Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng nhất đối với
mỗi quốc gia bởi vì nó có tác động sâu đến mọi mặt kinh tế. ở Việt Nam diễn biến giá
cả thị trờng theo chiều hớng bất lợi cho nền kinh tế: Giảm phát kéo dài trong suốt các
năm 1999, 2000 và đầu năm 2001 đ buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi: Mô hình chínhã
sách tiền tệ với hệ thống các công cụ điều tiết mà chúng ta áp dụng từ trớc tới nay
thực sự có hiệu qủa hay cha? Nền kinh tế đ có rất nhiều sự chuyển đổi, việc duy trì hệã
thống các công cụ thiên về hớng điều tiết trực tiếp có còn phù hợp hay không? Và nếu
không phù hợp chúng ta nên thay đổi theo hớng nào? Mục tiêu của đề án này chính là
góp phần tìm ra hớng đi cho việc giải quyết những vấn đề đó.
Về phơng diện lí luận đề án sẽ cố gắng đa ra những khái niệm chung nhất về
chính sách tiền tệ và hệ thống các công cụ của nó. Về mặt thực tiễn, đề án sẽ xem xét
các công cụ của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ơng Việt Nam trong những
năm gần đây, từ đó đa ra những giải pháp cơ bản cho những vấn đề này.
Các phơng pháp đợc sử dụng là: Phơng pháp duy vật biện chứng, Phơng pháp
duy vật lịch sử, phơng pháp so sánh và một số phơng pháp phân tích của kinh tế học
hiện đại.
Với những ý tởng đó, kết cấu đề tài bao gồm:
Chơng I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ, các công cụ của chính
sách tiền tệ.
Chơng II: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
ở Việt Nam.
Chơng III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công cụ chính
sách tiền tệ ở Việt Nam.
Nội dung
Ch ơng I
Lí luận chung về chính sách tiền tệ,
các công cụ của chính sách tiền tệ:
I.Chính sách tiền tệ:
1. Khái niệm chính sách tiền tệ:
việc làm cho ngời lao động. Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ đợc áp dụng khi lạm phát
tăng cao, mục tiêu đợc hớng tới là hạn chế đầu t, kìm chế sự tăng trởng quá mức của
nền của nền kinh tế.
2. Vai trò, mục tiêu của chính sách tiền tệ:
a.
Vai trò của của chính sách tiền tệ:
Cùng với chính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại,
chính sách tiền tệ xuất hiện trong trơng trình hành động của chính phủ các quốc gia
nh một đòi hỏi tất yếu khách quan trớc những thăng trầm của nền kinh tế các nớc
trong những thập kỉ, thế kỉ vừa qua.
Trong suốt khoảng thời gian đầy rẫy những thăng trầm đó, nhân loại đ chứngã
kiến đầy đủ những khuyết tật của thị trừơng, ví dụ nh: chạy theo lợi nhuận tối đa đến
lừa đảo, tội ác, vi phạm pháp luật; đồng tiền chi phối các quan hệ x hội, quan hệã
chính trị; phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, bất công x hội phát triển; phá huỷ môiã
trờng sinh thái; cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,Thế giới văn minh ngày nay càng
thấy rõ hơn bao giờ các khiếm khuyết đó, vì vậy Nhà nớc đ không thể đứng ngoàiã
cuộc, nó phải sử dụng bàn tay hữu hình, tức là hệ thống các chính sách kinh tế của
mình để tác động vào nền kinh tế và chính sách tiền quốc gia là một trong những công
cụ quản lý vĩ mô mang tính then chốt đối với mọi nhà nớc.
Nh vậy vai trò của chính sách tiền tệ là rất lớn, nh Samuelson đ nói Chínhã
phủ phải biết cách dùng chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế khác để ngăn
chặn bất cứ cuộc suy thoái nào nổ ra, không cho chúng phát triển lên thành những
cuộc khủng hoảng mang tính kéo dài Có thể nói sứ mệnh mà chính sách tiền tệ đợc
giao phó là hết sức cao cả, đó là đa nền kinh tế thị trờng phát triển không ngừng phục
vụ nhu cầu cuộc sống của con ngời.
b.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Tuỳ theo cách phân chia cũng nh đặc điểm kinh tế từng thời kì của mỗi quốc
gia mà họ xác định cho mình mục tiêu của chính sách tiền tệ sao cho phù hợp, Tuy
chặt chẽ với nhau. Muốn ổn định giá cả trong nớc thì cũng phải ổn định tỷ giá hối đoái.
b.2. Tăng trởng kinh tế:
Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế, đó là tỷ lệ tăng
trởng có đợc sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng thời kì.Việc tăng giảm lợng tiền cung
ứng có ảnh hởng rất lớn đến thực trạng nền kinh tế. Khi lợng tiền cung ứng tăng nên,
l i suất tín dụng thã ờng giảm xuống. Đồng tiền rẻ đi sẽ kích thích đầu t, tăng tổng sản
phẩm quốc nội. Mặt khác tăng khối lợng tiền tệ làm tăng mức cầu tức là tăng tiêu
dùng, khuyến khích sản xuất. Ngợc lại khi lợng tiền cung ứng giảm, l i suất sẽ tăng,ã
làm giảm đầu t và do đó tổng sản phẩm quốc nội giảm. Trong giai đoạn trớc đây khi
các cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trờng cha nhạy cảm, ngời ta thờng sử dụng
phơng pháp ấn định và điều chỉnh lợng tiền cung ứng trực tiếp, chủ yếu bằng công cụ
hạn mức tín dụng. Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng ngân hàng trung ơng các nớc
có xu hớng chuyển sang sử dụng chủ yếu các công cụ gián tiếp vì những u điểm của
chúng.
b.
3. Tạo công ăn việc làm:
Cùng với ổn định giá trị đồng tiền và tăng trởng kinh tế, chính sách tiền tệ cũng
hớng tới mục tiêu tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, nhất là đổi với các quốc gia
đang phát triển, những nơi phải chịu sức ép lớn về dân số. Chính sách tiền tệ tao ra
công ăn việc làm thông qua các tác đông nhằm mở rộng đầu t, mở rộng hoạt động
kinh tế, chống suy thoái, duy trì mức tăng trởng ổn định.
Ngoài các mục tiêu nêu trên, tuỳ đặc đIểm kinh tế của mình mà các quốc gia
còn có thể tập trung vào các mục tiêu cụ thể khác, ví dụ: hệ thống dự trữ liên bang Mỹ
còn đặt ra các mục tiêu ổn định thị trờng tài chính, ổn định l i suất, hạn chế nhữngã
thăng trầm, biến động của chu kì kinh tế.
Về ngắn hạn, các mục tiêu của chính sách tiền tệ có thể phù hợp nhng cũng có
thể không phù họp thậm chí đối nghịch nhau. Vấn đề đặt ra là Ngân hàng trung ơng
phải tìm ra đợc các biện pháp dung hoà các mục tiêu để vừa kiềm chế đợc lạm phát
vừa tăng trởng kinh tế và đạt đợc mức nhân dụng cao.
I. Hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ
lợng nhiều hơn, làm tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng của các ngân hàng thơng
mạI cho nền kinh tế, dẫn đến tăng khả năng tạo tiền qua hệ thống ngân hàng và làm
tăng lợng tiền cung ứng.
Đây là một công cụ có tính chất linh hoạt, tôn trọng sự cạnh tranh giữa các ngân
hàng. Thông qua sự hoạt động của thị trờng liên ngân hàng, Ngân hàng trung ơng có
thể tác động và ảnh hởng một cách thờng xuyên mức l i suất của thị trã ờng liên ngân
hàng theo ý muốn của mình. Tuy nhiên điều này chỉ có hiệu quả khi l i suất chiết khấuã
phù hợp với l i suất thị trã ờng. Công cụ này còn giúp Ngân hàng trung ơng trong việc
thực hiện vai trò của ngời cho vay cuối cùng của mình. Thông qua việc quy định các
điều kiện đợc chiết khấu, tái chiết khấu giúp cho Ngân hàng trung ơng kiểm soát đợc
chất lợng tín dụng của các ngân hàng thơng mại và điều chỉnh cơ cấu đầu t đối với
nền kinh tế.
Tuy nhiên mức độ phát huy hiệu quả của các công cụ này phụ thuộc vào quan hệ
vốn của Ngân hàng trung ơng với các ngân hàng thơng mại. Ngân hàng trung ơng có
thể tăng giảm l i suất chiết khấu, tái chiết khấu, nhã ng việc có vay hay không là do các
ngân hàng thơng mại quyết định. Vì vậy đôi khi chính sách chiết khấu tỏ ra kém chủ
động. Tác động của nó không phải lúc nào cũng theo chiều hớng mà Ngân hàng trung
ơng mong muốn.
2. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng thơng mại phải gửi tại Ngân hàng
trung ơng, không đợc hởng l i, không đã ợc phép sử dụng ( trừ những trờng hợp đặc biệt,
ví dụ các ngân hàng thơng mại đang đứng trớc khả năng phá sản). Dự trữ bắt buộc th-
ờng đợc tính bằng tỉ lệ phần trăm giữa số tiền dự trữ bắt buộc và tổng số tiền gửi. Tỷ lệ
này đợc gọi là tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đợc Ngân hàng trung ơng xác định cho từng loại tiền gửi, tuỳ
theo tính chất và thời hạn mà các ngân hàng thơng mại huy động đợc. Tiền gửi tiết
kiệm có tỉ lệ dự trữ bắt buộc thấp nhất, ssu đó là tiền gửi có kì hạn và cuối cùng là tiền
gửi không kì hạn.
Một khoản tiền đợc gửi vào hệ thống ngân hàng, sau khi đợc trích ra một khoản
nhất định dùng làm dự trữ bắt buộc, toàn bộ số tiền còn lạI sẽ đợc cho vay vào nền
bắt buộc chỉ có thể coi là biện pháp để kiểm soát cung ứng tiền tệ chứ không phải là
phơng thức tốt để duy trì sự ổn định của tiền tệ.
3. Nghiệp vụ thị trờng mở:
Nghiệp vụ thị trờng mở là nghiệp vụ bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, do Ngân
hàng trung ơng thực hiện trên thị trờng tiền tệ nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc
gia. Các giấy tờ có giá ngắn hạn đợc mua bán ở nghiệp vụ này chủ yếu là tín phiếu
kho bạc nhà nứoc vì chúng có quy mô lớn, rủi ro thấp, thời hạn ngắn và tính lỏng cao.
Ngân hàng trung ơng trục tiếp đứng ra mua bán các giấy tờ có giá trị ngắn hạn
nhằm trớc hết tác động đến khối lợng tiền dự trữ trong khối dự trữ của các ngân hàng
thơng mại và các tổ chức tàI chính, đến l i suất cho vay và huy động vốn của chúng,ã
làm hạn chế hay mở rộng tiềm năng tín dụng và thanh toán của các tổ chức này, qua
đó điều khiển lợng tiền cung ứng.
Thông thờng trong đIều kiện kinh tế thị trờng phát triển, nghiệp vụ thị trờng mở đợc
chỉ đạo sát sao từng giờ. Việc mua bán liên tục các loại trái phiếu sẽ ảnh hởng thờng
xuyên đến lợng dự trữ của các ngân hàng thơng mại và các tổ chức tài chính khác,
làm hình thành nên l i suất vốn trong toàn quốc. L i suất vốn đó sẽ ảnh hã ã ởng chỉ đạo,
quy chiếu cho l i suất tín dụng và tác động lên các l i suất thị trã ã ờng vốn.
Môi trờng hoạt động tốt nhất cho nghiệp vụ thị trờng mở là thị trờng chứng khoán.
Tuy nhiên nếu cha có thị trờng chứng khoán thì Ngân hàng trung ơng cũng có thể thực
hiện đợc việc mua bán trên thị trờng vốn.
Với công cụ này Ngân hàng trung ơng có thể thực hiẹn việc đIều tiết ở bất kì mức
độ nào. Nghiệp vụ thị trờng mở cũng là công cụ có tính linh họat cao thể hiện ở việc
Ngân hàng trung ơng có thể dễ dàng thay đổi vị trí của mình trên thi trờng. Ví dụ khi
Ngân hàng trung ơng đang là ngời bán chứng khoán trên thị trờng nếu thấy M1 bị sụt
giảm quá nhiều, Ngân hàng trung ơng có thể từ việc bán lập tức chuyển sang mua
chứng khoán để bơm tiền vào nền kinh tế. Việc thực hiện nghiệp vụ thị trờng mở cũng
khá đơn giản nhanh chóng, ít tốn kém về mặt chi phí. Tuy nhiên viêc mua bán các
chứng khoán còn phụ thuộc vào các ngân hàng và các tổ chức tàI chính khác. Chính
họ là ngời quyết định có mua, bán các chứng khoán không và mua bán với khối lợng
bao nhiêu, mức giá thế nào. Nghiệp vụ thị trờng mở chỉ đợc sử dụng có hiệu quả khi
Đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lợng tiền trong lu thông. Việc Ngân
hàng trung ơng quy định hạn mức tín dụng sẽ tác động đến việc cung ứng vốn tín
dụng của các ngân hàng thơng mại và từ đó ảnh hởng đến lợng tiền cung ứng. Cụ thể:
khi Ngân hàng trung ơng tăng hạn mức tín dụng sẽ dẫn đến khả năng tăng vốn tín
dụng của các ngân hàng thơng mại cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo tiền, từ đó làm
tăng lợng tiền cung ứng. Ngợc lại khi Ngân hàng trung ơng giảm hạn mức tín dụng sẽ
khống chế khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng cho nền kinh tế, giảm
khả năng tạo tiền qua hệ thống này, do đó làm giảm lợng tiền cung ứng.Công cụ này
giúp cho Ngân hàng trung ơng quản lý đIều chỉnh đợc lợng tiền cung ứng khi các công
cụ khác tỏ ra kém hiệu quả, đặc biệt trong trờng hợp lạm phát cao.
Tuy nhiên công cụ này có rất nhiều nhợc điểm nên trong thực tế ít đợc sử dụng.
Bởi vì nó triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các ngân hàng thơng mại, đánh đồng các
ngân hàng hoạt động hiệu quả và không hiệu quả. Khi hạn mức quá thấp mà nhu cầu
vốn quá cao sẽ dẫn tới l i suất tăng, ảnh hã ởng tới đầu t, việc làm, đồng thời làm phát
sinh các hình thức tín dụng nằm ngoài khả năng kiểm soát của Ngân hàng trung ơng
nh: hụi, hội, vay nóng,Nếu hạn mức quá cao thì sẽ có ngân hàng không thể sử dụng
hạn mức của mình, đặc biệt trong trờng hợp hệ thống liên ngân hàng hoạt động cha
hiệu quả, từ đó dẫn đến làm giảm hoặc vô hiệu hoá vai trò quản lí của Ngân hàng