Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 23


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, và là thành phố lớn nhất
nước, nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam, nơi hội tụ nhiều thành
phần cư dân đến từ khắp nơi trong cả nước; ngoài người Kinh chiếm đa số, có
một nhóm không nhỏ người Hoa đến từ Trung Quốc, người Chăm xuống từ
miền Trung, người Khmer lên từ miền Tây Nơi đây cũng là một trong những
trung tâm Phật giáo lớn, với hơn một ngàn chùa, có nhiều chùa đã được Bộ Văn
hoá - Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử - văn hoá. Vì vậy, đời sống
văn hoá tinh thần người dân ở đây rất phong phú, đa dạng.
Từ Đại hội VI của Đảng, với chủ trương đổi mới do Đảng ta khởi xướng,
lãnh đạo, đã ảnh hưởng tích cực đến Thành phố Hồ Chí Minh, làm cho kinh tế
phát triển năng động, mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, cùng
với đó là sự thay đổi của đời sống chính trị, văn hoá, khoa học, tôn giáo… trong
đó có Phật giáo.
Với triết lý đạo đức, nhân sinh mang tính nhân văn sâu sắc, Phật giáo đã có
sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Phật giáo
đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của một bộ phận nhân dân. Xu hướng
thế tục hoá của Phật giáo ngày càng đậm nét.
Với vai trò, chức năng và những giá trị văn hoá đặc sắc của mình, Phật giáo
đã trở thành chỗ dựa, bù đắp một phần những thiếu hụt về tinh thần của một bộ
phận quần chúng trong cuộc sống. Các chuẩn mực của đạo đức Phật giáo có tác
dụng điều chỉnh hành vi, nhân cách con người; ảnh hưởng tích cực đến một bộ
phận trong quần chúng nhân dân, phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Tuy nhiên, ngoài những ảnh hưởng tích cực, sự cấu kết của một số phần tử
cực đoan trong Phật giáo với các thế lực thù địch để chống phá chế độ; sự vi
phạm giới luật của một số chức sắc, tăng ni, phật tử; việc lợi dụng hoạt động của
Phật giáo để hành nghề mê tín dị đoan; sự xuống cấp, chắp vá của các công trình

tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn
Duy Hinh (1999), tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,
Hà Nội; Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo Sử luận I-II-III, Nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội; Nguyễn Hùng Hậu (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt
Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội; Minh Chi (2003), Truyền thống
văn hoá và Phật giáo Việt Nam , Nhà xuấ t bản Tôn giáo, Hà Nội; Mật Thể
(2004), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội; Trần Hồng
Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội, Hà Nội
Thứ hai: Đó là các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng triết học
Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam. Tác giả Lê Hữu Tuấn

3
(1999), Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn
hoá tinh thần ở Việt Nam, luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội ; tác giả Nguyễn Tài Thư (chủ biên - 1997), Ảnh hưởng
của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Thứ ba: Đó là các công trình tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo
đối với đời sống văn hoá tinh thần ở một số địa phương, trong đó có Thành phố
Hồ Chí Minh. Tác giả Phạm Thị Xê (1996), Ảnh hưởng của tư tưởng triết học
Phật giáo trong lối sống của người Huế hiện nay, luận văn thạc sĩ triết học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Thị Bảy (1997), Văn hoá
Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ, Nhà xuất
bản Văn hoá Tư tưởng, Hà Nội; Trần Cao Phong (1999), Phật giáo Huế và ảnh
hưởng của tư tưởng Phật giáo đến sự hình thành nhân cách con người Huế hiện
nay, luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội; Võ Thị Bích Thuý (2001), Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn
hoá tinh thần nhân dân Lâm Đồng hiện nay, luận văn thạc sĩ khoa học tôn giáo,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến một số lĩnh vực trong đời sống
văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, như: Quan niệm, tư
tưởng; đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận án giới hạn việc nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến một số lĩnh
vực chủ yếu trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo. Ngoài ra, luận án còn sử dụng tổng hợp một số
phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra xã hội học ; phương pháp
phân tích và tổng hợp ; phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc, qui nạp và diễn
dịch, hệ thống hoá, so sánh đối chiếu, phỏng vấn…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần vào việc xây dựng những cơ sở, luận cứ khoa học để
củng cố, hoàn thiện quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và
công tác tôn giáo trong tình hình mới.
Luận án được vận dụng có thể giúp cho thực hiện công tác quản lý Phật
giáo của Thành hội Phật giáo, Ban Tôn giáo và Dân tộc ở Thành phố Hồ Chí

5
Minh được tốt hơn; góp phần nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá tinh thần của
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu có
nội dung liên quan đến Phật giáo; cũng như có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo để nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Tôn giáo học, Triết học, Chính trị
học, Văn hoá học trong các trường Đại học, Cao đẳng và các trường Chính trị

điều kiện cho sự du nhập, phát triển của Phật giáo.
Về chính trị: Từ khi hình thành vùng đất mới đến nay, Thành phố Hồ Chí
Minh là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị phức tạp. Vì vậy, người dân đã dựa
vào Phật giáo để bù đắp sự thiếu hụt về tinh thần, củng cố niềm tin, cầu xin hoà
bình, thịnh vượng cho đất nước, là điều kiện cho Phật giáo du nhập, phát triển
trên vùng đất mới.
Về xã hội: Thế kỷ XVII - XIX, xã hội đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp.
Lúc này, Phật giáo là cứu cánh về tinh thần, giúp ổn định xã hội cho những lưu
dân xa xứ.
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, do chính sách chia
để trị, ru ngủ, đầu độc nhân dân ta đã làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, đã tạo
điều kiện cho Phật giáo tham gia nhiều hơn vào bài trừ tệ nạn, ổn định xã hội.
Đến nay, do mặt trái của kinh tế thị trường, xuất hiện những vấn đề xã hội
phức tạp, đã đẩy một bộ phận nhân dân vào trạng thái lo âu trước cuộc sống, để
tìm sự an tâm, che chở, người ta dễ đến với Phật giáo.
1.1.2. Tiền đề văn hoá, tư tưởng cho sự du nhập và phát triển của Phật
giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh
Về văn hoá: Thành phố Hồ Chí Minh có 27 tộc người, m ỗi tộc người có
phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng khác nhau, tạo nên sự tiếp biến, đa
dạng văn hoá. Với sự du nhập, giao thoa mạnh mẽ về văn hoá, tín ngưỡng đã tạo
điều kiện cho sự xuất hiện, lan toả của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tư tưởng: Vì những hạn chế của Nho giáo và do sự thiếu thốn những
chuẩn mực trong luân lý đạo đức, xã hội trên vùng đất đa thành phần dân tộc,
mặt khác, Phật giáo là một tôn giáo có nhiều điểm gần gũi với quan niệm, tư
tưởng, tập tục, tâm lý người Việt, người Hoa, người Khmer nên rất dễ được chấp
nhận trên vùng đất mới.
1.2. KHÁI QUÁT CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC
ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.2.1. Khái quát các giai đoạn phát triển của Phật giáo ở Thành phố Hồ
Chí Minh

ớc, Thành phố Hồ Chí Minh đạt mức kỷ lục về sự ra đời của các tổ
chức Phật giáo. Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông, Hệ phái Khất Sĩ đều có
mặt ở đây. Mỗi chi phái có yêu cầu, đường hướng, mục tiêu khác nhau do sự
chuyển hướng của các yếu tố nội sinh, sự phân nhánh, sự khác biệt trong quan
niệm về giáo lý, giáo luật
1

1
Nguyễn Thanh Tuấn (2009), Phật giáo với văn hoá Việt Nam và Nhật Bản qua một cách tham chiếu, Nhà xuất bản
Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.50.
.

8
Tính dung hợp về văn hoá của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh:
Tìm hiểu tính dung hợp về văn hoá của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh,
chúng ta làm rõ khái niệm dung hợp.
Dung hợp là dung hoà, điều hoà với nhau trong một thể thống nhất
1
Cho dù các phật tử tu tập the o hệ phái Phật giáo nào đi nữa thì những hệ
phái này vẫn chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn hoá Việt Nam, tín ngưỡng dân
gian, nghệ thuật cổ truyền
. Còn
dung hợp về văn hoá là sự thẩm thấu, dung hoà với nhau của các giá trị văn hoá
trong một thể văn hóa thống nhất. Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh là một
thực thể văn hoá nên cũng mang tính dung hợp về văn hoá.
Tính dung hợp về văn hóa biểu hiện ở những khía cạnh nội dung giáo lý,
giới luật, kiến trúc, sinh hoạt… của Phật giáo: Thành phố Hồ Chí Minh là địa
bàn phát triển của ba hệ phái Bắc tông, Nam tông, Khất Sĩ. Trong ba hệ phái, do
quan niệm về giáo lý có đôi chút khác biệt mà hệ phái Bắc tông mang yếu tố mở
và năng động hơn. Từ quan niệm về giáo lý, cách hành đạo, thờ cúng tương đối

của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Điều đó, có thể giúp cho việc tìm hiểu
ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân một cách
đúng đắn, khách quan; mặt khác, là cơ sở để các cấp chính quyền, trong đó có
Ban Tôn giáo và Dân tộc, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Thành hội Phật
giáo… đưa ra những giải pháp đối với Phật giáo, khai thác những giá trị của
Phật giáo, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân, góp phần vào việc giữ gìn
bản sắc văn hoá dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của Thành phố trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ năm 1698, theo chân những lưu dân đến vùng đất mới Gia Định lập
nghiệp, Phật giáo đã du nhập, tồn tại, phát triển trên cơ sở những điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội; tiền đề văn hoá, tư tưởng. Trong hơn 300 năm hiện hữu ở
Thành phố Hồ Chí Minh, Phật giáo đã có những bước thăng trầm, biến động lớn
do tác động của lịch sử, biểu hiện qua những giai đoạn sau:
Phật giáo thời kỳ phong kiến: Phật giáo du nhập theo các đợt di cư của lưu
dân, là thời kỳ đặt nền móng; thời kỳ thực dân Pháp xâm lược (1862 - 1954):
Phật giáo phát triển mạnh mẽ theo hướng yêu nước; Phật giáo thời kỳ Mỹ -
Nguỵ (1954 - 1975): Phật giáo phát triển mạnh mẽ, thông qua các cuộc đấu
tranh. Tuy nhiên, Phật giáo có nhiều diễn biến phức tạp; Phật giáo ở Thành phố
Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến nay: Phật giáo dần dần ổn định, phát triển, gắn
bó, đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước.
Với sự cộng cư của nhiều thành phần dân tộc, đã tạo cho Phật giáo ở Thành
phố Hồ Chí Minh có những đặc điểm sau: Tính đa dạng biểu hiện ở nhiều hệ
phái, nhiều tổ chức; tính dung hợp về văn hoá; tính linh hoạt và tính nhập thế
tích cực về nội dung giáo lý, giới luật, hình thức biểu hiện
Qua những đặc điểm trên, làm nổi bật sự đa dạng trong bức tranh tổng thể
của Phật giáo. Điều đó, làm tiền đề để nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 2
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH

phát triển của lịch sử xã hội loài người.
3
Văn hoá tinh thần là sự thâu tóm, phản ánh sự phát triển của tất cả các lĩnh
vực tinh thần. Vậy, đời sống tinh thần và văn hoá tinh thần không đồng nhất,
nhưng có quan hệ khăng khít với nhau, mà quan hệ giữa chúng là quan hệ giữa
quá trình hoạt động tinh thần ( đời sống tinh thần) và chất lượng đã đạt tới của
quá trình đó (văn hoá tinh thần). Trong đó, đời sống tinh thần đề cập đến toàn bộ
lĩnh vực hoạt động tinh thần, còn văn hoá tinh thần chỉ đề cập đến chất lượng
của đời sống tinh thần
.
4

1
Cung Kim Tiến (2001), Từ điển triết học, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, tr.1329.
2
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.431.
3
Từ điển triết học (1976), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, tr.973.
4
Trần Khắc Việt (1992), Đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận án phó tiến sĩ khoa học triết học, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội,
tr.16-17.
.

11
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến một số lĩnh vực
trong đời sống văn hoá tinh thần với sự ảnh hưởng của Phật giáo, cụ thể là: Quan
niệm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật.
Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần của
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta phải làm rõ khái niệm ảnh hưởng.

Nguyễn Như Ý (Chủ biên - 2010), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
tr.29.
2
Hoàng Phê (Chủ biên - 1998), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà
Nẵng, tr.771.
3
Nguyễn Như Ý (Chủ biên - 2010), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
tr.1287.
. Vậy, quan niệm là sự hiểu biết, nhận thức, là cách nhìn nhận,
đánh giá của con người về một vấn đề nào đó.

12
Tư tưởng là “sự suy nghĩ: Tập trung tư tưởng làm việc. Quan điểm và ý
nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội: Có tư tưởng tiến
bộ, đấu tranh tư tưởng”
1
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là một hệ thống những quan điểm,
quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại, biến
đổi từ nhu cầu của xã hội. Từ đó, con người tự giác điều chỉnh lời nói, hành vi
của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người, sự tiến bộ của xã
hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội
. Suy cho cùng thì tư tưởng là những quan điểm và ý
nghĩ chung của con người về thế giới.
Tìm hiểu sự ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm, tư tưởng của nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta làm rõ quan niệm, tư tưởng của người Sài
Gòn.
Người Sài Gòn quan niệm đã sống thì phải cho ra sống, tức là yêu hết mình,
làm hết sức, luôn có ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng làng xóm, quê hương
đất nước.
Trên cơ sở những quan niệm, tư tưởng như vậy mà một bộ phận lớn người

mỹ, trí tuệ… hay hoạt động sản xuất, tổ chức đời sống xã hội, tham gia hoạt
động chính trị - xã hội…
1

1
Nguyễn Nghĩa Trọng (2003), Văn hoá văn nghệ trong đổi mới, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, Thành phố Hồ Chí
Minh, tr.58- 60.

.
Đức là cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lý như: Tính nết, tư cách, hành động,
lối sống của con người. Lối sống là một mặt biểu hiện của đạo đức. Nói đạo
đức, lối sống là muốn nhấn mạnh rằng, trong sự tu dưỡng về đạo đức của con
người, phải chú trọng đến lối sống. Như vậy, giữa đạo đức và lối sống mặc dù
khác biệt nhưng có quan hệ khăng khít với nhau, đức là cái gốc, lối sống là cái
biểu hiện ra bên ngoài. Cho nên, trong mối quan hệ giữa đạo đức và lối sống chỉ
mang ý nghĩa tương đối.
Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức, lối sống của nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta tìm hiểu phong cách đạo đức, lối sống của
con người Thành phố Hồ Chí Minh, biểu hiện ở những đặc điểm sau: Tin hết
lòng, làm hết sức; yêu ghét rõ ràng, chính tà phân minh; tính cách dung hợp, hài
hoà; trọng nghĩa, phóng khoáng hiếu khách; tính linh hoạt, năng động sáng tạo;
tính thực tế.
Trên cơ sở những đặc trưng về đạo đức, lối sống của nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh, Phật giáo đã ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống của nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh với những lý do sau đây: Thứ nhất, với tinh thần từ bi, hỉ xả,
bình đẳng, vô ngã, vị tha; với triết lý nhân quả, luân hồi nghiệp b áo, bát chính
đạo, lục độ, thập thiện, ngũ giới… trong giáo lý, giới luật của đạo Phật rất phù
hợp với tính cách con người Thành phố Hồ Chí Minh nên được người dân tin
theo. Thứ hai, những giá trị đạo đức truyền thống, đạo đức xã hội chủ nghĩa,
những giá trị đạo đức khác chưa bao phủ được hết đạo đức xã hội, thì đạo đức

tác phẩm nghệ thuật, tôn giáo mới thể hiện được ý nguyện của mình. Phật giáo,
sinh hoạt của Phật giáo được biểu hiện trong nghệ thuật mang những giá trị văn
hoá riêng có của Phật giáo, nhưng nó không thể tách rời truyền thống văn hoá -
nghệ thuật dân tộc, nó là một phần của truyền thống ấy.
Phân tích sự ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hoá - nghệ thuật trong đời
sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta tìm hiểu
văn hoá của con người Sài Gòn.

1
Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, tr.193. 15
khác; thay đổi, thích ứng với người dân ở đây. Cho nên, những giá trị văn hoá -
nghệ thuật của Phật giáo đã được người dân đón nhận dễ dàng.
Như vậy, Phật giáo đã ảnh hưởng tích cực đến văn hoá - nghệ thuật trong
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thông qua văn
học, thơ ca, hệ thống chùa tháp, tượng thờ, pháp khí, các lễ hội. Những giá trị
văn hoá - nghệ thuật của Phật giáo góp phần thoả mãn nhu cầu chân - thiện - mỹ,
vui chơi giải trí của nhân dân; không chỉ đáp ứng phần nào đời sống văn hoá tinh
thần cho một bộ phận nhân dân, mà còn góp phần làm phong phú hơn nền văn
hoá - nghệ thuật dân tộc. Ngoài những giá trị trên, trong Phật giáo đã phát sinh
những tiêu cực như: Loạn kiến trúc trong xây, sửa chùa; phát sinh mê tín dị đoan
trong chùa; một số nơi buông lỏng quản lý các hoạt động của Phật giáo; hiện
tượng phi văn hoá trong chùa vẫn tồn tại… Những hiện tượng này làm hoen ố sự
tinh khiết của Phật giáo, cần phải dẹp bỏ.
2.2. NGUYÊN NHÂN, DỰ BÁO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG QUÁ TRÌNH ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG
VĂN HOÁ TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.2.1. Nguyên nhân những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Phật giáo

biện pháp không đúng đối với Phật giáo. Hai là, một bộ phận nhân dân chưa hiểu
hết được triết lý sâu sắc của đạo Phật, chỉ đến với Phật giáo bằng niềm tin, chú
trọng cầu xin Phật phù hộ mà ít quan tâm nghiên cứu giáo lý, giới luật của Phật
giáo để vận dụng vào cuộc sống.
2.2.2. Dự báo xu hướng biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống
văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian
tới
Cơ sở sự biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh
thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Do sự đổi mới nhận thức dẫn
đến sự đổi mới về chính sách tôn giáo ở nước ta; do sự biến đổi nhanh chóng của
đời sống kinh tế - xã hội kéo theo sự thay đổi của Phật giáo; do sự thay đổi trong
nhận thức của Phật giáo; do tác động của toàn cầu hoá; do tác động của quá trình
dân chủ hoá đời sống xã hội; do sự nâng cao mặt bằng dân trí.
Xu hướng biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh
thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Phật giáo ngày càng gắn bó hơn với dân tộc: Những năm gần đây, Phật giáo
tổ chức các hoạt động cầu siêu cho vong linh của các anh hùng liệt sĩ; giáo dục phật
tử chăm lo truyền thống thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc… gắn bó hơn
với dân tộc.

Phật giáo tăng cường thế tục hóa: Hơn chục năm qua, Phật giáo tham gia
nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế, hoạt động từ thiện xã hội; quan tâm nhiều
hơn đến cuộc sống của tín đồ nơi trần thế.

17
Phật giáo tiếp tục hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình: Nhờ
thành tựu của khoa học và công nghệ, Phật giáo đã thay đổi theo hướng hiện đại
hóa, tín đồ Phật giáo đã ứng dụng, vận hành những thành tựu của khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào hoạt động tôn giáo


.
Về đạo đức, lối sống: Thứ nhất,
đạo đức Phật giáo không thể phản ánh được
hết yêu cầu của nền đạo đức mới, không phải là những chuẩn mực hoàn thiện của
cuộc sống, đạo đức Phật giáo trở nên hạn hẹp, khô cứng, không bao quát được sự
đa dạng, phong phú của cuộc sống; không linh hoạt, to àn diện như đạo đức hiện
đại, dẫn đến những chệch hướng và lệch chuẩn trong đạo đức nói chung, đạo đức
Phật giáo nói riêng;
thứ hai, một số ít tăng ni trẻ đã bị cuốn hút theo những cám
dỗ xấu, những nhu cầu vật chất tầm thường đã không giữ được chân tu, vi phạm
giới luật; thứ ba, một bộ phận phật tử vẫn chưa thấm nhuần đạo pháp, chạy theo
lợi ích kinh tế, theo đạo Phật chỉ mang tính hình thức, dễ theo đạo và cũng dễ bỏ
đạo; thứ tư, đời sống của một số tăng ni trong các ngôi chùa hẻo lánh, ít phật tử
còn gặp nhiều thiếu thốn. Còn một số Gia đình Phật tử đời sống rất khó khăn
chưa được khắc phục.

18
Về văn hoá - nghệ thuật: Thứ nhất, việc xây sửa chùa không theo quy
hoạch, đặt để, sơn phết tượng thờ tuỳ theo ý thích, hiện tượng đánh cắp cổ vật
vẫn tồn tại; thứ hai, hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, tệ nạn xã
hội, thiếu văn minh, lịch sự trong chùa, sự vô ý, thờ ơ trong việc bảo vệ kiến
trúc, cảnh quan di tích của một số phật tử, nhân dân vẫn còn tồn tại. Đồng thời,
xuất hiện một số cuốn sách liên quan đến Phật giáo, sách tử vi, bói toán, băng,
đĩa chưa được kiểm duyệt chặt chẽ.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trải qua hơn 300 năm du nhập, tồn tại, phát triển, Phật giáo đã gắn bó chặt
chẽ với nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng những giá trị nhân bản, nhân
văn sâu sắc, Phật giáo đã khẳng định được vị trí của mình, ảnh hưởng sâu rộng
đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trên các

Nguồn gốc của tôn giáo:
Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo: Phản ánh sự bế tắc của con người
trước sức mạnh của tự nhiên và các lực lượng xã hội.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Khi nhận thức của con người về thế
giới, xã hội và chính bản thân con người còn hạn chế thì một bộ phận nhân dân
vẫn còn tin vào sự tồn tại của thần thánh.
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: Khi con người sợ hãi trước sức mạnh của tự
nhiên, những bất ổn của xã hội mới dẫn con người nhờ cậy thần thánh, mà ngay
cả những tình cảm, tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng, lòng yêu
thương… trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với
con người cũng được thể hiện qua hình thức tín ngưỡng, tôn giáo.
Bản chất của tôn giáo:
Từ những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của tôn giáo, có
thể khẳng định, xét về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
phản ánh lệch lạc, hoang đường, hư ảo thế giới khách quan vào đầu óc của con
người.
Chức năng của tôn giáo:
Chức năng thế giới quan: Đó là những quan niệm của tôn giáo về thế giới.
Chức năng điều chỉnh hành vi: Tôn giáo góp phần điều chỉnh hành vi, đạo
đức của con người.
Chức năng đền bù hư ảo: Tôn giáo đã bù đắp cho những khoảng trống về
tinh thần của con người, sự bù đắp ấy chỉ là hư ảo nhưng có tác dụng thực, giúp
con người vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Chức năng liên kết cộng đồng: Thông qua tổ chức, các hoạt động, tôn giáo
củng cố tính cộng đồng, củng cố các mối quan hệ xã hội, giải quyết các mối
quan hệ xã hội đặt ra.

20
Chức năng chuyển giao văn hoá: Các tôn giáo sau khi ra đời, thường lan toả
đến các vùng đất mới, kết hợp với văn hoá bản địa, làm phong phú, sâu sắc hơn

tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của

21
khối đại đoàn kết dân tộc. Thứ hai, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính
sách đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn
kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Thứ ba, nội dung
cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Thứ tư, làm tốt
công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
Thứ năm, vấn đề theo đạo, truyền đạo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Những chính sách cơ bản của Nhà nước ta đối với tôn giáo.
Chính sách đối với tôn giáo do Nhà nước ban hành là sự cụ thể hoá quan
điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về tôn giáo, biểu hiện ở những khía cạnh
dưới đây:
Đối với tín đồ các tôn giáo: Đồng bào có đạo được sinh hoạt tôn giáo bình
thường theo pháp luật. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi công dân.
Đối với chức sắc các tôn giáo: Mọi chức sắc tôn giáo được pháp luật thừa
nhận đều có quyền bình đẳng trước pháp luật
1
Đối với cơ sở hoạt động kinh tế, xã hội từ thiện của tôn giáo: Khuyến khích
những chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tham gia thực hiện các chương trình kinh tế
- xã hội, từ thiện, nhân đạo
.
Đối với các tổ chức tôn giáo: Đường hướng hành đạo phải gắn bó với dân
tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp của Nhà nước.
2
Đối với quan hệ quốc tế của tôn giáo: Các tổ chức tôn giáo muốn đặt quan
hệ chính thức hoặc tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài phải xin phép Nhà
nước
.

Hồ Chí Minh thực hiện tốt đường hướng hành đạo: “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ
nghĩa xã hội”
3.2.5. Định hướng cho công tác quản lý Nhà nước đối với Phật giáo, thông qua
trách nhiệm công dân của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ Phật giáo ở Thành phố Hồ
Chí Minh; tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với Phật giáo ở Thành phố
Hồ Chí Minh
3.2.6. Đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tín ngưỡng của Phật giáo làm
phương hại đến lợi ích của đất nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói
riêng, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân Thành phố
3.2.7. Bảo tồn, khai thác và phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp
của Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong hơn 300 năm du nhập, tồn tại, phát triển, Phật giáo đã ảnh hưởng tích
cực đến quan niệm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật trong đời
sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong
quá trình ảnh hưởng, Phật giáo, sự lợi dụng Phật giáo đã phát sinh những biểu
hiện không theo kịp với sự đổi mới do nhiều nguyên nhân, đặt ra nhiều vấn đề
cần giải quyết cho các cấp quản lý.
Dựa trên nền tảng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối
với tôn giáo. Đồng thời, trên cơ sở sự ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn
hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm phát huy những ảnh
hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh từ Phật giáo đối với
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trong công tác tôn giáo hiện nay, Thành

23
hội Phật giáo, Ban Tôn giáo và Dân tộc, các cơ quan liên quan cần thực hiện một
số giải pháp định hướng sau, đó là:

hiện ở nhiều hệ phái, nhiều tổ chức; tính dung hợp mạnh về văn hoá; tính linh
hoạt cao và tính nhập thế tích cực trong nội dung giáo lý, giới luật, kiến trúc, hệ
thống điện thờ, hoạt động.

24
Từ khi xuất hiện đến nay, Phật giáo đã ảnh hưởng sâu rộng đến một số lĩnh
vực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân như: Quan niệm, tư tưởng;
đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật…
Tuy nhiên, trong thời gian qua Phật giáo đã phát s inh những hạn chế nhất
định do nhiều nguyên nhân tác động. Từ đó, đặt ra một số vấn đề cho các cấp
chính quyền, tăng ni, phật tử, nhân dân phải giải quyết.
Từ thực tế trên, để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh
hưởng tiêu cực phát sinh từ Phật giáo, Thành Ủy, các cấp chính quyền, Thành
hội Phật giáo, chức sắc, tăng ni, phật tử, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần
thực hiện một số giải pháp định hướng sau:
Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức về
tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước, cán
bộ, đảng viên, nhân dân theo quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về công tác tôn giáo. Hai là, thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội của Thành phố nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hoá
tinh thần cho đồng bào phật tử ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ba là, tăng cường công
tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác
Phật giáo. Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính sách tôn giáo
của Nhà nước cho nhân dân; đảm bảo cho Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh
thực hiện tốt đường hướng hành đạo “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”.
Năm là, định hướng cho công tác quản lý Nhà nước đối với Phật giáo, thông qua
trách nhiệm công dân của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ Phật giáo; tăng cường công
tác quản lý Nhà nước đối với Phật giáo. Sáu là, đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi
dụng tín ngưỡng của Phật giáo làm phương hại đến lợi ích của đất nước nói chung
và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status