Tiểu luận pháp gia và ảnh hưởng của pháp gia trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền việt nam - Pdf 19

Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Khoa Ngân Hàng – Phòng Sau Đại Học
Lớp Cao Học UEH_K21_Ngày 2
o0o
Đề tài:

PHÁP GIA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
PHÁP GIA TRONG VIỆC XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM



2. Sự kết hợp giữa Nho – Lão – Pháp 11

III. Chương III - Ảnh hưởng của Pháp Gia trong việc xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam 13

1. Giá trị còn mãi của Pháp Gia 13

2. Ứng dụng Pháp Gia vào Việt Nam 14

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH THUYẾT PHÁP TRỊ
1. 03 CƠ SỞ HÌNH THÀNH THUYẾT PHÁP TRỊ
a. Thừa nhận: “Nhân chi sơ tính bổn ác”
- Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ nhà Hạ (2.205 – 1.766TCN) đến
Thương (1.766 – 1.123TCN) rồi đến Chu (1.123 – 256TCN)… Người
thầy đề xuất ra Nho Gia là Khổng Tử (551 – 479TCN). Khổng Tử có
nói một câu: “Tính Tương Cận – Tập Tương Viễn”. Nghĩa là con người
ta, khi sinh ra, đấng tạo hóa đã ban cho mọi người tính chất, tính nết,
bản chất gần giống như nhau, gọi là “tính tương cận”; nhưng tùy theo
môi trường sống, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự giáo dục và các mối
quan hệ giữa con người với nhau, mà mọi người sẽ có tính tình, tính nết
ngày càng khác nhau, không giống như lúc đầu nữa, gọi là “tập tương
viễn”. Như vậy, Khổng Tử nói nhân tính của con người ban đầu gần
giống như nhau, nhưng Khổng Tử không nói nhân tính đó là Thiện hay
Ác. Còn chủ trương của Khổng Tử trong việc điều tiết xã hội đó là dùng
Lễ, tức là dùng đạo đức, lễ giáo,… để điều tiết xã hội.
- M ạnh Tử (371? – 289?TCN) là hậu nhân của Khổng Tử, cũng theo
phái Nho Gia. Mạnh Tử liên quan Khổng Tử qua việc ông theo học một
đệ tử của Tử Tư, mà Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử. M ạnh Tử có tư
tưởng lý tưởng hóa Nho Gia. Ông phát triển “Tính Tương Cận” của

chưa thuyết phục lắm, xin mời xem ví dụ thứ hai)
ii. Lại một đứa khác, lớn hơn, đang ăn một cây kem, nếu có đứa khác
giành với nó, cướp của nó, nó sẽ khóc la, đòi người lớn lại bênh vực nó,
nếu không, nó sẽ nằm vạ, kêu gào, tru tréo… Hàn Phi cho như vậy là ác.
Nhưng khi mẹ nó đến, mẹ nó dạy nó rằng: “Này con, con phải biết chia
sẽ, con phải biết thương người, thằng bé kia khổ quá, nghèo quá mới ăn
giựt của con, con phải biết chia sẽ với người khác…”. Sau khi nghe mẹ
nó giáo huấn, nó sẽ dần dần thiện ra. Như vậy, theo Hàn Phi, Thiện là
do giáo dục mà nên, còn bản chất vẫn là ác.
iii. Từ xưa đến nay, chỉ nghe người ta dùng từ hướng thiện. Chẳng hạn
như: “Tôi đang hướng thiện”. Chưa bao giờ nghe người ta dùng từ
hướng ác. Tại vì sao? Tại vì loài người bản chất là ác nên mới Hướng
Thiện. Chứ nếu Thiện rồi thì Hướng Thiện làm gì nữa?
iv. Mẹ già như chuối chín cây. Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi… Vậy
thương mẹ hay thương mình? Chúng ta chịu khó suy nghĩ lại một lần
nữa, xem là thương mẹ hay thương mình? Mồ côi tội lắm ai ơi. Đói cơm
khát nước biết người nào lo?
Còn nữa, khi một người thân, một người bạn, một người tri kỉ của ta qua
đời, ta khóc, ta thật sự thương bạn hay ta đang khóc vì thương mình?
Khi bạn còn sống, ta có người chia buồn. Mỗi lúc ta thất vọng, đau khổ,
có người cùng ta nhấp chén rượu, chia điếu thuốc, sớt ly cà phê, nay bạn
đi rồi, ta khóc thương bạn hay khóc thân ta giờ đây cô quạnh, không còn
ai chịu lắng nghe nỗi khổ của ta?
Người về âm cảnh thân thơi thới. Kẻ ở dương gian dạ ngậm ngùi. Người
về âm cảnh đương nhiên là thân thơi thới rồi, chết là thoát khổ, thoát
khỏi bát khổ: sinh, lão, bệnh, tử, sở cầu bất đắc, thọ biệt li, oán tăng hội,
ngủ thụ uẩn… Nhưng người chết vẫn còn ác, chết rồi vẫn ác, chết là
thoát khổ, chết là sướng, nhưng sướng mà sợ người trên dương thế biết
mình sướng nó chết theo, ta sướng nhưng ta không cho người khác biết
ta sướng, cho nên ta sướng ta cười, mà không dám cười lớn, sợ nó nghe,

xã hội. Hàn Phi yêu cầu con người phải nắm lấy cái lý của vạn vật luôn
biến hóa mà hành động cho phù hợp.
c. Xã hội luôn luôn vận động, biến đổi, muốn tồn tại và phát triển thì
phải tuân theo quy luật chung
- Các triết gia thường viện dẫn uy quyền cổ nhân làm căn cứ chứng
minh học thuyết của mình. Như Khổng Tử viện dẫn Văn Vương và Chu
Công. Mặc Tử viện dẫn Vua Vũ đời Hạ còn xa xưa hơn Văn Vương,
Chu Công một ngàn năm. Mạnh Tử còn viện dẫn người còn cổ xưa hơn
cả Mặc Tử nữa đó là Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Rồi kinh khủng hơn, Nho
Gia và Mặc Gia sau này còn viện dẫn cả ông tằng ông tổ nữa đó là Phục
Hi và Thần Nông.
- Như vậy nhìn ngược vào quá khứ, các triết gia này đã tạo ra một sử
quan thoái hóa. Bởi vì họ nhất trí rằng thời hoàng kim của con người là
ở quá khứ chứ không phải ở tương lai. Họ nhất trí rằng muốn cứu vớt
nhân loại thì đừng sáng tân mà hãy phục cổ. Nho Gia chủ trương cai trị
con người bằng lễ giáo và đạo đức của người xưa. Mặc Gia chủ trương
kiêm ái. Đạo Gia chủ trương xây dựng nước nhỏ, không giao ban các
nước khác, sống thuần phác tự nhiên như cổ nhân. Duy chỉ có Pháp Gia
có tư tưởng lịch sử tới đâu, tư duy tới đó. Nghĩa là hoàn cảnh đã thay
đổi, phải có phương pháp mới để cai trị con người, chứ không nói lý
thuyết suông như Nho Gia, không tư duy thoái hóa như Đạo Gia được.
- Xã hội luôn luôn vận động, biến đổi, cái cũ không còn phù hợp nữa
đương nhiên sẽ có cái mới ra đời thay thế nó. Khi Nho Gia tồn tại và tất
yếu, nó đã trở thành hiện thực và vì thế nó hợp lý. Khi xã hội thay đổi,
sự phân hóa ngày càng sâu sắc, thì Nho Gia đã mất đi tính tất yếu của
mình, vì thế nó không còn là hiện thực và hợp lý nữa. Pháp Gia ra đời,
tồn tại và tất yếu, đương nhiên Pháp Gia trở thành hiện thực và hợp lý.
Minh chứng hùng hồn nhất là Tần Thủy Hoàng dùng Pháp Gia trị quốc
và bình định được thiên hạ. Tạo nên dấu ấn vĩ đại trong lịch sử Trung
Quốc.

cách rõ ràng, phải chỉ cho dân biết rõ Pháp rồi mới thi hành, và khi thi
hành phải giữ cho được lòng tin với dân. Như vậy, có thể coi Quản
Trọng là người khởi xướng Pháp Gia.
- Quản Trọng tên thật là Quản Di Ngô, phò công tử Củ, sau này phò
công tử Tiểu Bạch làm vua nước Tề. Tiểu Bạch là Tề Hoàn Công.
b. Thân Bất Hại (401 – 337TCN): Thân Bất Hại là tướng quốc của nước
Hàn, chủ trương dùng Thuật.
c. Thương Ưởng (390 – 338TCN): Thương Ưởng còn gọi là Thương
Quân, hay Vệ Ưởng, làm Thừa Tướng của nước Tần, cũng chủ trương
dùng Pháp. Có người nói Thương Ưởng học theo Quản Trọng. Tất nhiên
Thương Ưởng cũng có những nét riêng của mình. Ngoài ra Thương
Ưởng còn chịu ảnh hưởng của Lý Khôi, Ngô Khởi.
d. Thận Đáo (370 – 290TCN): Thận Đáo chủ trương dùng Thế.
e. Hàn Phi Tử (280 – 233TCN): Hàn Phi Tử chủ trương kết hợp cả Thuật
- Thế - Pháp; đồng thời Hàn Phi Tử còn kết hợp cả Nho – Lão – Pháp lại
với nhau, trong đó, Nho Gia là “vật liệu để xây dựng xã hội”, Đạo Gia là
“kĩ thuật thi công”, còn Pháp Gia là “bản thiết kế”. Vì vậy, Hàn Phi Tử
đương nhiên trở thành người tập đại thành của Pháp Gia, ông là Pháp
Gia cuối cùng và cũng là Pháp Gia vĩ đại nhất.
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CHÍNH
1. SỰ KẾT HỢP GIỮA PHÁP – THẾ - THUẬT
- Phép trị quốc của Hàn Phi Tử là một học thuyết có nội dung hoàn chỉnh
được tổng hợp từ Pháp – Thế – Thuật; trong đó, Pháp là nội dung chính của
chính sách cai trị, Thế và Thuật là phương tiện để thực hiến chính sách đó.
Cả Pháp – Thế – Thuật đều là công cụ trị nước của bậc đế vương.
Ba thuyết Pháp – Thế – Thuật của Pháp Gia liên quan chặt chẽ với nhau,
chống đỡ lẫn nhau, có cái Thế mới thi hành được Pháp – Thuật, mà có Pháp
– Thuật mới giữ vững được Thế, hễ thiếu một là sụp đỗ hết. Vì vậy mà khi
xét đến một trong ba cái đó, phải nhắc tới hai cái kia, không thể tách rời hẳn
ra được.

thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị chia cắt. Cho nên thánh
nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi, cấm lệnh cùng với đời
mà biến.
+ Pháp luật phải soạn sao cho dân hiểu, thống nhất, cố định, dễ thi
hành:
- “Thống nhất” nghĩa là pháp luật phải quy định cho cả nước theo, chứ
nếu mỗi miền có luật lệ cấm lệnh riêng thì dân miền này qua miền khác,
cứ tưởng luật lệ như miền mình mà vô tình phạm pháp.
- “Thống nhất” còn có nghĩa là khi ban bố pháp lệnh mới thì phải bỏ
pháp lệnh cũ, tránh được kẻ gian lợi dụng tình trạng mập mờ mà theo
pháp lệnh có lợi cho mình.
- “Cố định” nghĩa là không được thay đổi hoài. Đã thưởng thì không đổi
ý, đã phạt thì không ân xá.
- “Dễ thi hành” nghĩa là pháp luật phải minh bạch, mọi người đều hiểu
như nhau; nếu quá tỉnh lược, mỗi người hiểu một cách thì sinh ra nhiều
tranh tụng, kẻ gian lợi dụng làm bậy.
+ Pháp luật phải công bằng, binh vực kẻ yếu, số ít, như vậy mới có trật
tự trong nước được:
- Pháp luật phải nghiêm minh, công bằng. Không để kẻ mạnh lấn kẻ yếu,
đám đông không hiếp đáp số ít, người già hưởng tuổi trời, con nít côi cút
được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm…
- Thời Xuân Thu, hình phạt là dành cho dân đen, còn lễ dành cho quý
tộc. Chủ trương của Nho Gia là áp dụng lễ cho tất cả các hạng người.
Còn chủ trương của Pháp Gia là muốn dùng pháp luật để trừ các đặc
quyền đó của quý tộc, kéo họ xuống ngang hàng với bình dân. Đây có
thể xem là tiến bộ của Hàn Phi và Thương Ưởng.
- Nhưng hạn chế của Pháp Gia là chỉ muốn công bằng mà không muốn
có tình thương; pháp luật cứng nhắc, nghiêm minh, không ban ân huệ,
không bố thí, xem dân là ác, là tàn bạo dã man, phải dùng pháp nghiêm
minh cai trị. Câu hỏi đặt ra là liệu thiếu tình thương thì xã hội có công

bỏ quyền thế thì nước loạn.
- Vì trọng sự cưỡng chế, nên Pháp Gia chủ trương:
+ Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người
là vua.
+ Vua phải được tôn kính, tuân theo triệt để: dân không được quyền làm
cách mạng, không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết
tức không trung; hơn nữa, dù vua có nhường ngôi cho cũng không được
nhận.
+ Hai quyền bính ở trong tay nhà vua: Hai quyền bính chính là “thưởng’
và ‘phạt”. Muốn cho nước trị vua chỉ cần dùng thưởng phạt chứ không
cần dùng giáo hóa, lễ nhạc. Đây là điểm trái hẳn với Nho Gia. Nho Gia
dùng đức giáo hóa dân, kẻ nào không thể cảm hóa được thì bất đắc dĩ
mới dùng đến hình phạt.
- Vì Pháp Gia cho sự thưởng phạt là cách tốt nhất để trị dân, nên ta để
riêng một mục bàn về thưởng phạt của Hàn Phi.
“Thưởng Phạt” hay “Củ Cà Rốt và Cây Gậy”:
+ Hàn Phi cho rằng trừ một số ít siêu nhân, còn thì hầu hết loài người có
nhiều tât xấu tham lợi, tranh giành nhau, làm biếng, chỉ sợ sức mạnh nên
không mong gì họ làm điều thiện được, chỉ cầu sao họ biết sợ mà không
làm điều ác thôi, vậy phải dùng chính sách cưỡng chế chứ không cảm
hóa được. Tính người có ưa có ghét, ưa tư lợi, ưa được khen, ghét bị cực
khổ, ghét bị hình phạt, cho nên có thể dùng sự thưởng phạt để dẫn dắt
dân không làm bậy.
- Chính sách cảm hóa của Nho Gia tuy đẹp đấy, nghe hay đấy, nhưng
không thực tế, lâu có kết quả, nhân từ như vua Thuấn mà phải mất một
năm mới sửa được một tật của dân, ba năm được ba tật. Tuổi thọ vua thì
có hạn mà tật của dân thì vô hạn, đem cái hữu hạn để trừ cái vô hạn thì
trừ được bao nhiêu đâu? Nếu dùng sự thưởng phạt thì kết quả mau
chóng mà ông vua tầm thường nào cũng làm được. Hễ làm đúng pháp
thì được thưởng, làm trái pháp thì bị phạt. Sáng ban lệnh, chiều sự tình

giống như nanh và vuốt cọp, nanh và vuốt cọp làm cho chó khiếp sợ,
nếu cọp bỏ nanh và vuốt đi để cho chó dùng thì ngược lại nó phải khiếp
phục chó.
- Ví dụ 1: Tề Giản Công để quyền thi ân cho một đại phu là Điền
Thường dùng (Điền Thường được phép ban tước lộc cho quần thần) mà
rốt cuộc bị Điền Thường giết, rồi sau đó con cháu họ Điền cướp luôn
ngôi vua Tề.
- Ví dụ 2: Tử Hãn tâu với vua Tống: Khen thưởng và ban ơn là làm cho
dân thích, việc đó xin nhà vua đảm nhiệm lấy; chem giết, trừng phạt là
làm cho dân ghét, việc này thần xin đảm đương. Vua Tống cho là Tử
Hãn yêu mình, chịu nhận tiếng xấu thay mình, chấp nhận liền, từ đó hễ
có việc phải ban lệnh ra oai, trừng trị đại thần thì bảo: “Hãy hỏi Tử
Hãn”. Vì vậy mà đại thần đều sợ Tử Hãn, dân chúng đều theo Tử Hãn,
được một năm ông bị Tử Hãn giết rồi cướp ngôi.
Tuy nhiên: Nếu chỉ dùng “thưởng và phạt” hay “củ cà rốt và cây gậy” thì
chưa chắc trị được nước, vì con người còn biết trọng cái khác ngoài cái
lợi, biết sợ cái khác ngoài hình phạt, xã hội không phải là một chuồng
thú của một gánh xiếc để có thể chỉ dùng củ cà rốt và cây gậy là có thể
huấn luyện được.
c. Thuật: Thuật được hiểu là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược
khiển việc, khiến người ta triệt để thực hiện mệnh lệnh mà không hiểu
người sai dùng họ như thế nào. Thuật bao gồm ba mặt là bổ nhiệm, khảo
hạch và thưởng phạt. Hàn Phi Tử đòi hỏi vua phải dùng pháp như trời,
dùng thuật như quỷ. Và nếu pháp được công bố rộng rãi trong dân, thì
thuật là cơ trí ngầm, là thủ đoạn của vua được giấu kín. Nhờ thuật mà
vua chọn được người tài năng, trao đúng chức vụ quyền hạn, và loại
được kẻ bất tài.
- Chủ trương của Pháp Gia là bậc vua chúa có nhiệm vụ làm sao cho dân
theo đúng pháp luật, như vậy là nước trị. Công việc nhiều quá, vua
không thể làm hết được, phải giao cho quan lại, hễ quan lại tốt thì dân

“hình” có hợp với “danh” không?
+ Khi họ khen ai, chê ai thì phải xem xét người được khen có
thực tài hay không, người bị chê có tội lỗi hay không.
+ Các yêu sách của chư hầu hợp thì nghe, không hợp thì cự tuyệt.
- Một cách hay để tìm kẻ gian là khi có một việc xảy ra, hại cho nước
hoặc cho một người nào đó thì xét xem ai là kẻ có lợi.
+ Trần Nhu là bề tôi vua Ngụy. Nước Kinh đánh Ngụy, ông ta vì
vua Ngụy đứng ra hòa giải, rồi nhờ thế lực của Kinh mà ông ta
được làm tướng quốc Ngụy. Việc đó có lợi cho Trần Nhu, cho
nên ta biết được ông ta ngầm xúi Kinh đánh Ngụy.
- Muốn kiềm chế người có địa vị cao, trách nhiệm lớn ta phải lưu ý:
+ Nếu là người hiền, có thể bắt vợ con, thân thích của họ làm con
tin (Tào Tháo bắt cóc mẹ của Từ Nguyên Trực để buộc Từ
Nguyên Trực bỏ Lưu Huyền Đức mà đi theo Tào).
+ Nếu là kẻ tham lam thì cho họ tước lộc hậu hĩ như đã hứa với
họ để “an định” họ, tức mua chuột họ để họ khỏi làm phản.
+ Nếu là kẻ gian tà thì phải làm sao cho họ khốn khổ khốn nạn
bằng cách trừng phạt.
- Dùng những cách đó mà vẫn không cải hóa được thì trừ họ đi.
Muốn trừ họ mà không thương tổn danh tiếng của vua thì nên đầu
độc họ, hoặc dùng kẻ thù của họ để giết họ, như vậy là trừ gian một
cách kín đáo (Tào Tháo áp dụng mưu kế Tá Đao Sát Nhân, tức mượn
đao giết người, cụ thể là mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành để khỏi mang
tiếng bất nhân, giết hại người tài).
- Những hạng người không nên dùng:
+ Hạng người khinh tước lộc, dễ dàng bỏ chức vụ mà đi chọn vua
khác.
+ Hạng người lánh đời, ở ẩn, chê bai vua.
+ Hạng người đặt lời giả dối trái pháp luật.
+ Hạng người thi ân để thu phục kẻ dưới (lấy của công ra bố thí).

phải là hư ngôn.
+ Tham nghiệm:
- Tham nghiệm là khảo sát nhiều mặt để biết lòng bề tôi và để xem
lời nói của họ có giá trị hay không.
- Lại phải tham khảo ý kiến nhiều người để biết thực tình; nếu chỉ
nghe, tin một người thì sẽ bị bề tôi che lấp.
- Phải bắt kẻ bề tôi trình bày ý kiến, nghe hết thảy ý kiến từng người
một, mới phân biệt được ai trí ai ngu.
+ Thí chi quan chức: ba qui tắc giao chức
- Mới đầu hãy giao cho một việc nhỏ đã, rồi sau đó mới giao việc lớn
dần lên.
- Không cho kiêm nhiệm. Mỗi người chịu trách nhiệm về chức vụ
của mình. Không phải việc mình thì không được làm vượt chức cho
dù là có ích cho nước, vì sẽ vi phạm nguyên tắc “hình danh”.
- Đã giao việc cho người nào đó rồi thì đừng dùng một kẻ khác để
dòm ngó kẻ đó.
iii. Thuật vô vi:
- Vô vi của Hàn khác vô vi của Lão, của Khổng: Lão vô vi được là nhờ
theo tự nhiên, theo đạo, không can thiệp vào đời sống của dân; Khổng
vô vi được là nhờ có đức khéo cảm hóa dân, dùng lễ, nhạc, ít dùng hình
pháp; Hàn chỉ dùng hình pháp để trị dân, dùng thuật bắt dân cáo gian,
can thiệp vào đời sống của dân, nhất là dùng tâm thuật, phải tính toán lo
lắng nhiều, không tin cậy ai cả, có khi không dám ngủ chung với vợ con
nữa, lại phải giữ ý, dụng ý trong mỗi cử chỉ, lời nói, nét mặt… Như vậy,
Hàn chẳng những không phải là vô vi mà là cực hữu vi, đâu có ung
dung, nhàn tản như họ Khổng, họ Lão được.
2. SỰ KẾT HỢP GIỮA NHO – LÃO - PHÁP
a. Pháp và Nho:
- Các Pháp Gia từ Quản Trọng tới Thương Ưởng đã lần lần lấy pháp luật
thay cho lễ của Nho Gia. Có điều đáng lưu ý là Nho Gia tuy tôn quân,

b. Pháp và Đạo:
- “Vô vi nhi vô bất vi” (không làm gì, nhưng chẳng cái gì không làm
được) là tư tưởng của Đạo Gia, nhưng cũng là tư tưởng của Pháp Gia.
Hàn Phi và các Pháp Gia khác cho rằng cái đức lớn mà nhà vua cần có
là tùy thuận theo đạo vô vi. Vua chẳng nên đích thân làm việc gì hết, mà
nên để người khác thay vua làm tất cả mọi việc. Vua sở hữu các công cụ
và bộ máy, thông qua đó chính quyền được quyền được điều hành. Khi
có các thứ ấy, vua không làm gì hết mà chẳng có cái gì không được làm.
Đạo Gia và Pháp Gia biểu thị hai cực đoan của tư tưởng Trung Quốc.
Đạo Gia cho rằng con người ban sơ thì hoàn toàn chất phác; trái lại Pháp
Gia cho rằng bản chất con người là ác. Đạo Gia chủ trương tự do cá
nhân tuyệt đối, Pháp Gia chủ trương khống chế xã hội tuyệt đối. Tuy
nhiên, hai cực đoan này gặp nhau ở tư tưởng vô vi. Tức là ở đây, họ có
tư tưởng chung. (Mặc dù ở trên có phân tích, cái vô vi của Hàn Phi lại
hóa ra cực hữu vi – xin xem kỹ lại phần thuật vô vi)
- Đạo Gia phê bình Pháp Gia. Thuật cai trị của Pháp Gia đòi hỏi vua
phải công chính vô tư. Vua phải trừng phạt kẻ đáng bị trừng phạt, cho
dù đó là thân bằng quyến thuộc của vua; và vua phải khen thưởng kẻ
đáng được khen thưởng, cho dù đó là kẻ thù của vua. Nếu đôi lần vua
không làm được như vậy, thì toàn bộ cơ chế sụp đổ. Nhưng yêu cầu như
vậy là quá nhiều đối với một người có trị tuệ trung bình. Đáp ứng mọi
yêu cầu ấy chỉ có thánh nhân mà thôi.
CHƯƠNG 3. ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁP GIA TRONG VIỆC
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
1. GIÁ TRỊ CÒN MÃI CỦA PHÁP GIA
a. Mặt hạn chế: Tuy nhờ Pháp Gia mà nước Tần đã trở nên hùng cường
và thống nhất được Trung Quốc. Nhưng mặt hạn chế là Pháp Gia quá
nhấn mạnh biện pháp trừng phạt nặng nề, phủ nhận tình cảm đạo đức,
thủ tiêu văn hóa giáo dục… đi ngược lại xu hướng phát triển của văn
minh nhân loại. Vì vậy, do thực hành triệt để pháp trị mà nhà Tần đã

Phi, đối nội thì tổ chức ban mật vụ, đối ngoại thì dùng mưu mô lừa gạt,
nhưng ông hơn Hàn ở chỗ còn xét cả về phong tục, về các tổ chức cơ
quan hành chính.
- Nicolò Machiavelli có nhiều điểm giống Hàn hơn nữa: cũng phản cổ,
cho rằng tính dân vốn ác: tham lợi, sợ nguy, bạc bẽo; trị dân thì cần làm
cho dân sợ uy của mình, mọi việc phải quyết định lấy, phải quỉ quyệt,
bất chấp luân lí, trọng võ bị, nhưng ông ta khác Hàn ở chỗ trọng thương
(nước Ý thời đó giàu nhờ thương mại) và biết mua chuộc lòng dân.
- Cái tinh hoa của Pháp Gia là người sau giỏi hơn người trước,
trong khi các học phái khác thì ngược lại. Nho giáo là do Khổng Tử
sáng tạo ra, nhưng Khổng Tử đã leo lên đến tận đỉnh cao rồi, Nhan,
Tăng, Tư, Mạnh đều đi học Khổng Tử, học vấn của họ thấp hơn Khổng
Tử một bậc; Châu, Trình, Chu, Trương đều đi học Nhan, Tăng, Tư,
Mạnh, học vấn của những người sau này còn thấp hơn một bậc nữa,
càng theo càng thấp, nguyên nhân của nó chính là bản lĩnh của giáo chủ
quá lớn. Lão Tử trong Đạo Gia cũng thế. Thích Ca trong Phật Giáo càng
như thế, sẽ không có một hậu nhân nào giỏi hơn Phật Thích Ca, cho dù
là Thánh Gandhi cũng không thể giỏi hơn Phật Thích Ca. Nhưng khoa
học phương Tây là không như thế, khi phát minh ra còn rất thô thiển,
càng nghiên cứu thì càng tinh thâm. Người phát minh ra hơi nước, chỉ
biết được sự bốc hơi nước lên làm bậc cái nắp đậy nồi; người phát minh
ra điện chỉ biết được sự vận động của con ếch chết, nhưng khi người đời
sau tiếp tục nghiên cứu, chế tạo được biết bao các loại máy móc, với rất
nhiều công dụng mà người phát minh ra hơi nước và điện không thể nào
đoán trước được. Nicolas Copernic (1.473 – 1.543) đưa ra thuyết Nhật
Tâm, đệ tử của ông là Galileo Galilei (1.564 – 1.642) chế tạo ra kính
thiên văn để kiểm chứng học thuyết của thầy Nicolas Copernic. Pháp
Gia cũng cùng quy luật này, theo thứ tự Quản Trọng, Thân Bất Hại,
Thương Ưởng, Thận Đáo và cuối cùng, giỏi nhất là Hàn Phi Tử, rõ ràng
người sau hoàn thiện hơn người trước, Hàn Phi Tử giỏi nhất, vĩ đại nhất

góp phần làm cho xã hội văn minh, mang tính nhân văn hơn.
- Những kẻ phạm tội, nếu cải tạo tốt, biết ăn năng hối lỗi thì việc ân xá
cũng là việc tốt nên làm chứ không nên chỉ xem loài người là ác thú. Địa
phương cũng giúp họ hòa nhập cộng đồng, thể hiện chính sách khoan
hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà Nước Việt Nam ta.
- Nếu chỉ có cây gậy và củ cà rốt thôi thì chưa đủ. Vì dân ngoài ưa thích
cái lợi ra còn ưa thích những thứ khác, ngoài sợ hình phạt ra còn sợ
những thứ khác (về mặt tâm linh chẳng hạn).
- Thực hiện pháp luật phải chí công vô tư. Nếu chỉ một mình ông vua
nắm cả lập pháp, hành pháp, tư pháp; và ông vua phải chí công vô tư thì
cũng khó. Bởi ông vua dù sao cũng là con người. Con người thì dĩ nhiên
có yêu có ghét. Tất nhiên chí công vô tư là tốt. Chính Chủ Tịch Hồ Chí
Minh cũng dạy cán bộ phải chí công vô tư. Nhưng quyền lực tập trung
hết vào một người (thậm chí là một nhóm người) thì liệu có chí công vô
tư được không? Ngày nay, nhà nước ta phân định rõ lập pháp, hành
pháp, tư pháp thuộc về ai. Cho nên tạo điều kiện dễ dàng hơn để chí
công vô tư so với Pháp Gia là tam quyền chỉ thuộc về vua.
- Tùy thời mà pháp luật thay đổi. Hàn Phi cũng có quan điểm này và rõ
ràng là đúng như thế. Quốc Hội ta thường kì vẫn hợp để không ngừng
hoàn thiện hệ thống pháp luật.
- M uốn thực hiện pháp thì phải có cái thế. Cái thế thì dĩ nhiên Đảng và
Nhà Nước đã có.
- Thuật thì có kỹ thuật và tâm thuật. Tất nhiên ta không bê nguyên xi
học thuyết của Hàn Phi mà áp dụng. Ở đây có thể hiểu thuật là chính
sách tuyển dụng, đãi ngộ công chức nhà nước. Đảng và Nhà Nước ta
không ngừng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách này để có thể chọn
ra người vừa có tài vừa có đức lãnh đạo đất nước và thực thi pháp luật.
- Cuối cùng, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống
pháp luật để trị nước. Nó không phải là nguyên bản của Pháp Gia,
nhưng quy luật vận động và phát triển của xã hội thì phải đi đến chỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status