Ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội hiện nay - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỤC PHƢƠNG

ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
Ở HUYỆN CHƢƠNG MỸ - HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội - 2014



Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Thúy Vân.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong các công
trình khác.
Các số liệu, tài liệu được trích dẫn, sử dụng trong luận văn là trung
thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của đề tài.
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn
Ngô Thục Phƣơng LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc tôi xin được dành gửi tới cô giáo PGS.
TS Nguyễn Thúy Vân – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận
văn. Nhờ sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình và những lời động viên của cô đã giúp
tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo khoa Triết học, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội, đã quan
tâm tạo điều kiện thuận lợi, dành nhiều công sức giảng dạy, hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và học tập tại nhà trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo chủ nhiệm PGS.TS Trần Thị Kim
Oanh cùng tập thể lớp cao học Tôn giáo k19 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học.

1.2. Khái quát về đời sống tinh thần ở huyện Chƣơng Mỹ - Hà Nội 36
1.2.1. Khái niệm đời sống văn hoá tinh thần 36
1.2.2. Giới thiệu về huyện Chương Mỹ và đời sống văn hóa tinh thần ở huyện
Chương Mỹ 39
Tiểu kết Chƣơng 1 49
Chƣơng 2: ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐẾN
MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ YẾU CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH
THẦN HUYỆN CHƢƠNG MỸ - HÀ NỘI HIỆN NAY. 50
2.1. Ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức, lối sống 50
2.2. Ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo đến phong tục, tập quán,
lễ hội 64 2
2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hƣởng tích cực, hạn chế ảnh
hƣởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh
thần ở huyện Chƣơng Mỹ hiện nay 81
2.3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của nhân sinh quan Phật giáo đối
với đời sống tinh thần của người dân huyện Chương Mỹ 81
2.3.2. Phát huy vai trò của các tổ chức Phật giáo trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội 84
2.3.3. Đấu tranh chống những hiện tượng lợi dụng Phật giáo, gây ảnh
hưởng xấu đến đời sống của các tầng lớp xã hội 88
Tiểu kết Chƣơng 2: 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
3

càng đông, lễ hội Phật giáo, sinh hoạt Phật giáo ngày càng phong phú, số
người tu hành được đào tạo qua các trường Phật học ngày càng nhiều, các cơ
sở thờ tự, chùa chiền được tu bổ và xây mới…Những hoạt động này một mặt,
có những tác động tích cực đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi
đây, góp phần làm chuyển biến đạo đức, lối sống của người dân theo hướng
nhân văn, hướng thiện, làm phong phú, sâu sắc các phong tục tập quán của
địa phương. Nhưng mặt khác, những tác động của Phật giáo cũng có tác động
tiêu cực đến đời sống tinh thần của người dân Chương Mỹ.
Việc nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo và chỉ ra những yếu tố nào
ảnh hưởng tích cực để tiếp tục phát huy, những yếu tố nào ảnh hưởng tiêu
cực cần khắc phục hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống văn
hóa tinh thần tinh thần của người dân Chương Mỹ là việc làm cần thiết và
quan trọng để góp phần xây dựng và phát triển đời sống văn hóa tinh thần của
người dân huyện Chương Mỹ hiện nay.
Với lí do đó, tôi chọn đề tài ‘‘ Ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật
giáo đến đời sống văn hoá tinh thần ở huyện Chƣơng Mỹ - Hà Nội hiện
nay” là đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời
sống văn hóa tinh thần của con người Việt Nam là đề tài rộng lớn. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này và đạt được những kết
quả đáng trân trọng. Có thể chia ra các công trình nghiên cứu thành các mảng
cơ bản sau:
- Các công trình nghiên cứu về Phật giáo và đời sống văn hóa tinh
thần nói chung:
Liên quan đến nội dung này, có một số công trình tiêu biểu sau: Mấy
vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam của Viện Triết học; Lịch sử 5

sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần:
Có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và có giá trị như: Văn hóa
Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ của
Nguyễn Thị Bảy; Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay do Nguyễn Tài Thư chủ biên…Nhìn chung, các
công trình này đều chỉ ra những ảnh hưởng và vai trò của Phật giáo đối với
con người và xã hội Việt Nam, qua đó khẳng định Phật giáo và văn hóa Phật
giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực
đời sống văn hóa tinh thần.
Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa
tinh thần ở Việt Nam là đề tài luận án tiến sĩ triết học của Lê Hữu Tuấn.
Trong luận án này, tác giả đã chỉ ra quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở
Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của
con người và nó góp phần quan trọng vào việc định hướng cho sự phát triển
nhân cách, tư duy con nguời Việt Nam trong tương lai.
Trong hai cuốn sách: Phật giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng
Duy và Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam của Đặng Thị Lan,
các tác giả đã phân tích nhiều quan niệm, phạm trù đạo đức Phật giáo và nhất là,
ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến văn hóa và nhân cách của nguời Việt
Nam. Đồng thời, tác giả của hai cuốn sách này cũng đưa ra một số kiến nghị để
phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật
giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay.
- Liên quan đến đề tài, còn có các công trình như: Đại cương triết học
Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Triết học Phật giáo của Nguyễn
Duy Hinh, Phật giáo những vấn đề triết học (bản dịch của Ngô Văn Doanh
và Nguyễn Hùng Hậu), Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo của Thích Tâm 7
Thiện, Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống văn hóa

những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học này trong đời sống tinh thần
của xã hội Việt Nam luôn là việc làm cần thiết và phải tiếp tục. Tuy nhiên,
việc làm sáng tỏ những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời
sống văn hóa tinh thần ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội cho đến nay lại chưa có
công trình nào nghiên cứu. Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là trên cơ sở tiếp
thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước để phân
tích đánh giá về những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống
văn hóa tinh thần ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội hiện nay trên một số phương
diện cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn làm rõ nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó, nhằm
phát huy giá trị tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực đến đời sống vă
hóa tinh thần của người dân Chương Mỹ - Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
và đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Chương Mỹ.
- Phân tích ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến một số
phương diện của đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Chương Mỹ hiện nay.
- Nêu một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần
ở huyện Chương Mỹ hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đến
đời sống văn hóa tinh thần của người Chương Mỹ - Hà Nội hiện nay. 9
4.2. Phạm vi nghiên cứu:

NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ
TINH THẦN Ở HUYỆN CHƢƠNG MỸ
1.1. Khái quát chung về Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1. Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam
1.1.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của Phật giáo
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên ở Ấn Độ.
Thời kỳ này xã hội Ấn Độ tồn tại bốn đẳng cấp là: Bà la môn, đây là đẳng
cấp cao nhất, thống trị đời sống tinh thần của xã hội. Đẳng cấp này có đặc
quyền chính trị và xã hội, được tôn là „„thần của nhân gian”. Quý tộc, gồm
tầng lớp võ sĩ, quan lại, những người chấp hành quyền lực thế tục và được coi
là người bảo hộ của nhân dân. Bình dân, gồm những người nông dân, thợ thủ
công, nhà buôn. Đẳng cấp này là lực lượng chính tạo ra của cải vật chất cho
xã hội và có nghĩa vụ phải nộp thuế. Nô lệ, là những người có nghĩa vụ hầu
hạ những người thuộc đẳng cấp trên. Sự phân chia đẳng cấp và sự tồn tại lâu
dài và quan hệ hết sức khắc nghiệt giữa bốn đẳng cấp ấy đã dẫn đến sự bất
bình đẳng trong xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao
động đòi hỏi một sự công bằng, bình đẳng trong xã hội. Đây chính là nhu cầu
của hiện thực lịch sử làm xuất hiện các trường phái tư tưởng mới ở Ấn Độ
trong thời kỳ này. Đạo Phật xuất hiện chính trong bối cảnh lịch sử trên với tư
cách là một hệ tư tưởng phản đối chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội, phủ nhận
uy thế của kinh Vêda, chống giáo lý duy tâm hoang đường của Bàlamôn giáo,
bác bỏ uy quyền của thần thánh và chủ trương phương pháp tu hành khổ
hạnh, xây dựng niềm tin vào chính con người, khẳng định một đạo lý, một
đường hướng cứu khổ cho con người.
Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni. Theo truyền thuyết,
Thích Ca Mâu Ni tên là Tất Đạt Đa (Siddharatha), họ là Cồ Đàm (Gautama), 11
là thái tử con vua nước Tịnh Phạm (Suddhodana) – một nước thuộc phía Bắc

đất Ấn để thuyết pháp giáo lý cho chúng sinh và tổ chức tăng lữ.
Ngày 5 tháng 2 năm 543 (438 TCN), Thích Ca Mâu Ni đã diệp độ nhập
Niết Bàn (Nirvana), với tư thế nằm đầu quay về hướng Bắc, mặt ngoảnh về
hướng Tây. Trước khi nhập tịch, Ngài đã truyền lại tất cả những giáo lý nhà Phật
của mình cho tôn giả Ma-Ha-Ca Diếp vị đệ tử tối cao của Ngài.
Sau khi Thích Ca Mâu Ni qua đời, những giáo lý của Ngài tiếp tục
được các đệ tử của Ngài không ngừng thuyết pháp, giúp cho Phật giáo ngày
càng ăn sâu vào trong đời sống của nhân nhân.
Từ thế kỉ III TCN cho đến thế kỉ VI TCN, Phật giáo phát triển thành
tôn giáo chiếm địa vị độc tôn ở Ấn Độ. Về sau, do sự phát triển và cạnh tranh
của đạo Hindu và Hồi giáo, Phật giáo dần dần bị suy yếu ở Ấn Độ. Đến thời
cận đại, Phật giáo phát triển nhanh ở nhiều nước nhất là ở khu vực Đông Nam
Á. Ngày nay, Phật giáo có mặt hầu hết năm châu và là một trong những tôn
giáo lớn trên thế giới (đứng thứ hai sau Công giáo).
Tất cả bài giảng của Ngài, giới luật và các tác phẩm bàn về vấn đề Phật
giáo được tập hợp trong 3 bộ kinh, gọi là „„Tam tạng kinh” gồm: Tạng kinh
(Sutrapitaka): ghi những lời Phật dạy, giáo lý. Tạng luật (Vinaya pitika): là
toàn bộ những giới luật của Phật giáo. Tạng luận (Adhidharma pitaka): gồm
những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật giáo. Tạng luận có bảy
bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về giáo pháp của Phật giáo.
Tuy nhiên, cũng qua các lần kiết tập, những xung đột và đấu tranh nội bộ
cũng bắt đầu xuất hiện. Kết quả là đã xuất hiện hai bộ phái lớn: Thượng tọa
bộ (Tiểu thừa) và Đại chúng bộ (Đại thừa). Về sau, hai trường phái này căn
bản đã phân chia thành 20 tông phái khác nhau.
Được hình thành trong bối cảnh xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu
thuẫn gay gắt, ngay từ đầu Phật giáo đã trở thành tôn giáo của đại đa số tầng 13
lớp nghèo khó trong xã hội, những người cần được an ủi về mặt tinh thần

Một sử liệu khác chứng minh khá rõ ràng việc đạo Phật đã du nhập và
đã hưng thịnh ở Việt Nam trước khi du nhập và phát triển tại Trung Quốc
được đề cập trong Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục. Cuốn sách này ghi lại
chuyện trong một lễ Trai Tăng vào ngày rằm tháng hai năm 1096, tại Kinh
thành Thăng Long, bà Hoàng Thái Hậu Phù Cẩm Linh, tức Vương Phi Ỷ Lan
hỏi Thiền sư Trí Không (sau được tôn làm Thông Biện quốc sư): „„Đạo Phật
đến nước ta hồi nào?” Các vị sư ngồi im lặng, riêng Thiền sư Trí Không đã trả
lời như sau: „„Xét chuyện Đàm Thiên pháp sư, ta thấy từ đời Tùy Cao Tổ,
Phật pháp được nâng đỡ rất nhiều”. Vua Văn Đế nói: „„Ta muốm làm chùa
Tháp ở Giao Châu để cho phước được thấm nhuần đại thiên thế giới ”, Pháp
Sư Đàm Thiên liền tâu : „„Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc (Ấn Độ)
Khi Phật giáo mới tới Giang Đông chưa đầy đủ thì ở Thủ Phủ Luy Lâu của
Giao Châu đã có tới hai mươi ngôi chùa, độ được hơn 500 vị Tăng già và dịch
được 15 cuốn Kinh rồi” [10, tr.11]. Như vậy, Phật giáo được truyền đến Việt
Nam trước khi đến Giang Đông (Trung Quốc).
Từ Trung Hoa đã có ba Tông phái Phật giáo được truyền vào Việt
Nam: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông.
Thiền tông là tông phái do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma, Tổ thứ 28 Ấn
Độ vâng lời thầy là Nhã Đa La đến Trung Quốc để hoằng dương Phật pháp.
Tại đây, Thiền Tông được hình thành và nhanh chóng hưng thịnh. Khương
Tăng Hội đã truyền bá Phật giáo đại thừa với khuynh hướng thiền sang Giao
Châu từ thế kỉ thứ III. Nhưng phải đến thế kỷ VI, vai trò của nó mới thể hiện
rõ và phát triển thành các hệ phái cơ bản sau:
Thiền phái Tỳ ni đa lưu chi: Sáng lập vào năm 580 ở chùa Pháp Vân,
thiền phái này phát triển ở Việt Nam khoảng 6 thế kỉ gồm 19 thế hệ và 28 vị
thiền sư. Dòng thiền nay có ý nghĩa tích cực trong việc chống lại sự đồng hoá
của phong kiến Phương Bắc, khẳng định sự độc lập của văn hoá Việt Nam. 15

kỷ IV” [10, tr.33]. Tịnh độ tông chủ trương thờ Tam bảo và niệm Phật, dựa
vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu. Tịnh độ tông hướng con người đến cõi
Niết bàn cụ thể là cõi Tịnh độ yên tĩnh, chỉ cần chuyên tâm niệm Phật A Di
Đà. Đây là cách tu đơn giản và trở thành phổ biến khắp nhân gian. Đây là
tông phái mang tích chất phổ quát, dân dã nên thu hút tín đồ. Tịnh độ tông có
những nét gần gũi với người dân lao động, với trình độ tư duy có hạn, người
dân không thể thấu hiểu sự cao siêu của giáo lý Phật giáo, mà chỉ bằng tấm
lòng thành kính, họ mong được Phật chứng giám để phù hộ che chở, giúp đỡ
họ có sức mạnh, niềm tin để họ có thể chiến thắng những trở ngại, khó khăn,
vất vả trong cuộc sống trần thế, dẫn dắt họ vào cõi cực lạc.
Mật tông do một số nhà sư khai lập khoảng thế kỷ II sau Công nguyên.
Mật tông được hình thành trên nền tảng tư tưởng của Phật giáo Đại thừa
nhưng cách thức tổ chức tu tập lại mang màu sắc huyền bí như: dùng linh
phù, mật chú, ấn quyết … Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như
Tông phái riêng mà hoà vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền
thống cầu đồng cúng pháp thuật, yểm bùa trị tà ma
Nhìn lại lịch sử, qua nhiều thăng trầm thịnh suy của dân tộc, Phật giáo
Việt Nam luôn khẳng định tinh thần „„hộ quốc an dân”, „„đồng hành cùng dân
tộc”. Năm 1981, Phật giáo Việt Nam thống nhất 9 hệ phái Phật giáo, thành
một tổ chức chung mang tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam có ý nghĩa vô cùng
lớn, đó là thể hiện quyết tâm thống nhất về tư tưởng, thống nhất về hành động
trong tổ chức Phật giáo. Ngày 7/11/1981 trở thành dấu mốc quan trọng trong
lịch sử Phật giáo Việt Nam với sự ra đời Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Giáo
hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, thống nhất tất cả các hệ phái Phật
giáo Việt Nam theo cùng một ý chí, một hiến chương và chương trình hành
động, trong cùng cơ cấu tổ chức và lãnh đạo, nhằm mục đích chung là duy trì 17
chính pháp, đề cao chính tín, góp phần tích cực cùng toàn dân xây dựng

Theo Phật giáo, thế giới là vô thường (anitya) vì nó luôn nằm trong
dòng chảy không ngừng nghỉ, trải qua bốn thời kỳ : Sinh – Trụ – Dị – Diệt
hay Thành – Trụ – Hoại – Không. Trong bốn thời kỳ đó, thời kỳ Trụ trên thế
gian thật là ngắn ngủi, chỉ bằng một Sátna (một nháy mắt).
Quan niệm vô thường của Phật giáo cho rằng, mọi sự vật hiện tượng
luôn luôn vận động biến đổi, không có cái gì là thường hằng, thường trụ. Sở
dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường là do vận vật trong vũ trụ chịu sự chi
phối của quy luật nhân quả. Có hai loại vô thường:
+ Sát na vô thường chỉ sự biến hóa trong từng sátna (đơn vị thời gian
bé nhất của Phật giáo) đều có sinh, trụ, dị, diệt (sinh ra, tồn tại, phát triển, diệt
vong).
+ Tương trụ vô thường chỉ trong một chu kỳ có bốn tướng sinh, trụ, dị,
diệt nối tiếp nhau.
Như vậy, con người là sự kết hợp của ngũ uẩn; mọi sự vật, hiện tượng chỉ
là giả danh, không thực; con người chỉ là sự kết hợp của Ngũ uẩn mà thành nên
nó là hư vọng, huyễn hóa. Đủ nhân duyên hợp lại thì gọi là sống, hết duyên tan
ra thì gọi là chết. Sống chết chỉ là giả hợp tan của ngũ uẩn mà thôi.
Trong Kinh A-hàm, Phật dạy ngũ ấm là vô ngã. Phật giáo phân tích cho
thấy thân này có năm phần, gọi là năm ấm. Năm ấm luôn luôn phủ che Phật
tính có sẵn nơi mọi người.
1- Sắc ấm: là phần thể xác con người do bốn chất đất, nước, gió, lửa
hợp thành.
2- Thọ ấm: là phần cảm giác khổ vui, gặp cảnh thuận thì thân tâm cảm
thấy thoải mái, vui thích, say đắm; gặp cảnh nghịch thì thân tâm cảm thấy bực 19
bội, buồn bã, sân hận. Khi vui thì nói tôi vui, khi buồn thì nói tôi buồn. Chấp
cái vui cái buồn đó, theo Phật giáo là do tâm ta.
3- Tưởng ấm: là nhớ tưởng về chuyện quá khứ, mơ ước những chuyện

một Ngã, một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong
sự vật. Theo đạo Phật, cái ngã, cái „„tôi‟‟ cũng chỉ là một tập hợp của Ngũ
uẩn, luôn luôn thay đổi, biến đổi, vì vậy, „„tôi‟‟ chỉ là một sự giả hợp, gắn
liền với cái Khổ.
Phật giáo nhấn mạnh đến hai điểm: Vô thuờng, vô ngã tức không có cái
Ta, trường tồn vĩnh cửu mà chuyển biến không ngừng từng phút, từng giây, từng
sátna. Vậy, cái ta ở thời điểm nào là cái ta chân thực, bất biến. Đó là cái Ta trong
con nguời gồm hai phần: sinh lý (Thân) và tâm lý (Tâm).
Theo Kinh Trung A hàm, cái ta sinh lý chỉ là sự kết hợp của bốn yếu tố:
Đất (địa đại), nuớc (thủy đại), lửa (hỏa đại), gió (phong đại). Trong đó, cả
bốn yếu tố này có những đặc tính khác nhau: Địa đại: Đặc, cứng – Tóc, răng,
móng tay, da thịt, không thuộc ta; Thủy đại: Chất lỏng – Mật, máu, mồ hôi;
Hỏa đại: Chất sinh ra nhiệt trong cơ thể, biểu hiện sự sống; Phong đại: là
những rung động như hơi thở, chất hơi trong dạ dày.
Cái Ta sinh lý chỉ là một khoảng không gian giới hạn bởi sự kết hợp
của xuơng thịt, thoáng là của ngoại cảnh, thoáng là của ta, sự thực, nó là của
ai. Khi bốn yếu tố ấy tách rời nhau, trở về thể của nó, thì không còn gì ở lại
để gọi là cái Ta đuợc nữa. Cái ta sinh lý chỉ là giả tướng, một nhất hợp tướng
mà thôi.
Phật giáo quan niệm, vô ngã là tiến trình tu tập để tâm không còn chấp
thủ mọi hoạt động gây khổ đau và phiền não cho bản thân và mọi người. Vô
ngã còn là sự tu tập vượt vòng bộc lưu sinh tử luân hồi theo pháp môn Phật
đạo. Vì lẽ con người chính là chấp cái ngã sống trong thế giới hiện tượng vô 21
thường, tất nhiên cũng ảnh hưởng trong luật sinh, lão, bệnh, tử của lực lượng
biến đổi chung của vũ trụ. Con người hệ lụy đến tình cảm, hành động và tư
tưởng mà dục tình là cái căn bản chi phối sự sống. Dục tình biến đổi mọi hoạt
động ảnh hưởng đến khoái lạc và đau khổ, đưa con người đến khổ đau, sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status