Tiểu luận phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người việt nam - Pdf 24

Tiểu luận
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo
đến đời sống tinh thần của người Việt
Nam Mục lục

Chương 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
1.3 Phương pháp nghiên cứu 1
Chương 2: SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO 2
2.1 Sự ra đời của Phật Giáo 2
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật Giáo 2
2.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca 3
2.1.3 Sự truyền bá Đạo Phật vào Việt Nam 3
2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật Giáo 4
2.2.1 Quan Điểm của Phật Giáo về thế giới Quan 4
2.2.2 Tư tưởng Phật Giáo về nhân sinh quan 6
Chương 3: ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
TINH THẦN CỦA VIỆT NAM. 16
3.1 Ảnh hưởng của Phật Giáo về mặt tư tưởng và đạo lý 16
3.1.1 Ảnh hưởng của Phật Giáo về tư tưởng 16
3.1.2 Ảnh hưởng của Phật Giáo về đạo lý 17
3.2 Ảnh hưởng Phật Giáo qua quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam
18

Giáo, ảnh hưởng của Phật Giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt Nam.
Phạm vi ngiên cứu: chỉ nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Phật
Giáo và ảnh hưởng của Phật Giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt
Nam.
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cúu tiểu luận là phương pháp tổng hợp các
phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc
biệt là logic phân tích, tổng hợp gắn với lí luận thực tiễn để thực hiện đề tài.
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 2

Chương 2: SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG
TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO
2.1 Sự ra đời của Phật Giáo
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật Giáo
Điều kiện thiên nhiên ở Ấn Độ rất phức tạp, địa hình đa dạng, khắc
nghiệt của tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống
và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người dân Ấn Độ cổ.
Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xã hội rất sớm, khoảng thế kỉ thứ XXV
trước công nguyên đã xuất hiện nền văn minh đầu tiên là nền văn minh sông
Ấn. Đến thế kỉ thứ XV trước công nguyên , có sự xâm nhập của người Arya
vào khu vực của người bản địa (người Dravida) hình thành nên các quốc gia
Ấn Độ tạo nên nền văn hóa mới gọi là nền văn hóa Véda.
Đặc diểm nổi bật của nền kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ là sự tồn tại rất
sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”,
đặc trưng của kết cấu này là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước của
các Đế Vương, mà gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của người dân trong
công xã. Xã hội thời kì này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: Tăng lữ,
quý tộc, bình dân tự do và nô lệ cung đình. Sự phân chia đẳng cấp đó là cho

Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt Giáo lí khắp nước Ấn Độ.
Năm ông 80 tuổi thì qua đời, ông để lại cho nhân lọai những tư tưởng triết
học Phật Giáo vô cùng quý báu.
2.1.3 Sự truyền bá Đạo Phật vào Việt Nam
Việc xá định niên đại Phật Giáo du nhập vào Việt Nam cho đến nay
vẫn chưa có đủ tư liệu đề biết chính xác. Sử liệu chỉ nói đến tình hình Phật
Giáo nước ta từ thế kỉ thứ II sau công nguyên, lúc bấy giờ trung tâm Phật
Giáo ở Luy Lâu ( vùng Dâu-Thuận Thành- Hà Bắc) đã khá thịnh đạt. Điều đó
khiến ta có thể suy đoán rằng Phật Giáo từ phía Nam Ấn Độ qua đường biển
vào Việt Nam khỏang thế kí thứ I sau công nguyên. Các vị sư đầu tiên là
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 4

người Ấn Độ, nhưng về sau lại thấy xuất hiện tên hiệu vị sư Trung Á và
Trung Hoa. Có thể nói rằng, ngay từ thời rất xưa Việt nam đã đựơc cao tăng
Ấn Độ đến để truyền Giáo trực tiếp. Trải qua các triều đại từ Đinh, Lê, Lý,
Trần… Đặc biệt là dưới 2 triều đại Lý và Trần, Phật Giáo đã để lại dấu ấn một
thời vàng son. Từ thế kỉ thứ XIII tuy Phật Giáo không còn là quốc Giáo
nhưng có sự kết hợp hài hòa với tinh thần “Tam Đạo Đồng Đường” đã tạo
cho Phật Giáo một nét mới, vẫn để lại nhiều dấu ấn trong tâm hồn, tình cảm,
phong tục tập quán và cảnh quan của dân tộc Việt Nam.
2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật Giáo
Tư tưởng triết học Phật Giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được
viết thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “ Tam Tạng”, Gồm
3 Tạng kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận. Trong đó thể hiện
các quan điểm về thế giới và con người.
2.2.1 Quan Điểm của Phật Giáo về thế giới Quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật Giáo Được thể hiện tập trung ở
nội dung của 3 cặp phạm trù: Vô ngã, Vô thường và Duyên.

Phật Giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ
nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên. Trong đó
duyên là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả. Kết quả ấy lại nhờ
có duyên mà trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành
kết quả mới. Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật,
tuân theo quy luật Nhân-Quả: nhân là cái mầm, Qủa là cái hạt, cái trái do
mầm ấy phát sinh. Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào
nhau mà có. Nếu không có nhân thì không thể có quả, nếu hkông có quả thì
không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy. Nói cách khác nhân với quả
bao giờ cũng đồng một loại với nhau, hể nhân đổi thì quả đổi.
Một nhân không sinh ra quả, sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp
của nhiều nhân duyên. Cho nên không có nhân nào tự tạo thành quả được nếu
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 6

không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác, trong nhân có quả, trong quả có
nhân. Một sự vật mà ta gọi là quả là khi nó biến chuyển hình thành ra trạng
thái mà ta mong đợi, ước muốn. Mỗi vật vì thế điều có thể gọi là nhân hay là
quả đều được cả. Đối với quá khứ thì nó là quả, đối với tương lai thì nó là
nhân.
Sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, chứ không
phải bao giờ cũng diễn tiến trong một thời gian đồng nhất.
Tóm lại: Triết học Phật Giáo bát bỏ quan niệm duy tâm cho rằng thần
thánh sáng tạo ra con người và vũ trụ. Phật Giáo thừa nhận con người và sự
vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới
trong sự biến đổi không ngừng. Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế
giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng.
2.2.2 Tư tưởng Phật Giáo về nhân sinh quan
Quan điểm về nhân sinh quan của Phật Giáo bao gồm “Nghiệp”,

Đức Phật trong quá trình đi tìm con đương giải thóat, những kinh
nghiệm khổ đau của bản thân đã trải qua là những kinh nghiệm sâu sắc. Do đó
thuyết tứ diệu đế được xem như một quá trình biện chứng thực tại ngay đời
sống của người và cái đỉnh cao tận cùng ấy được Đức Phật giảng giải qua
dạng của tứ đế trên cơ sở tương quan nhân quả, đây chính là bằng chứng thực
tại mà Đức Phật đã đi qua. Vì thế nó không phải là mẫu thức lý tưởng, cũng
không phải là bản sao chép từ những ý nịêm.
Tứ Diệu Đế được Đức Phật giải minh thông qua bốn tiền đề triết học
cơ bản: Tri ân thực tại, sự chuyển hướng tư duy, sự chuyển hướng 2 chiều,
giải trình tư duy.
2.2.2.2.1 Khổ đế
Là thực trạng đau khổ của con người, triết lý về cuộc đời mỗi người là
một bể khổ, ràng buộc, hệ lụy, không tự do. Có tám cái khổ: Sinh, lão, bệnh ,
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 8

tử, thụ biệt khổ, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn, ta có thể chia thành ba phương
diện.
 Phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc,
đau đớn.
 Phương diện tâm lý: Là sư đau khổ do không vừa ý, không vừa
lòng… Tạo nên đau khổ. Những mất mát thua thiệt trong cuộc đời làm mình
khổ.
 Phương diện Phật học: Khổ là ngũ thụ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành
và thức). Khi ta bám víu vào năm yếu tố trên, coi đó là ta, là cùa ta, là tự ngã
của ta, thì sự khổ đau có mặt. Ý niệm về “thân thể của tôi”, “tình cảm tôi”,
“nhận thức của tôi”…hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ, từ đó mọi đau
khổ phát sinh đều gắn liền với ý niệm về cái tôi ấy.
Tóm lại: Cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức

buồn phiền luôn xuất hiện theo sau.
 Thức: Đây là yếu tố do Hành dẫn đến. Mang hàm nghĩa là thức
nối tiếp, thức tái sinh hay thức nhận biết.Khi chúng ta hành động không có
Chánh kiến sẽ dẫn đến những nhận biết sai lầm, để rồi chúng ta trở nên vô
minh nhiều hơn nữa.
 Danh sắc: Yếu tố do Thức dẫn đến. Danh Sắc hay còn được gọi
là tâm và thân. Khi sự thấu hiểu sai lệch được hình thành làm cho Tâm
(Danh) chúng ta có khuynh hướng lệ thuộc vào những quan kiến đó, khi đó
bản ngã sẽ xuất hiện. Cụm từ Danh Sắc bao hàm nên một con người.
 Lục Căn: Đây là yếu tố do Danh Sắc dẫn đến. Bao gồm có:
Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý và nó chỉ có khi con người tồn tại.
 Xúc: Yếu tố do Lục Căn dẫn đến. Bên cạnh lục căn gồm có Lục
Trần: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Cả hai Lục Căn và Lục Trần cấu tạo
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 10

nên Xúc của con người. Tiếp xúc thế giới xung quanh sinh ra các cơ quan
cảm giác.
 Thọ: Yếu Tố do Xúc dẫn đến. Thọ ta có thể hiểu nó chính là cảm
giác hạnh phúc, đau khổ hay không hạnh phúc, không đau khổ. Hiểu theo
nghĩa thô đó chính là sự nhận, thụ hưởng. Có nghĩa là khi mà Xúc phát xuất
thì Thọ cũng sẽ xảy ra cùng lúc.
 Ái: Yếu Tố do Thọ dẫn đến. Chỉ những dục vọng mong muốn,
yêu thích, thèm khát… Vì khi con người nhận được những xúc cảm bên ngoài
tác động vào, họ phát sinh nên tham ái đối với những đối tượng giác quan đó.
 Thủ: Yếu Tố do Ái dẫn đến. Chỉ sự bám chặt, bám víu, thủ
chấp…. Mang nghĩa gần giống với Luyến. Đây là yếu tố dẫn con người đi
trong vòng luân hồi mãi mãi. Do chúng ta bám chấp vào đời sống.
 Hữu: Yếu tố do Thủ dẫn đến. Đây chỉ về Nghiệp gồm có quá

Tóm lại: Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không
là do lòng mình. Hay nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với
cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỹ
hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc
hạnh phúc.
2.2.2.2.3 Diệt đế
Phật Giáo cho rằng mỗi nỗi khổ có thể tiêu diệt được để đạt đến trang
thái niết bàn có ngã là hạnh phúc, an lạc. Đạo Phật quan niệm rằng, nguyên
nhân khổ là do sự vận hành của thập nhị nhân duyên, trong đó gốc rễ sâu xa là
sự vô minh. Vậy muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự vận động của 12 nhân
duyên, bắt đầu tư diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí tuệ bừng sáng, hiểu rõ
được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ và con người, không còn tham
dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân
hồi sinh tử. Nói cách khác, diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ
uẩn dừng lại, tu đến Niết bàn, tịch diệt, khi ấy mới hết luân hồi sinh tử.
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 12

Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái,
chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở
nên thanh thản, đầu óc tĩnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản
hơn, rộng lượng hơn. Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí
không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị nung núng bởi
các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng sợ hải mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và sáng
suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn,
thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn với mọi người xung
quanh rộng lượng và bao dung hơn. Tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham,
vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến
mức độ ấy.

yếu kém của bản thân và ý mình, là suy luận chân chính.
 Chính định: Sự tập chung tâm trí và con đường chân chính,
không để bẩt cứ điều gì lay chuyển, làm thoái trí, phân tâm.
Trong bát chính đạo thì chính kiến, chính tư duy thuộc về trí tuệ;
chính ngữ, chinh nghiệp, chính mệnh thuộc về giới luật; chính tinh tiến, chính
niệm, chính định thuộc về định.
Thế giới hiện nay đang từng bước phát triển, đi vào đa phương hóa
toàn diện. Nhiều học thuyết, lý thuyết triết học, đạo học đang được tái thẩm
định để tìm ra những giá trị ứng dụng cho nền văn minh hiện đại. Nếu phải
tìm ra phạm trù đạo đức chung để xây dựng và góp phần ổn định mọi rối lọan
trong cuộc sống nhân sinh thì Bát chính đạo là định hướng cho đời sống cá
nhân, gia đình và xã hội. Chừng nào con người còn đau khổ thì bát chính đạo
vẫn còn là kim chỉ nam hướng dẫn mọi hành vi, lời nói và tư tưởng. Chừng
nào mọi quốc gia trên thế giới còn mong muốn đem lại an lạc cho nhân loại
chừng đó Bát chính đạo vẫn là đóng góp của Phật Giáo vào tiếng nói chung
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 14

của nhân loại trên tiến trình hòa bình thế giới. Có thể khẳng định giá trị của
Bát chính đạo như một bản đồ tu tập cho mọi người ở mọi thời dại.
2.2.2.2.5 Ngũ giới
Phật Giáo còn đưa ra năm điều răn để mọi người chủ động thực hiện
nhằm đem lại lợi ích cho mình và mọi người, gọi là ngũ giới. Ngũ giới là năm
điều kính mà đức Phật đưa ra nhằm để ngăn cản những tường niệm ác, nói
năng chẳng lành, hành động bất chính. Năm điều răn ấy là: không sát sinh,
không trộm cướp, không được tà dâm, không được nói dối, không được uống
rượu.
Năm điều răn này dựa trên tâm niệm từ bi bác ái, bình đẳng trên
phương diện từ bỏ tội lỗi cái nhân và đem lại trật tự, an vui cho xã hội mà

Ngũ giới là hạ phẩm giới, là nền tảng của các giới, chúng ta thấy công
cụ thiết thực và lợi ích của năm giới đối với cá nhân và đoàn thể. Nhưng năm
giới nói trên không có gì là cao siêu huyền bí, đó là một học công thông
thường mà bất cứ quốc gia nào, xã hội nào muốn phồn vinh, hưng thịnh cũng
không thẻ bỏ sót được. Một xã hội mà mọi phần tử đều thực hiện được năm
giới ấy thì đó là một xã hội gương mẫu và văn minh nhất thế giới. Cho nên
năm điều ấy không phải chỉ để áp dụng riêng cho giới Phật tử, mà còn dùng
chung cho tất những ai muốn sống một cuộc sống lành mạnh, an vui, có lễ
nghĩa, tiến bộ.

Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 16 Chương 3: ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH
THẦN CỦA VIỆT NAM.
3.1 Ảnh hưởng của Phật Giáo về mặt tư tưởng và đạo lý
3.1.1 Ảnh hưởng của Phật Giáo về tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ
Diệu, Đế và Bát Chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng các tông phái Phật
Giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt.
Về Giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo đã được truyền vào nước ta
rất sớm, giáo lý này đương nhiên đã trở thành nếp sống hết sức sáng tỏ đối
với người Việt Nam có hiểu biết, cớ suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn ở
hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp
báo, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh hưởng đến giới
trí thức. Có thể nói mọi người dân Việt Nam đều ảnh hưởng ít nhiều qua Giáo
lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn chương
bình dân, trong văn họ chữ nôm, chữ hán, từ xưa cho đến đã dẫn dắt từng thế

hay
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Đó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng
đều thấm nhuần và thuộc nằm lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc
Việt Nam.
Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo
lý khác của đạo Phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc
gia và ân chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp
với sự phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. tình thương ở mọi
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 18

người bắt đầu từ thân đến, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình
thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương đất
nứơc và mở rộng đến quê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân lọai trên
vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh
hương rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt. Bởi Phật Giáo
đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền
thống của dân tộc Việt.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối
tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân, chúng
sanh, vũ trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa.
Đạo lý Tứ Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho
ta sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến tới hạnh phúc chân thực và
miên trường. Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật Giáo
Việt Nam hình thành được bản sắc đặc thù rất riêng biệt của nó tại Việt Nam
góp phần làm phong phú và đa dạng nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt.
3.2 Ảnh hưởng Phật Giáo qua quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam

bên trái và Khổng Tử bên phải đã in sâu vào tâm thức của người dân Việt.
 Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị xă
hội: Phật Giáo tuy là một tôn Giáo xuất thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có
chủ trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời
Đinh, Lê, Lư, Trần. Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới
hạnh điều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc
quan trọng của quốc gia. ta thấy có nhiều lý do khiến các thần sư Việt Nam
tham gia vào chính sự, thứ nhất: họ là những người có học, có ư thức về quốc
gia, sống gần gũi nên thấu hiểu được nỗi đau khổ của một dân tộc bị nhiều
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 20

cuộc đô hộ của ngoại bang. Thứ hai: các thiên sư không có ư tranh ngôi vị
ngoài đời nên đựoc các vua tin tưởng và thứ ba: các thiên sư không cố chấp
vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nho gia nên họ có
thể cộng tác với bất cứ vị vua nào đem lại hạnh phúc cho dân chúng.
3.2.2 Ảnh hưởng Phật Giáo qua phong tục, tập quán
 Ảnh hưởng của Phật Giáo qua tập tục ăn chay, phóng sanh, bố
thí:
Về ăn chay, hầu như đông đảo người Việt Nam từ xưa đến nay đều
chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạc xuất phát từ qua
niệm từ bi của Phật Giáo. Đạo Phật không muốn sát sinh hại vật, mà trái lại
phải thương yêu mọi loài. Số ngày ăn chay tuy có khác nhau trong từng tháng,
nhưng cùng giống nhau ở quan điểm Từ Bi, Hỉ Xả của Đạo Phật. Ăn chay và
thờ Phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam.
Cùng với tục thờ Phật, tục thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam có từ
lâu đời. Tục này xuất phát từ òng hiếu kính đối với ông bà, cha mẹ, tổ tiên.
Tín ngưỡng này được một số bình dân nhập làm một với Đạo Phật, Phật Giáo
có nhiều kinh đề cập đến vấn đề này như: Kinh Vu Lan, kinh Báo Phụ Mẫu

đă chịu nhiều tác động của trào lưu văn hóa khác nhau. nhất là từ Trung
Quốc. Trong đó Phật Giáo dự phần quan trọng trong việc định hình và duy trì
không ít các tập tục dân gian mà chúng ta thấy vẫn c
̣
òn tồn tại cho tới ngày
nay.
3.2.3 Ảnh hưởng của Phật Giáo qua các loại hình văn hóa nghệ thuật
 Ảnh hưởng của Phật Giáo qua ca dao thơ ca:
Tư tưởng đạo lư của Phật Giáo cũng thường được ông cha ta đề cập
đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở,
khuyên răng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống an vui, phù hợp
với truyền thống đại đức của dân tộc Việt Nam. Quan niệm đạo Phật là đạo
hiếu, lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy
tư in đậm trong lòng của người dân Việt Nam, và đã thể hiện linh động và
triền miên ngang qua ca dao dân ca:
Phật giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Page 22

“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Triết lý Phật Giáo còn ảnh hưởng rất rõ nét trong lĩnh vực thơ, văn
thông các đại thi hào dân tộc: Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều qua các tác
phẩm: Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Thì đừng trách lẫn trời gần trời xa”
 Phật Giáo thể hiện qua nghệ thuật sân khấu: Tính triết lý "Nhân
quả báo ứng" của Phật Giáo đóng vai trò qua trọng trong các bài ca tuồng, vở
diễn phù hợp với đạo lý phương Đông và nếp sống truyền thống của dân tộc.
Nghệ thuật sân khấu: hát bội, hát chèo ở đồng bằng Bắc Bộ và cải lương ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status