Download miễn phí Luận văn Ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh trong các sáng tác trước năm 1945
MỤC LỤC
A- PHẦN MỞ ĐẦU . 1
0.1. Lí do chọn đề tài . 5
0.2. Lịch sử vấn đề . 6
0.2.1. Khái quát tình hình nghiên cứu về Nhất Linh . 6
0.2.2. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh . 9
0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu . 10
0.4. Phương pháp nghiên cứu . 11
0.4.1. Phương pháp thống kê, phân loại . 11
0.4.2. Phương pháp so sánh . 11
0.4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp . 12
0.4.4. Phương pháp lịch sử . 12
0.4.5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành . 12
0.4.6. Phương pháp nghiên cứu tác giả . 12
0.4.7. Phương pháp hệ thống . 13
0.5. Mục đích nghiên cứu . 13
0.6. Đóng góp của luận văn . 13
0.7. Cấu trúc của luận văn . 13
B - NỘI DUNG . 15
Chương 1: GIỚI THUYẾT VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN CHI PHỐI NGÔN NGỮ NGHỆ
THUẬT CỦA NHẤT LINH . 15
1.1. GIỚI THUYẾT VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT . 15
1.1.1. Khái niệm "Ngôn ngữ nghệ thuật" . 15
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật . 16
1.2. NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÔN NGỮ
NGHỆ THUẬT CỦA NHẤT LINH . 19
1.2.1. Những biến đổi trong đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX . 19
1.2.1.1. Sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây . 19
1.2.1.2. Sự phổ biến và phát triển của chữ quốc ngữ . 21
1.2.1.3. Khát vọng xây dựng một nền quốc văn mới của tầng lớp trí
thức tân học đầu thế kỷ XX . 23
1.2.2. Hành trình đến với văn học của Nhất Linh . 28
1.2.2.1. Nhất Linh - người nghệ sĩ đa tài, say mê văn học . 28
1.2.2.2. Chuyến du học ở Pháp - Những thay đổi trong quan niệm
xã hội và văn chương của Nhất Linh . 31
1.2.2.3. Chủ trương “Tự sức mình làm ra những sáng tác có giá trị
về văn chương”, "làm giàu văn sản trong nước”. . 33
Chương 2: QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA NGÔN NGỮ
NGHỆ THUẬT NHẤT LINH TRưỚC VÀ SAU KHI
THAM GIA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN . 39
2.1. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NHẤT LINH TRưỚC KHI
THAM GIA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (TRONG "NHO PHONG" VÀ "NGưỜI QUAY TƠ") . 39
2.1.1. Ngôn ngữ trong "Nho phong" và "Người quay tơ "mang đậm
dấu ấn ngôn ngữ văn xuôi trung đại . 39
2.1.1.1. Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ văn xuôi trung đại . 39
2.1.1.2. Ngôn ngữ "Nho phong” và "Người quay tơ” mang đậm dấu
ấn ngôn ngữ văn xuôi trung đại . 41
2.1.2. Ngôn ngữ văn học của buổi giao thời . 48
2.1.2.1. Tính chất giao thời trong dùng từ, đặt câu . 48
2.1.2.2. Bước đầu có sự kết hợp giữa ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật . 51
2.1.2.3. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, chưa được cá tính hóa . 55
2.2. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NHẤT LINH TRONG GIAI ĐOẠN THAM GIA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN (TỪ "ĐOẠN TUYỆT" ĐẾN "BưỚM TRẮNG") . 57
2.2.1. Ngôn ngữ trong "Đoạn tuyệt" và "Lạnh lùng" – “một lối văn
giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối v ă n thật có tính cách An Nam" . 58
2.2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật giản dị, mạch lạc, trong sáng . 59
2.2.1.2. Ngôn ngữ miêu tả sinh động, tinh tế, giàu chất tạo hình . 66
2.2.1.3. Ngôn ngữ nhân vật bước đầu được cá tính hoá, phù hợp
tính cách nhân vật . 76
2.2.2. Ngôn ngữ trong "Đôi bạn" và "Bướm trắng" mang tính hướng
nội, đặc tả đời sống nội tâm nhân vật . 80
2.2.2.1. Ngôn ngữ kể chuyện nhập vào nội tâm nhân vật . 81
2.2.2.2. Ngôn ngữ miêu tả gắn với cảm xúc, tâm trạng nhân vật . 85
2.2.2.3. Ngôn ngữ nhân vật biểu hiện chiều sâu nội tâm . 88
Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC SẮC TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ
THUẬT CỦA NHẤT LINH . 100
3.1. TẠO SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA TẦNG LỚP THỊ DÂN TRUNG LưU .100
3.2. CÓ NHỮNG KẾT HỢP TỪ MỚI TẠO CẢM GIÁC ÊM ÁI NGỌT NGÀO .105
3.3. DÙNG NHIỀU TÍNH TỪ DIỄN TẢ NHỮNG CẢM GIÁC MONG MANH .108
3.4. NHỮNG SO SÁNH ĐẸP, BAY BỔNG, TINH TẾ VÀ GỢI CẢM .112
C - KẾT LUẬN . 121
PHỤ LỤC . 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO . 128
http://s1.liketly.com/flash/edoc/-images-nopreview.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41581/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
1. Ngôn ngữ trần thuật giản dị, mạch lạc, trong sáng
* Với quan điểm viết văn "giản dị, rõ ràng, nói sao, viết vậy, mà
viết cho có đầu có đuôi, hay ở chỗ gọn gàng lƣu loát", câu văn của Nhất
Linh trong Đoạn tuyệt và Lạnh lùng đã thoát hẳn đƣợc kiểu câu văn
dạng biền ngẫu dài lê thê, nặng nề, nhiều Hán tự, điển tích, điển cố hay
những từ khuôn sáo nhƣ trong Nho phong, Người quay tơ.
Kiểu câu đƣợc sử dụng chủ yếu trong các tác phẩm này là câu có
mệnh đề sáng rõ. Đây là một đoạn văn trong Đoạn tuyệt:
"Loan lại tìm đến phố Dũng ở. Vì hôm đó trời nắng ráo, nên dãy
nhà trông bớt vẻ tồi tàn. Loan tò mò nhìn vào trong mấy gian nhà tối
tăm, lạnh lẽo. Thấy từng gia đình lúc nhúc trong bóng tối, trong khi ở
ngoài trời nắng mới, ánh sáng rực rỡ phấp phới trên lá cây. Loan bùi
ngùi liên tưởng, nghĩ đến những người tự dấn thân vào một cuộc đời ảm
đạm, đi bên cạnh những sự vui sướng trời đã dành riêng cho mà vô tình
không biết. Rồi Loan nghĩ đến chính thân mình: đời nàng xoay về ngả
nào chỉ lát nữa nàng sẽ rõ; nàng đương ở một ngã ba, hiện giờ còn
lưỡng lự chưa biết bước theo con đường nào. Hai cảnh đời vẽ ra trước
mắt nàng, một cảnh đời nàng thấy lộng lẫy, nhưng chứa chất đầy những
sự nguy hiểm, nàng còn sợ chưa dám cả gan bước vào, và một cảnh đời
bằng phẳng đầy những sự tầm thường nhỏ mọn mà có lẽ là cảnh đời của
nàng về sau này" [8; 175/ 176].
Đoạn văn có sự kết hợp hài hoà giữa câu ngắn và câu dài, nội
dung đƣợc diễn đạt rõ ràng, trong sáng. Ở các câu dài nhiều mệnh đề
mối quan hệ giữa các vế câu rất rõ nhờ các liên từ. Không còn dạng câu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
biền ngẫu đăng đối, nhƣng Nhất Linh hay sử dụng kiểu câu dài, nhiều
mệnh đề để đi sâu phân tích lí giải tâm trạng nhân vật, tạo ra lời văn nhịp
nhàng, uyển chuyển phù hợp với tâm trạng con ngƣời. Có lẽ vì thế mà
nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã nhận xét "lời văn của ông lại nửa giản
dị, nửa đài điếm".
Đối chiếu câu văn truyền thống với câu văn trong Đoạn tuyệt của
Nhất Linh, các nhà nghiên cứu Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Hiệp,
Dƣơng Hồng Nhung đã nhận thấy "có một bước tiến đột phá trong cách
thể hiện của câu văn tiếng Việt hiện đại (…). Câu văn tiếng Việt trở nên
trong sáng hơn, không còn hiện tượng biền ngẫu, chồng chất điển tích và
từ Hán Việt; thể hiện sự phản ánh lời ăn, tiếng nói của nhân dân. Đó là
những câu văn được xây dựng theo một hệ thống kiến trúc mới, có thể
phân tích thành các thành phần câu (chính - phụ), có thể phân tích các
phương tiện ngôn ngữ theo chức năng" [34; 880 / 881].
Nguyên nhân là do ông đã "áp dụng những công cụ ngữ pháp mới
thể hiện tính tự nhiên vốn có của ngôn ngữ giao tiếp, làm câu văn thoát
khỏi khuôn khổ gò bó của văn vần, thoát khỏi tính nặng nề của câu văn
biền ngẫu" [34; 896].
Chỉ trong một thời gian rất ngắn, sau khi đi học ở Pháp về, Nhất
Linh đã có bƣớc tiến dài trong cách sử dụng câu văn nghệ thuật, chuyển
từ đậm màu sắc trung đại trong Nho phong, Người quay tơ sang đặc
điểm hiện đại trong Đoạn tuyệt, Lạnh lùng.
Trong cách dùng từ, tác giả không còn thích sử dụng những từ
bóng bẩy, các sáo ngữ, mà sử dụng những từ ngữ giản dị, gần với lời nói
thông thƣờng, ví dụ: "nắng ráo", "bớt vẻ tồi tàn", "lúc nhúc trong
bóng tối", "đời nàng xoay về ngả nào",….
Khảo sát từ cổ trong văn bản một số tác phẩm của Nhất Linh và
Khái Hƣng, mỗi tác phẩm 50 trang, riêng Nho phong do số chữ trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dòng và số dòng trên trang ít hơn, chúng tui khảo sát số trang tƣơng ứng
là 62, thu đƣợc bảng số liệu sau:
Tác phẩm Số trang
Số từ
cổ
Tỉ lệ tính trên
trang văn bản
Năm
sáng tác
Nho phong 62 (50) 606 12,1 từ 1924
Hồn bướm mơ tiên 50 91 1,8 từ 1933
Nửa chừng xuân 50 53 1,1 từ 1934
Nắng thu 50 32 0,6 từ 1934
Đoạn tuyệt 50 39 0,78 từ 1935
Lạnh lùng 50 30 0,6 từ 1936
Dựa vào kết quả trên, ta thấy ngôn từ của Nhất Linh và Khái Hƣng
đã khắc phục tính nệ cổ. Đặc biệt, Nhất Linh trong việc dùng từ đã có sự
chuyển biến nhanh chóng từ trung bình 12,1 từ cổ / một trang văn bản
trong Nho phong đến Nắng thu, Đoạn tuyệt và Lạnh lùng chỉ còn chƣa
đầy trung bình 1 từ / một trang văn bản. Từ ngữ của ông đã đạt đến độ
trong sáng và tinh tế, có thể diễn đạt đƣợc cả những trạng thái cảm xúc
phức tạp trong tâm trạng con ngƣời. Chẳng hạn nhƣ lời xƣng hô của
Nhung và Nghĩa: "cậu" - "mợ", trong buổi hai ngƣời về thăm quê Nghĩa
chứa đựng trong đó biết bao tình âu yếm, bao khao khát của đôi tình
nhân muốn thoát khỏi vòng cƣơng toả của lễ giáo phong kiến để nên vợ,
nên chồng. Cảm xúc ấy đã đƣợc ngôn từ của Nhất Linh phân tích khá rõ:
"Nghĩa lấy ví bảo Nhung:
- Mợ để tui trả.
Hai người nhìn nhau; trên má Nhung hơi nhuộm vẻ hồng. Lần đầu
gọi nhau bằng cậu mợ, trước mặt mọi người, Nhung và Nghĩa thấy thẹn
thùng một cách sung sướng" (Lạnh lùng).
Nhiều khi Nhất Linh đã tạo đƣợc những so sánh tu từ mới mẻ và
giàu ý nghĩa biểu cảm, ví dụ nhƣ diễn tả tâm trạng Nhung khi thoát khỏi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
cảnh sống bó buộc ở nhà chồng để đi chơi với Nghĩa đƣợc miêu tả nhƣ
sau: "Khi thuyền ra giữa sông, nhìn dải nước rộng rãi bao la chạy dài
đến tận những rặng núi màu lam sẫm chắn ngang về mạn Hoà Bình,
Nhung ngây ngất lảo đảo như con chim ở lâu trong lồng được thả ra nơi
đồng ruộng" (Lạnh lùng).
So sánh ấy đã diễn tả đƣợc cảm giác hạnh phúc, sung sƣớng đến
choáng ngợp của Nhung khi thoát khỏi cuộc đời tù đọng, tẻ nhạt, không
biêt gì đến tình yêu của "một ngƣời sƣ nữ", để đƣợc tự do bên ngƣời yêu
dấu, không còn phải băn khoăn, trăn trở về những bổn phận, trách nhiệm
của một ngƣời phụ nữ goá bụa trong gia đình chồng.
Nhƣ vậy cách đặt câu và dùng từ của Nhất Linh trong Đoạn tuyệt
và Lạnh lùng đã có những biến đổi tích cực theo hƣớng hiện đại, đạt đến
độ trong sáng, tinh tế, uyển chuyển, ý nghĩa mạch lạc, diễn tả đƣợc đời
sống tâm hồn giàu cảm xúc của ngƣời Việt Nam.
* Ngôn ngữ kể chuyện của tác giả trong Đoạn tuyệt và Lạnh lùng
đi sâu khai thác đời sống tâm hồn. Nếu ở truyện Nho phong và Người
quay tơ, tác giả chủ yếu đứng bên ngoài thuật chuyện bằng cái nhìn
khách quan, theo trình tự thời gian, xâu chuỗi các sự kiện hiện tại để thúc
đẩy cốt truyện vận động, hay đôi lúc đoán định tâm trạng nhân vật theo
lô gíc thông thƣờng trong cuộc sống; thì ở Đoạn tuyệt và Lạnh lùng, tác
giả đã thâm nhập đƣợc vào thế giới tâm hồn bí ẩn của con ngƣời. Với vị
trí ngƣời trần thuật ở ngôi thứ ba, ẩn tàng, có thể thay đổi liên tục điểm
nhìn, có thể đi ngƣợc quá khứ, hay len lỏi vào ngõ ngách sâu tối nhất
của nhân vật, mà không một thế lực nào cản trở, ngôn ngữ kể của Nhất
Linh đã trở nên sinh động, đ...