càng được củng cố, phát triển và hoàn thiện hơn nữa.

- Trên phương diện lý luận: Hệ thống hoá, tổng quan những lý luận cơ bản về
trái phiếu Chính phủ và thị trường TPCP. Phân tích và đánh giá có căn cứ khoa học
về thực trạng thị trường TPCP ở Việt Nam.
- Trên phương diện thực tiễn: Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển và
hoàn thiện thị trường TPCP ở Việt Nam thời gian tới.
2
2
2
3
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, danh mục các bảng và đồ
thị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về trái phiếu Chính phủ và thị trường trái phiếu
Chính phủ
Chương 2 : Thực trạng thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam
Chương 3 : Một số giải pháp phát triển và hoàn thiện thị trường trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam.
3
3
3
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ VÀ
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1. TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1.1. Khái niệm
Trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ của Chính phủ hoặc doanh nghiệp, thể
hiện nghĩa vụ của người phát hành phải trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu một số
tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất định và phải trả lại khoản tiền gốc
khi khoản tiền vay đến hạn. Trái phiếu là loại chứng khoán nợ, tổ chức phát hành với

bù đắp thiếu hụt NSNN, đầu tư xây dựng các công trình, dự án trọng điểm hoặc để
xây dựng, thực hiện các chương trình mục tiêu của Chính phủ. Nguồn thanh toán
trái TPCP chủ yếu lấy từ NSNN hoặc nguồn vốn thu hồi trực tiếp từ các công trình
được đầu tư từ nguồn vốn phát hành TPCP mang lại. Do vậy, TPCP có tính an toàn
cao, tính rủi ro thấp bởi vì nó được đảm bảo trả nợ bằng nguồn vốn của NSNN.
Đối với các loại trái phiếu do KBNN phát hành, trái phiếu chính quyền địa
phương nguồn vốn thanh toán được đảm bảo bằng vốn NSNN; còn đối với các loại
trái phiếu do các cơ quan khác được Chính phủ cho phép phát hành nguồn vốn thanh
toán được lấy trực tiếp từ nguồn thu của các chương trình, dự án đó mang lại; trong
trường hợp nếu các cơ quan được Chính phủ cho phép phát hành không có đủ khả
năng thanh toán các khoản nợ thì Chính phủ sẽ đứng ra trả nợ.
Trái phiếu Chính phủ có nhiều loại khác nhau, nếu căn cứ vào kỳ hạn và mục
đích phát hành thì TPCP được chia thành: Tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái
phiếu công trình; trái phiếu đầu tư; trái phiếu ngoại tệ; công trái xây dựng tổ quốc.
+ Tín phiếu kho bạc: Là loại TPCP có kỳ hạn dưới 1 năm, mục đích của việc
phát hành tín phiếu kho bạc là nhằm phát triển thị trường tiền tệ và huy động vốn để
bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN trong năm tài chính. Tín phiếu kho bạc được
phát hành theo phương thức đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước, dưới hình thức chiết
khấu mệnh giá; khối lượng và lãi suất tín phiếu kho bạc được hình thành qua kết quả
đấu thầu. Bộ Tài chính có thể uỷ thác cho Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thương
mại Nhà nước phát hành, thanh toán tín phiếu kho bạc. Toàn bộ khoản vay từ việc
phát hành tín phiếu kho bạc được tập trung vào ngân sách Trung ương để sử dụng
theo quy định; ngân sách Trung ương đảm bảo nguồn thanh toán gốc, lãi tín phiếu
kho bạc và chi phí tổ chức phát hành, thanh toán cho các tổ chức nhận uỷ thác phát
hành. Tín phiếu kho bạc được giao dịch trên thị trường tiền tệ hoặc được chiết khấu
tại Sở giao dịch của Ngân hàng Nhà nước.
5
5
5
6

các chi phí liên quan đến việc tổ chức phát hành, thanh toán; NSNN sẽ đảm nhận
6
6
6
7
thanh toán một phần hay toàn bộ lãi trái phiếu hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất cho tổ
chức phát hành theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
+ Trái phiếu ngoại tệ: Là TPCP có kỳ hạn từ một năm trở lên do Bộ Tài
chính (KBNN) phát hành, huy động vốn để đầu tư cho các mục tiêu theo chỉ định của
Thủ tướng Chính phủ. Đồng tiền phát hành là ngoại tệ tự do chuyển đổi và được Bộ
trưởng Bộ Tài chính quyết định cho từng đợt phát hành. Trái phiếu ngoại tệ được bán
lẻ qua hệ thống KBNN hoặc đấu thầu qua NHNN. NSNN đảm bảo thanh toán gốc,
lãi trái phiếu ngoại tệ khi đến hạn.
+ Công trái xây dựng tổ quốc: Công trái xây dựng tổ quốc do Chính phủ
phát hành nhằm huy động nguồn vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công
trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời
sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước. Việc mua công trái thực hiện theo
nguyên tắc tự nguyện. Nhà nước đảm bảo giá trị công trái và bảo hộ quyền sở hữu,
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người sở hữu công trái.
- Thứ hai, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh: Là loại chứng khoán nợ do
doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho các công trình theo chỉ định của
Chính phủ, được Chính phủ cam kết trước các nhà đầu tư về việc thanh toán đúng
hạn của tổ chức phát hành. Trường hợp tổ chức phát hành không thực hiện được
nghĩa vụ thanh toán (gốc, lãi) khi đến hạn thì Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trả nợ
thay tổ chức phát hành.
- Thứ ba, trái phiếu chính quyền địa phương: Là một loại chứng khoán nợ, do
chính quyền địa phương phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhận nghĩa
vụ trả nợ của chính quyền địa phương đối với người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu
chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích để huy động vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của từng địa phương.

trái phiếu hoặc người phát hành công bố, lãi suất danh nghĩa có tính ổn định cao vì tỷ
lệ lãi suất trái phiếu và mệnh giá là cố định trong một kỳ hạn. Lãi suất trái phiếu
mới chỉ phản ảnh được chủ thể phát hành phải trả lãi trái phiếu đó là bao nhiêu; điều
đáng quan tâm ở đây là lãi suất hoàn vốn, lãi suất hoàn vốn hay nói một cách chính
xác hơn là lãi suất hoàn vốn nội bộ (Internal rate of return – IRR) là một lãi suất mà
với mức lãi suất đó sẽ làm cho giá trị hiện tại của các khoản tiền thu được trong
tương lai do đầu tư đưa lại bằng với giá trị hiện tại của khoản vốn đầu tư; lãi suất
hoàn vốn là một thước đo mức sinh lời của trái phiếu cũng như đối với bất kỳ khoản
đầu tư nào. Giá trị hiện tại và lãi suất hoàn vốn của một trái phiếu coupon có quan hệ
nghịch đảo, giá càng cao thì lãi suất hoàn vốn càng thấp và ngược lại. Khi giá trái
phiếu coupon được đặt bằng mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn bằng lãi suất của cuống
8
8
8
9
phiếu. Lãi suất hoàn vốn lớn hơn lãi suất coupon khi giá trái phiếu thấp hơn mệnh
giá.
Giá trị hiện tại của trái phiếu coupon được tính theo công thức sau:
( ) ( )
( ) ( )
n
i
F
n
i
C
i
C
i
C

n
i
F
Pd
+
=
1
(1.2)
Trong đó:
F : Là mệnh giá trái phiếu
n : Là số năm tới ngày đáo hạn
Pd : Là giá của trái phiếu chiết khấu
I : Là tỷ lệ chiết khấu được xác định theo lãi suất thị trường hoặc lãi suất
trù tính của người đầu tư
- Lãi suất hoàn vốn hiện hành: Được hình thành khi mua bán trái phiếu trên
thị trường và nó là số đo gần đúng với lãi suất hoàn vốn; khi giá mua (hoặc bán) trái
phiếu bằng mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn hiện hành chính bằng lãi suất hoàn vốn,
nghĩa là giá trái phiếu càng gần với mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn hiện hành càng gần
với lãi suất hoàn vốn. Như vậy, lãi suất hiện hành biến động cùng chiều với lãi suất
hoàn vốn.
Đối với trái phiếu có cuống thanh toán lãi, lãi suất hoàn vốn hiện hành được
xác định như sau:
9
9
9
10
b
P
C
c

P
t
P
t
PC −
+
+
=
1
Re
(1.5)
Trong đó:
Re : Là lợi tức trái phiếu từ t đến t+1
P
t
: Là giá trái phiếu ở thời điểm t
P
t+1
: Là giá trái phiếu ở thời điểm t+1
C : Là tiền lãi coupon
Nếu lãi suất thị trường tăng sẽ làm sụt giảm giá trái phiếu, dẫn đến tình trạng
thua lỗ về vốn đối với những trái phiếu mà thời gian đến ngày đáo hạn dài hơn thời
gian lưu giữ trái phiếu. Lãi suất thị trường tăng quá cao có thể dẫn đến tình trạng lỗ
vốn quá lớn, khi mức lỗ về vốn cao hơn mức lãi suất hiện hành ban đầu thì lãi suất kỳ
10
10
10
11
hạn của trái phiếu trở thành lãi suất âm. Lãi suất thị trường giảm sẽ làm cho giá trái
phiếu tăng lên và sẽ có mức lời về vốn đối với những trái phiếu mà thời gian đến

11
11
12
khối lượng tiền trong quá trình lưu thông, nó được mua bán trên thị trường vốn; trái
phiếu kho bạc thường có kỳ hạn từ 1 năm trở lên, do vậy tín thanh khoản của TPKB
thấp hơn tín phiếu kho bạc; TPKB đáp ứng đủ điều kiện thì được giao dịch trên thị
trường thứ cấp, trong quá trình này NHTW cũng tham gia với vai trò là chiết khấu
ngắn hạn các công cụ nợ dài hạn, vì thế mà TPKB cũng là một công cụ nợ có tính
thanh khoản khá cao.
Trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu do cơ quan Chính phủ phát
hành có tính thanh khoản thấp hơn tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc. Thông
qua việc nắm bắt được đặc điểm chung của trái phiếu và các đặc điểm riêng của từng
loại trái phiếu, giúp cho các nhà đầu tư trong việc ra quyết định khi tham gia đầu tư
vào thị trường đầy hấp dẫn và rủi ro này.
1.1.4. Các yếu tố cơ bản của trái phiếu
1.1.4.1. Mệnh giá trái phiếu
Mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị
được ghi trên trái phiếu; giá trị này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn
cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả. Mệnh giá cũng thể
hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
1.1.4.2. Kỳ hạn trái phiếu
Là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả
tiền vốn lần cuối. Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuối được
gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu. Có nhiều cách phân loại kỳ hạn trái phiếu khác
nhau, trên thực tế người ta thường phân ra các loại kỳ hạn sau: Trái phiếu ngắn hạn
(có kỳ hạn dưới một năm); trái phiếu trung hạn (có kỳ hạn từ 1 đến 5 năm); trái phiếu
dài hạn (có kỳ hạn từ 5 năm trở lên).
1.1.4.3. Lãi suất trái phiếu
Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công
bố được gọi là lãi suất danh nghĩa; lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm

Vì vậy, ngay cả trong trường hợp NSNN không bị thâm hụt, thì Bộ Tài chính vẫn có
thể phát hành tín phiếu kho bạc với mục đích góp phần thực hiện các chính sách tiền
tệ của Nhà nước.
TPCP có kỳ hạn (trung hạn và dài hạn) nếu đáp ứng đủ các điều kiện kỹ thuật
theo quy định của TTGDCK thì được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Với sự
có mặt của TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa
13
13
13
14
phương đã góp phần làm đa dạng hàng hoá trên thị trường tài chính. Bên cạnh đó là
việc mở rộng và tự do hoá thị trường vốn trong nước là cơ hội tốt để cho các nhà đầu
tư thực hiện các giao dịch trái phiếu trên thị trường. Thông qua các hoạt động giao
dịch này góp phần khai thông các luồng vốn trong nền kinh tế, nâng cao vị trí của thị
trường TPCP trong thị trường tài chính.
1.2.2. Các thành viên tham gia thị trường trái phiếu Chính phủ
1.2.2.1. Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành trái phiếu là một tổ chức đứng ra huy động vốn bằng cách
phát hành trái phiếu cho các nhà đầu tư thông qua việc mua trái phiếu. Đối với
TPCP, Chính phủ và các chính quyền địa phương là chủ thể phát hành trái phiếu
với khối lượng lớn nhất ra thị trường. Điều này là dễ hiểu, vì không phải lúc nào
Chính phủ cũng có đủ nguồn NSNN dự trữ để bù đắp thiếu hụt NSNN và những
khoản chi lớn cho đầu tư phát triển. Hầu hết, Chính phủ các quốc gia trên thế giới
đều sử dụng hình thức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thông qua việc
phát hành TPCP huy động vốn từ trong nước và huy động vốn trên thị trường quốc tế
thông qua việc phát hành trái phiếu quốc tế. Chính phủ tham gia vào thị trường trái
phiếu với tư cách là chủ thể phát hành, là người cung cấp hàng hóa cho thị trường tài
chính. Thông qua thị trường này, Chính phủ sẽ thu hút được các luồng vốn nhàn rỗi
trong dân cư; thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường này và cuối cùng Chính
phủ sẽ tập trung được một lượng tiền cần thiết để đầu tư cho các mục tiêu phát triển

Bảo lãnh theo phương thức cố gắng cao nhất: Là phương thức bảo lãnh mà
theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo
lãnh phát hành không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà chỉ cam kết sẽ cố
gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng phần không phân phối hết sẽ
được trả lại cho tổ chức phát hành.
Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: Là phương thức bảo lãnh
mà theo đó tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát hành nếu không bán
hết số chứng khoán thì hủy bỏ toàn bộ đợt phát hành.
Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: Là phương thức bảo lãnh trung
gian giữa phương thức bảo lãnh cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả
hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh
phải bán tối thiểu một tỷ lệ nhất định chứng khoán phát hành. Nếu lượng chứng
khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy
bỏ.
Hoạt động bảo lãnh phát hành về cơ bản gồm có các hoạt động sau:
15
15
15
16
+ Nghiên cứu và tư vấn cho các tổ chức phát hành chứng khoán cách thức
phát hành, cơ cấu phát hành và định giá chứng khoán.
+ Chuẩn bị và hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết cho đợt phát hành.
+ Thoả thuận, hợp tác với các nhà bảo lãnh phát hành khác và các công ty
chứng khoán, thực hiện công tác tiếp thị, phân phối chào bán chứng khoán.
+ Quản lý, phân phối và thanh toán chứng khoán.
+ Thực hiện các công việc hỗ trợ cho thị trường và các dịch vụ sau khi phát
hành.
- Thứ hai, tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Là tổ chức chuyên về đánh giá mức độ “Tín nhiệm” của các tổ chức phát
hành và xếp hạng chúng theo năng lực thanh toán tiền lãi và vốn vay theo kỳ hạn đã

nhu cầu đầu tư dễ dàng có được các thông tin cần thiết trước khi đưa ra các quyết
định đầu tư của mình. Kết thúc đợt phát hành, tổ chức phát hành sẽ thanh toán chi
phí cho tổ chức đứng ra nhận làm đại lý phân phối trái phiếu dựa trên khối lượng và
giá trị đợt phát hành.
- Thứ tư, tổ chức môi giới chứng khoán
Là tổ chức có chức năng tư vấn, giúp đỡ các nhà đầu tư trong việc ra quyết
định đầu tư và thực hiện các quyết định đầu tư đó. Tổ chức môi giới chứng khoán
cũng có thể đưa ra các lời khuyên về hoạt động nghiệp vụ đối với các công ty chứng
khoán và các tổ chức tài chính.
- Thứ năm, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng
khoán và một số thành viên khác hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, mục đích là
bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán
nói chung. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thường là một tổ chức tự điều
hành.
1.2.2.3. Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán là trung tâm giao dịch có tổ chức để giao dịch các
chứng khoán được niêm yết. Sở giao dịch thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ
máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên thị trường
sở giao dịch. Ngoài ra, Sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các
hoạt động giao dịch chứng khoán ở Sở, phù hợp với các quy định luật pháp về chứng
khoán và giao dịch chứng khoán.
1.2.2.4. Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ
Là tổ chức nhận lưu giữ, bảo quản các chứng khoán của khách hàng và tiến
hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán.
17
17
17
18
1.2.2.5. Chủ thể đầu tư

18
18
18
19
chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, các ngân hàng và các định chế tài
chính khác được Bộ tài chính cho phép đứng ra đảm nhiệm. Căn cứ vào kết quả đăng
ký mua trái phiếu của các nhà đầu tư các thành viên tham gia bảo lãnh phát hành gửi
bản đăng ký bảo lãnh phát hành trái phiếu đến tổ chức phát hành để làm căn cứ xem
xét, lựa chọn cấu trúc bảo lãnh và các tổ chức bảo lãnh phát hành.
Cấu trúc bảo lãnh phát hành được quyết định cho từng đợt phát hành theo một
trong hai hình thức sau: Một hoặc một số tổ chức đồng bảo lãnh phát hành hoặc tổ
hợp bảo lãnh phát hành có một hoặc một số tổ chức đồng bảo lãnh phát hành chính
đứng ra chủ trì đợt phát hành trái phiếu. Các tổ hợp bảo lãnh mua trái phiếu với một
mức giá xác định và bán trái phiếu với mức giá cao hơn để thu lợi nhuận, trong
trường hợp này sẽ không có phí dịch vụ bảo lãnh. Các quốc gia có thị trường chứng
khoán phát triển thường phổ biến các hình thức bảo lãnh sau: Bảo lãnh với cam kết
chắc chắn; bảo lãnh theo phương thức cố gắng cao nhất; bảo lãnh theo phương thức
bán tất cả hoặc không; bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa.
Phương thức bảo lãnh phát hành có ưu thế là huy động được khối lượng vốn
lớn trong khoảng thời gian ngắn; song tính cạnh tranh không cao và các nhà bảo lãnh
dễ nhận biết được chủ trương khi Chính phủ sử dụng công cụ TPCP để điều chỉnh
cung, cầu vốn đầu tư; do đó, để thị trường thứ cấp hoạt động tốt các nhà bảo lãnh cần
có cam kết hỗ trợ sau khi phát hành thông qua việc mua và bán các loại TPCP.
1.2.3.2. Phương thức đấu thầu trái phiếu
Đấu thầu TPCP là việc bán TPCP cho các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu,
đáp ứng đủ các yêu cầu của Chính phủ và có mức lãi suất đặt thầu thấp nhất. Đấu
thầu TPCP thường do Bộ Tài chính trực tiếp tổ chức đấu thầu hoặc uỷ quyền cho
NHNN tổ chức đấu thầu. TPCP đấu thầu được giao dịch trên thị trường chứng
khoán, có hai hình thức đấu thầu: Đấu thầu cạnh tranh lãi suất và kết hợp giữa đấu
thầu cạnh tranh lãi suất với đấu thầu không cạnh tranh lãi suất, nghĩa là người đặt

hành là các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, Kho bạc
Nhà nước được coi như một đại lý đặc biệt của Chính phủ trong việc phát hành trái
phiếu. Trái phiếu có thể bán với hình thức ngang mệnh giá hoặc không ngang mệnh
giá; nếu thời điểm phát hành và thanh toán của mỗi đợt là đồng nhất thì được phép
niêm yết, giao dịch tại thị trường chứng khoán. Tổ chức đại lý được nhà phát hành
trả cho một khoản phí trên số trái phiếu đã bán. Điểm khác biệt chủ yếu giữa phương
thức đại lý phát hành và bảo lãnh phát hành chính là ở khả năng phân phối trái phiếu
ra công chúng. Trên thị trường sơ cấp cần có những nhà kinh doanh trái phiếu (ngân
hàng thương mại, công ty chứng khoán có uy tín) họ đảm nhiệm việc bao tiêu khối
20
20
20
21
lượng trái phiếu phát hành và bán trái phiếu lại cho các nhà đầu tư, đồng thời họ
cũng đóng vai trò là những nhà tạo lập thị trường.
1.2.4. Thị trường thứ cấp
Đây là nơi giao dịch các loại TPCP đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.
Hoạt động của thị trường thứ cấp tạo ra khả năng dễ dàng, thuận tiện chuyển đổi TP
thành tiền. Trên thị trường này diễn ra việc mua bán TPCP giữa các nhà đầu tư, tiền
thu được từ việc bán TP không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán
TP nhường lại quyền sở hữu TP cho các nhà đầu tư khác. Thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp có mối quan hệ tương tác gắn bó chặt chẽ với nhau; nếu không có thị
trường sơ cấp thì không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường thứ cấp. Nhưng
nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp cũng khó có thể phát triển và
hoạt động có hiệu quả. Vì vậy, mặc dù sự hoạt động của thị trường thứ cấp không
làm tăng thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế song sự tồn tại và hoạt động nhịp nhàng
của thị trường thứ cấp làm cho thị trường sơ cấp hoạt động có hiệu quả và phát triển.
Thị trường thứ cấp bao gồm thị trường tập trung và thị trường phi tập trung.
1.2.4.1. Thị trường chứng khoán tập trung (Sở giao dịch chứng khoán)
Thị trường chứng khoán tập trung hay thị trường chứng khoán có tổ chức là

thị trường một cách đầy đủ nhất. Trên thị trường OTC có những công ty chuyên kinh
doanh những loại chứng khoán nhất định gọi là nhà tạo lập thị trường ( Market
Maker ), họ sẵn sàng mua, bán một loại chứng khoán nào đó theo giá mà công ty
niêm yết; thị trường OTC có một điểm linh hoạt hơn thị trường tập trung là nó cho
phép giao dịch các trái phiếu niêm yết và không niêm yết. Việc giao dịch được thực
hiện bởi các công ty chứng khoán. Những chứng khoán giao dịch tại thị trường phải
thỏa mãn một số điều kiện do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quy định. Sự
khác biệt giữa thị trường Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC chính là điều
kiện tham gia thị trường. Để tham gia đầy đủ vào Sở giao dịch chứng khoán đòi hỏi
phải có những điều kiện ngặt nghèo liên quan đến năng lực, vốn,.... trong khi đó để
tiếp cận thị trường OTC dễ dàng hơn nhiều nhờ các điều kiện tham gia thị trường
lỏng hơn. Thị trường OTC hỗ trợ cho Sở giao dịch chứng khoán, nó mở rộng sự hoạt
động của thị trường thứ cấp và cùng Sở giao dịch hạn chế đến mức tối thiểu sự biến
động giá cả bằng cách thường xuyên kiểm tra việc hình thành giá chứng khoán lẫn
cho nhau. Việc thực hiện giao dịch tại thị trường OTC như sau: Khi khách hàng
muốn mua, bán một số lượng nhất định một loại chứng khoán, khách hàng sẽ đưa ra
lệnh tới công ty chứng khoán đang giữ tài khoản cho mình yêu cầu thực hiện, cụ thể:
22
22
22
23
+ Nếu công ty chứng khoán này là người tạo thị trường cho loại chứng khoán
khách hàng đặt mua thì khách hàng giao dịch trực tiếp với bộ phận buôn bán của
công ty.
+ Nếu công ty chứng khoán không phải là người tạo thị trường thì bộ phận
buôn bán của công ty chứng khoán liên hệ với các nhà tạo thị trường và thực hiện
hoàn tất giao dịch với nhà tạo thị trường có giá chào bán thấp nhất (hoặc giá đặt mua
cao nhất). Bộ phận buôn bán ghi giá lên lệnh cùng với tên của người bán rồi chuyển
tới phòng thực hiện lệnh, bộ phận này báo cáo việc thực hiện cho người đại diện nhận
lệnh, rồi người này thông báo cho khách hàng.

phương đã góp phần làm phong phú khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển và
tạo hàng hoá cho thị trường vốn. Phát triển thị trường TPCP chính là một trong
những giải pháp quan trọng để thu hút các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu phát
triển của quốc gia. Điều này đã khẳng định vị trí của TPCP và thị trường TPCP trong
việc phát triển kinh tế; nó không chỉ đơn thuần là công cụ huy động vốn mà còn là
công cụ để điều chỉnh nền kinh tế. Bởi vì thế mà hầu hết các nước đều quan tâm đến
việc phát triển thị trường TPCP.
1.3.2. Vai trò của thị trường trái phiếu Chính phủ
Thị trường TPCP là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, là một
công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong quá trình điều hành vĩ mô nền kinh tế; có thể
nhận thấy vai trò quan trọng của thị trường TPCP, thể hiện qua các mặt sau:
- Thứ nhất, thị trường TPCP có vai trò khuyến khích tiết kiệm và thu hút các
nguồn vốn đầu tư trong xã hội. Nhà nước sử dụng thị trường TPCP để huy động vốn
cho NSNN và cho đầu tư phát triển. Thông qua phát hành TPCP ra thị trường sẽ tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư có nhiều cơ hội đầu tư; phát
triển thị trường TPCP thông qua việc cung cấp các hàng hoá cho thị trường sẽ góp
phần, tạo thói quen đầu tư, kinh doanh chứng khoán, thúc đẩy sự hình thành và phát
triển các định chế tài chính trung gian (các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư,...
Thị trường TPCP là nơi khơi thông các nguồn vốn trong xã hội, tạo điều kiện tích tụ
các nguồn vốn nhỏ thành nguồn vốn lớn, biến nguồn vốn ngắn hạn thành nguồn vốn
dài hạn.
- Thứ hai, thị trường TPCP là nơi định giá các TPCP phát hành lần đầu và
định giá lại các trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Lãi suất TPCP chịu ảnh hưởng lớn
từ quan hệ cung và cầu TPCP trên thị trường. Khi cung, cầu trái phiếu thay đổi làm
cho lãi suất cân bằng thay đổi. Lãi suất TPCP mới phát hành tương đương với lãi suất
chiết khấu dùng để tính giá trị hiện hành của loại TPCP đang lưu thông có cùng đặc
24
24
24
25

trường TPCP ngày càng được nhiều Chính phủ quan tâm bởi những tác động tích cực
25
25
25

Trích đoạn Tình hình thị trường trái phiếu Chính phủ Nhật Bản Nhận xét qua kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ của các nước Bài học kinh nghiệm rút ra qua việc phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ của các nước KẾT QUẢ PHÁT HÀNH TÍN PHIẾU QUA HỆ THỐNG KBNN GIAI ĐOẠN 1991
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status