Phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

LUẬN VĂN:

Phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những
ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo
trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
ở Việt Nam những tư tưởng triết học Phật giáo, đặc biệt nhân sinh quan Phật
giáo, là một trong những nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc cũng như nhân cách, đạo
đức của mỗi người dân. Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn tỏ rõ vai trò quan
trọng, có ảnh hưởng sâu rộng và toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam.
Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải qua những
bước thăng trầm trong lịch sử. Đặc biệt, từ khi công cuộc đổi mới chuyển từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra
trên đất nước ta, thì sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống
tinh thần của con người Việt Nam càng diễn ra khá rõ nét và có những biểu hiện mới.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, xu hướng biến đổi ảnh hưởng của nhân
sinh quan Phật giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Cần đánh giá những biến đổi đó theo chiều
hướng tích cực hay tiêu cực? Những nhân tố nào cần phát huy trong điều kiện mới và
bằng cách nào để có thể phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng
tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam
là vấn đề đang đặt ra và cần làm sáng tỏ.

Nam. Những công trình nghiên cứu nói trên, trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và
khía cạnh khác nhau, đã thể hiện tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối
với đời sống xã hội Việt Nam. Do đó, việc đánh giá những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực
của Phật giáo, mà trước hết là nhân sinh quan Phật giáo, trên cơ sở đó đưa ra những giải
pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư
tưởng triết học này trong đời sống xã hội Việt Nam lâu nay, là việc làm hết sức có ý
nghĩa. Tuy nhiên, việc làm sáng tỏ sự biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo nói chung và
nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần của con người Việt Nam
dưới tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay thì hãy còn chưa
nhiều. Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là: trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên
cứu của những công trình đi trước để khảo sát đánh giá sự biến đổi của ảnh hưởng nhân
sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Footer Page 3 of 166.


Header Page 4 of 166.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục đích
Luận văn làm rõ sự biến đổi ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong quá
trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Nêu ra một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh
hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá
trình đổi mới ở nước ta hiện nay.
b) Nhiệm vụ
Một là, khái quát nội dung nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với
đời sống tinh thần truyền thống của con người Việt Nam.
Hai là, tìm hiểu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá
trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Phân tích những nhân tố tác động đến sự
biến đổi đó; nêu lên một số xu hướng biến đổi của nhân sinh quan Phật giáo.

- Luận văn bước đầu nêu lên một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng
tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi
mới.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
tôn giáo ở các trường Đại học, Cao đẳng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.

Chương 1
nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó
đến đời sống tinh thần người Việt Nam

1.1. Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1. Vị trí nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật giáo
Ph.Ăngghen đã nói: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào
trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày
của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những
lực lượng siêu trần thế" [17, tr. 73].
Điều đó có nghĩa là, tôn giáo do con người sáng tạo ra, tôn giáo không sáng tạo ra
con người song lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người trên nhiều lĩnh vực khác
nhau.
Phật giáo - một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới - ra đời đã hơn 2500 năm
nay, đã được truyền bá và ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới như: Xrilanca, Xiry, Ai

Chứng kiến đời sống khổ cực và sự bất lực của con người trong xã hội đương
thời, đã khiến Hoàng tử Tất Đạt Đa có ý định từ bỏ cuộc sống giàu sang để đi tìm đạo lý
cứu đời. Năm 29 tuổi, nhân lúc vua cha, vợ con đang ngủ say, Tất Đạt Đa rời bỏ Hoàng
cung ra đi trở thành người tu tập thiền định và bắt đầu cuộc sống khổ hạnh. Qua một thời
gian học đạo, Người nhận thấy, cuộc sống giàu sang về vật chất, thỏa mãn dục vọng và cả
cuộc sống tu hành khổ hạnh ép xác đều là con đường sai lầm. Người cho rằng, cuộc sống
dù giàu sang đến đâu cũng chỉ là tầm thường, còn cuộc đời tu hành khổ hạnh thì tăm tối,
mà chỉ có con đường trung đạo mới là con đường đúng đắn. Người nói: "Ta tu khổ hạnh
mà như thế này, mà không thấy rõ đạo thì cái tu của ta vẫn chưa phải. Ta nên theo con
đường giữa, cứ ăn uống như thường, không say mê việc đời nào vẫn không khắc khổ hại
thân rồi mới thành đạo được" [14, tr. 42].
Sau khi tự mình đào sâu suy nghĩ tìm con đường giác ngộ chân lý mới, Tất Đạt
Đa quyết định từ bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh để đi vào tư duy trí tuệ. Qua nhiều lần tu
tập, sau 49 ngày ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề, với những suy tư sâu thẳm, Người
đã giác ngộ được chân lý. Tất Đạt Đa đã lý giải được nguồn gốc nỗi khổ của con người,

Footer Page 7 of 166.


Header Page 8 of 166.

cũng như phương pháp giải thoát diệt khổ. Là một tôn giáo, Phật giáo ra đời nhằm xoa
dịu nỗi khổ của con người trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội
ấn Độ cổ đại.
Sinh thời, Đức Phật không viết sách, mà chỉ thuyết giảng cho các học trò của
mình bằng lời nói. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, các đệ tử đã tập hợp, phát triển tư
tưởng của người để xây dựng một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh (kinh, luật và luận
tạng). Về sau Phật giáo chia thành Tiểu thừa và Đại thừa với nhiều tông phái khác nhau,
du nhập và phát triển ra nhiều nước trên thế giới. Dù đã trải qua lịch sử thăng trầm hơn
2500 năm, với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà trước

Giống hệt như người bị thương vì một mũi tên thuốc độc, bạn bè thân
thích đưa một ông thầy giải phẫu nhưng anh ta nói: Ta sẽ không để cho rút
mũi tên này ra trước khi biết ai làm ta bị thương, hắn ở đẳng cấp nào, tên họ
hắn là gì, hắn ta to bé hay trung bình, hắn ta từ đâu tới. Ta sẽ không cho rút
mũi tên này trước khi biết nó là loại cung nào, dây cung và mũi tên được làm
bằng gì, đầu nhọn mũi tên được làm như thế nào? Con người này sẽ chết đi mà
không biết điều đó chúng là vô ích không dẫn ta đến giải thoát. Việc cấp bách
là cứu khổ giống như việc lấy mũi tên thuốc độc ra khỏi thân thể con người
[12, tr. 266].
Khi các đệ tử hỏi Đức Phật về vấn đề siêu hình trừu tượng như vũ trụ có vĩnh
hằng không? Nó vô hạn hay hữu hạn, linh hồn và thể xác là một hay khác nhau, Như Lai
sau khi chết có tồn tại hay không?... thì người im lặng vì mục đích chủ yếu là cứu khổ
cho con người.
Như vậy, qua việc nghiên cứu những nội dung trên cho thấy, đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của Phật giáo là con người, là giá trị nhân sinh. Qua việc phải chứng kiến
nỗi khổ của con người ở đời sống trần thế mà Thích Ca Mâu Ni đã xây dựng học thuyết
mang đậm giá trị nhân sinh để giải thoát, cứu khổ cho con người khỏi khổ nạn. Trong xã
hội chiếm hữu nô lệ ở ấn Độ, với sự thống trị của tư tưởng duy tâm tôn giáo Bà la môn và
chế độ phân biệt đẳng cấp khắt khe, Phật giáo ra đời là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận
uy thế của kinh Vêđa và đạo Bà la môn, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng
và sự bình đẳng xã hội, xóa bỏ nỗi khổ trong đời sống của người dân ấn Độ. Đây là sự
thể hiện tinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân đối với chế độ xã hội đương thời:
Đức Phật tuyên bố: Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp

Footer Page 9 of 166.


Header Page 10 of 166.

trong giọt nước mắt cùng mặn, con người sinh ra không phải đã mang sẵn trong bào thai


Header Page 11 of 166.

ngày càng đa dạng phong phú để thích nghi với truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc
trong những thời kỳ lịch sử nhất định.
Vì khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ là có hạn, nên tác giả luận văn chỉ nghiên
cứu ảnh hưởng nhân sinh quan phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt
Nam và sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới hiện nay trong thuyết tứ đế của Phật
giáo.
Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về con người, đời
sống của con người.
Về con người
Phật giáo tập trung ở học thuyết cấu tạo con người, học thuyết về sự xuất hiện và
tái sinh.
Theo Phật con người được cấu tạo từ những yếu tố thể hiện trong thuyết Danh
sắc và thuyết Lục đại.
Thuyết Danh sắc: Con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất và tinh thần.
Thuyết Lục đại: Con người được cấu tạo từ sáu yếu tố:
Địa

: Nghĩa là đất, xương thịt.

Thủy

: Nước, máu, chất lỏng.

Hỏa

: Lửa, nhiệt khí.


: Tưởng tượng, tri giác, ký ức.

Hành

: ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động.

Thức

: ý thức theo nghĩa rộng gồm cả thụ, tưởng, hành.

Trong các thuyết về cấu tạo con người của Phật giáo, thì thuyết Ngũ uẩn là phổ
biến hơn cả. Như vậy, Phật giáo cho rằng, con người không có thực thể là "không", gọi là
"nhân vô ngã" (nhân không). Con người được tạo thành từ Ngũ uẩn cho nên không có
chủ thể hằng thường tự tại. Con người là sản vật, tự nhiên không có hình thái cố định của
tính vật chất nhưng vì đã ăn vật chất trên thế giới nên dần hình thành khối vật chất thô
kệch có sự phân biệt tính cách, màu da. Có bốn loại thực:
Đoạn thực : Thức ăn là động, thực vật, thức ăn vật chất, là cơm ăn nước uống
hàng ngày.
Xúc thực

: Thức ăn là những cảm xúc, cảm giác.

Tư thực

: Thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi.

Thức thực : Thức ăn là tinh thần, là thức ăn ở cõi vô sắc, sống bằng tinh thần
thanh cao.
Phật giáo quan niệm sự vật đều luôn vận động biến đổi, không có cái gì là
thường hằng, bất biến. Xuất phát từ duyên khởi luận, Phật giáo cho rằng thế gian hết thảy

ấy, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão.
Đời này ra sức học tập thì đời sau thông minh sáng suốt; đời này lười biếng thì
đời sau ngu đần dốt nát; đời này sát sinh thì đời sau chết yểu; đời này phóng sinh thì đời
sau sống lâu; đời này làm khổ chúng sinh thì đời sau đau khổ; đời này có tâm vỗ về an ủi
người khác thì đời sau hạnh phúc; đời này giận dữ cáu kỉnh thì đời sau tướng mạo xấu
xí... Đức Phật có nói: "Những kẻ tạo nghiệp ác dù có lên trời, xuống biển hay vào hang
núi cũng không nơi nào có thể trốn thoát" [12, tr. 275].
Có thể nói, Phật giáo quan niệm mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ phổ biến
và chi phối tất cả. Phật giáo nguyên thủy cho thế giới này không có nguyên nhân đầu tiên

Footer Page 13 of 166.


Header Page 14 of 166.

cũng như cuối cùng, thế giới không do một đấng tối cao nào sáng tạo ra; từ đó đi đến bác
bỏ mọi quan niệm cho rằng Thượng đế hay linh hồn là lực lượng đầu tiên sáng tạo ra
muôn vật. Tuy nhiên, quan niệm về mối liên hệ nhân quả mà Phật giáo đề cập và nhấn
mạnh thuộc lĩnh vực đạo đức, tinh thần, tâm lý cá nhân.
Theo quan niệm của Phật giáo, xét đến cùng muôn vật trong vũ trụ là hệ thống
nhân duyên của nhau, cứ thế sinh sinh diệt diệt mãi nối tiếp nhau vô cùng tận; thế giới là
vô thủy vô chung, không có cái gì là trường tồn bất biến. Mọi cái đều biến đổi vận động
không ngừng, không có cái vĩnh hằng; mọi vật đều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt.
Con người cũng thuộc về thế giới hiện tượng. Thân xác con người được đề cập trong các
thuyết Danh sắc, thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn của Phật giáo. Theo luật nhân quả của
Phật giáo, những việc làm của con người là nguyên nhân tạo ra sự ngũ uẩn tiếp theo. Bản
thân nghiệp này do kiếp trước quy định; cứ thế con người ở trong vòng luân hồi sinh tử
không ngừng từ đời này sang đời khác. Điều đó ít nhiều mang tính biện chứng. Tuy
nhiên, do tuyệt đối hóa sự vận động và gắn sự vận động với tính giả tạm vô thường của
sự vật, cho nên Phật giáo không có được quan niệm đúng đắn về sự thống nhất biện

Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ. Mỗi chúng sinh là
nạn nhân của bao cái khổ. Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnh tật hiểm nghèo… lại có
cái khổ khác bên ngoài thể xác như thiên tai, chiến tranh... Tất cả những cái khổ đó liên
tiếp dồn dập đến với con người.
Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không có cái vĩnh
hằng. Ca dao có câu "nước chảy đá mòn", để nói một sự vật vững chắc, cứng rắn như đá
nhưng cùng với thời gian chịu tác động của ngoại cảnh cũng phải thay đổi rồi bị hủy diệt
tan biến. Con người cũng vậy, không thể nằm ngoài quy luật chung đó.
Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần con người, do không làm chủ được mình
bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh ra buồn vui, giận hờn, yêu
ghét…

Footer Page 15 of 166.


Header Page 16 of 166.

Tám thứ khổ (Bát khổ): Đức phật tóm tắt thành tám thứ khổ trong cuộc đời của
một con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ
uẩn khổ.
Tám thứ khổ này là sự cụ thể hóa, tỉ mỉ hơn về các nỗi khổ của chúng sinh ở trần
thế, song nội dung thì được bao hàm bởi ba khổ trên. Sinh khổ: con người khi sinh ra đã
cất tiếng khóc chào đời; trước đó còn ở trong bụng mẹ thì chật chội tăm tối; người mẹ
mang thai con thì vất vả mệt nhọc, kém ăn, mất ngủ, chịu bao cái khác thường so với
người khác.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người muốn tồn tại được thì trước hết phải ăn,
uống, mặc ở, sinh hoạt, đi lại… Muốn vậy, con người phải lao động hết sức vất vả, cực
khổ, tất bật trong công việc. Đó là về mặt vật chất, còn những nỗi khổ về tinh thần dày vò
con người cũng không kém nỗi khổ về vật chất, nó làm con người suy kiệt, ốm yếu,...

xét tìm cách giải khổ, làm chủ được bản thân, vượt lên trên số phận. Điều này cho thấy,
Phật giáo không hề trốn tránh cuộc sống trần gian, cũng như không tô hồng nó, mà đã
dũng cảm nhìn vào hiện thực cuộc đời con người.
Tập đế
Tập đế nói lên sự tập hợp, tích chứa những nguyên nhân đưa tới cái khổ. Đức
Phật cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó (Thập nhị nhân duyên). Phật
Thích Ca thuyết pháp cho môn đệ phép màu nhiệm về nguyên nhân sự khổ. Đó là lòng
tham sống mà luân hồi sinh tử: càng tham, càng muốn, càng được lại càng tham. Con
người tham sống, tham sướng, tham mạnh v.v... Nguyên nhân của lòng tham là vô minh,
nghĩa là không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là ảo
giả, mà cứ cho là thực; không nhận thức được ngay chính bản thân mình, cả thế giới
khách quan lẫn bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong vòng luân hồi trôi
chảy bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở trong con người. Phật giáo nói đến
đau khổ chủ yếu là chỉ tinh thần bức bách.
Trong 12 nguyên nhân đưa ra thì Đức Phật cho rằng, vô minh và ái dục là hai
nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người. Sự kết hợp giữa ái dục và vô minh
xuất phát từ nguồn gốc của ba thứ mà phật gọi là tam độc: tham, sân, si.

Footer Page 17 of 166.


Header Page 18 of 166.

Tham: Biểu hiện sự tham lam của con người làm xúi dục con người hành động
để thỏa mãn lòng tham của mình. Lòng tham của con người không có giới hạn, đây là
nguyên nhân gây bao nỗi thống khổ cho con người như chém giết, xâm hại lẫn nhau.
Sân: Sự cáu gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng về điều gì đó,
làm cho con người không kiểm soát hết hành động của mình (giận quá mất khôn); như
thế cũng đem lại những điều khổ đau, không hay cho con người. Sách Phật ghi rằng, một
đốm lửa giận có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức và một niệm sân hận nổi lên, thì

ra ở thế giới để làm người, hay súc sinh.
Duyên lão tử: Đã có sinh tất yếu có già và có chết. Sinh - lão - bệnh - tử là kết thúc
một chu kỳ, đồng thời là nguyên nhân của một chu kỳ tiếp theo, bắt đầu một vòng luân
hồi mới. Cứ như thế tiếp diễn ở trong vòng đau khổ sinh tử.
Diệt đế
Đức Phật khẳng định, cái khổ có thể tiêu diệt được, chấm dứt được luân hồi.
Đức Phật đã giảng cho môn đệ về vấn đề này ở thành Ba Nại Na: "Này các Thầy xa môn
đến đạo diệt khổ, diệt lòng tham sinh hợp với thích thú và nhục dục tìm thích thú ở chỗ
này chỗ khác nhất là tham dục, tham sinh, tham vô minh, diệt hết những dục vọng ấy sẽ
khỏi khổ".
Vì vậy, mỗi chúng sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ "vô minh", để cho Phật
tính bừng sáng, nó sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi Niết bàn. Muốn diệt
trừ "vô minh" phải có trí tuệ vì: "Có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò
xét, không để lầm lỗi có thể có được, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc chắn nhất vượt
bể sinh, lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh... là búa sắt chặt cây
phiền não" [27. tr 36-37]
Diệt đế nói lên thế giới của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau.
Đạo đế
Sau khi chỉ ra các nỗi khổ ở cuộc đời con người cũng như nguyên nhân gây nên
các nỗi khổ ấy. Đức Phật khẳng định, có thể tiêu diệt được khổ, tiêu diệt nỗi khổ nhân
sinh bằng trải qua tu luyện để thoát khổ đạt đến cõi Niết bàn tuyệt đối tịch tịnh sung

Footer Page 19 of 166.


Header Page 20 of 166.

sướng, an lạc và tốt đẹp nhất. Cuối cùng ngài đưa ra con đường để thoát khổ thực chất là
diệt trừ vô minh, con đường đó là bát chính đạo. Đây là con đường tương đối phổ biến, là
môn pháp chính được đề cập đến nhiều nhất đến nỗi có người lầm tưởng đạo đế và bát

Chính tinh tiến: Đức Phật dạy con người cố gắng làm điều thiện, tránh điều ác;
không quên lý tưởng tu đạo, luôn cảnh giác tỉnh táo trong từng việc làm; phải chủ động
tích cực trong việc tìm kiếm truyền bá chân lý nhà Phật.
Chính niệm: Trong đầu con người luôn có ý niệm trong sạch ngay thẳng, ghi nhớ
những đạo lý chân chính, điều hay lẽ phải ở đời, chăm lo thường xuyên niệm Phật.
Chính định: Sự tập trung tư tưởng vào một việc chính đáng, đúng chân lý, tĩnh
lặng suy tư về tứ diệu đế của vô ngã vô thường về nỗi khổ của con người, là cơ sở cho
chính kiến, chính tư duy ở trình độ cao.
Với việc tu tập theo bát chính đạo mà Đức Phật đã chỉ ra, con người sẽ thu được
lợi ích thiết thực cho cả mình và xã hội; họ sẽ tự ý thức, sửa mình từ bỏ mọi tội lỗi, tu
thân tích đức như thế con người sẽ đạt tới sự hoàn thiện. Đây có thể coi là cơ sở, động lực
để tạo ra sự yên bình, hạnh phúc không những trong xã hội hiện tại mà cả xã hội tương
lai, bởi nhân nào quả ấy. Một lần nữa cho thấy, những giá trị nhân sinh sâu sắc của Phật
giáo được khẳng định. Đức Phật đã rung động trước nỗi khổ của chúng sinh, nói như thế
không phải Đức Phật tỏ ra bi quan trách đời mà phải thấy rằng Đức Phật đã dũng cảm chỉ
ra thực tế, đoán định thế gian là chỉ có đau khổ. Từ đó mà đi tìm phương thuốc cứu giúp
cho chúng sinh, tìm ra lối đi của sự tự do tuyệt đích, của hạnh phúc yên bình chính là con
đường diệt khổ.
Đức Phật lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong giáo lý của
mình. Đức Phật thuyết giảng: "Đạo của ta đây chỉ có một vị là giải thoát như nước ngoài
khơi chỉ có một vị mặn". Tinh thần triết lý nhân sinh mà Đức Phật dạy chúng sinh đòi hỏi
trách nhiệm về đạo đức làm người, không được làm ngơ trước những nỗi khổ của người
khác, phải toàn tâm toàn ý cứu khổ cho mọi người... Đó cũng là yêu cầu đối với chính
mình, mình có thực hiện tốt thì mới hy vọng thoát khổ. Đức Phật tự nhận: "Thường trong
bể khổ sinh tử, làm chiếc thuyền lớn cứu vớt chúng sinh". (Kinh Tâm Địa Quán).
Phật giáo không lấy giáo lý làm trọng, mà chỉ coi đó là phương tiện để đạt đến
chân lý cuối cùng. Cái cốt tủy của nó là sự thực hành của mỗi cá nhân đạt đến sự giác
ngộ, tu thành đạo quả, chứ không phải nghe, giảng để hiểu đạo.

Footer Page 21 of 166.

Footer Page 22 of 166.


Header Page 23 of 166.

Phật giáo ra đời ở xã hội ấn độ cổ đại cách đây hơn 2500 năm và được truyền bá
ra nhiều nước trên thế giới. ở mỗi nước, khi được du nhập vào, Phật giáo lại có sự cải
biến cho phù hợp với tập tục của từng địa phương, từng dân tộc và mang những sắc thái
khác nhau. Với tính cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, ý thức tôn giáo
trong đó có Phật giáo phụ thuộc vào tồn tại xã hội. ở ấn độ hiện nay Phật giáo tuy không
còn chiếm số đông, nhưng những người có kiến thức đều tự hào về giáo lý nhà phật chính
là ở tính triết lý sâu sắc. Trên thế giới cũng vậy, khi đã nói đến lý thuyết sâu sắc của xã
hội ấn độ thì người ta không thể không nói đến Phật giáo.
ở Việt Nam hơn 2000 năm nay, Phật giáo tuy có lúc thịnh suy, nhưng trên thực
tế đã luôn gắn bó với truyền thống dân tộc. Phật giáo phát triển qua các thời kỳ Đinh, Lê,
hưng thịnh và đạt đến đỉnh cao dưới thời Lý, Trần, đã góp phần ổn định, bảo vệ chế độ
phong kiến tập quyền và đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn hóa Việt Nam. Nhân
sinh quan Phật giáo, nhất là đức từ - bi - hỷ - xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tâm
linh, hướng con người vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức. Hiện nay, tuy
không còn là quốc giáo, song Phật giáo vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến sống tinh thần của
người Việt Nam.
"Phật giáo đến Việt Nam, gặp bối cảnh khác, nên suy tư và vận dụng giáo lý của
thiền sư cũng khác. Nếu không biết đổi khác, chỉ sống y khuôn với giáo lý nguyên thủy,
chắc chắn chúng ta sẽ không có những trang sử đẹp được mệnh danh là thời kỳ vàng son
của Phật giáo Lý Trần " [28, tr. 138].
Trong các tôn giáo được du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo được truyền bá vào rất
sớm sau Nho giáo. Ngay từ năm đầu công nguyên - thế kỷ I người Giao Châu đã tiếp xúc
với Phật giáo từ Tây Vực truyền sang - thời kỳ này nước ta đang nằm dưới ách thống trị
của nhà Hán. Các nhà nghiên cứu đều có chung ý kiến thống nhất cho rằng, Phật giáo
được truyền vào Việt Nam bằng hai con đường. Thứ nhất, từ ấn Độ sang theo đường

phong tục tập quán, cũng như điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam vào lúc bấy giờ.
Trước hết, đó là sự kết hợp hai dòng tín ngưỡng: Tín ngưỡng bản địa và tín ngưỡng Phật
giáo ấn Độ.
Từ thế kỷ thứ VI, ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc đối với Việt Nam dần
dần chiếm ưu thế, trong khi đó ảnh hưởng của Phật giáo ấn Độ có xu hướng giảm dần.
Trong đó, đáng chú ý là có một số dòng thiền Trung Quốc du nhập vào Việt Nam. Dòng
thiền thứ nhất do Tỳ Ni Đa Lưu Chi - tổ thứ ba của phái Thiền tông Trung Quốc đã sang
Việt Nam cuối thế kỷ VI (580), tu tại chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), trở thành vị sư tổ của

Footer Page 24 of 166.


Header Page 25 of 166.

phái thiền mang tên ông ở Việt Nam. Dòng thiền này truyền được cả thảy 19 thế hệ. Pháp
Hiền là người nối pháp của Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Người cuối cùng của dòng Thiền này là
Thiền sư Y Sơn. Lưu Chi đã góp phần đào tạo nên các thế hệ nhà sư Việt Nam có quan
niệm mới về đạo Phật cùng phương pháp tu tập cũng có khác trước. Đặc trưng nổi bật
của dòng thiền này là quan niệm mới về tâm Phật là cái không có trong thực tế, khó hình
dung trong tư duy, khó nắm bắt trong nhận thức, một cái gì đó gần với cảnh giới Niết
bàn. Phật giáo đã vắng bóng thần linh. Phương pháp tu tập cũng có những nét mới như
chủ trương nghiêng về tu tập thiền định làm cho trí tuệ bừng sáng để đạt đến cảnh giới
giác ngộ.
Năm 820, một phái Thiền khác do thiền sư Vô Ngôn Thông (Bất Ngữ Thông)
truyền bá vào nước ta. Dòng Thiền này tồn tại và phát triển cho đến thời Trần. Tư tưởng
chủ yếu của phái này là không dựa vào văn tự, thuyết giáo, gạt bỏ sự tu khổ hạnh lâu
ngày v.v... theo truyền thống "Bất lập văn tự; Giáo ngoại biệt truyền; Trực chỉ nhân tâm;
Kiến tính thành Phật" của Thiền tông Trung Quốc.
Dưới thời kỳ Bắc thuộc, hai phái thiền Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông
cùng tồn tại và phát triển song song và về cơ bản vẫn là hai phái thiền riêng biệt, chưa chịu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status