BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦ A NHO GIÁO
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NĨ ĐẾN ĐỜI
SỐNG VĂN HĨA TINH THẦN CỦA
NGƯỜI VIỆT
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
SVTH : Nguyễn Thò Thúy An
LỚP CAO HỌC D1 K19
Tháng O2/2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ sở của Nho giáo đ ược hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu,
xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trư ớc công nguyên) phát triển
tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa v à tích cực truyền bá các t ư tưởng
đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông l à người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca
Mầu Ni, Giê-xu, người đời sau không thể nắm bắt các t ư tưởng của
Khổng tử một cách trực tiếp m à chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng
các ghi chép do các h ọc trò của ông để lại. Khó khăn nữa l à thời kỳ "đốt
sách, chôn Nho" của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Kh ổng Tử qua đời
khiến việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử c àng khó khăn. Tuy
nhiên, các nhà nghiên c ứu đời sau vẫn cố gắng t ìm hiểu và hệ thống các
tư tưởng và cuộc đời của ông.
Ngày nay chúng ta thư ờng nghe nói “Quốc có quốc pháp,gia có gia
phong” là những câu nói răn dạy để giáo dục con ng ười Việt Nam sống
có phép tắc, khuôn mẫu đạo đức nhất định theo tinh thần “Nho giáo”,
đồng thời còn là biểu tượng tự hào về truyền thống văn h óa dân tộc, là
nó trở thành học thuyết vừa là luân lý đạo đức, vừa là triết học, vừa là tôn
giáo. Chính lúc này Nho giáo đ ã được nâng lên tầm cao nhất trở thành
quốc giáo, đồng thời là đường lối trị nước chính của Trung Hoa trong
suốt 2000 năm lịch sử của chế độ phong kiến.
1. Tư tưởng triết học trong nho giáo của Khổng Tử:
Tư tưởng triết học của Khổng Tử thể hiện tập trung ở ba nội dung:
Quan điểm về trời,quỷ thần,con người; học thuyết về đạo đức; tư tưởng
chính trị và xã hội.
Trước Khổng Tử, quan niệm về trời đã được hình thành tương đối rõ
ràng theo hai khuynh hướng :
+ Khuynh hướng thứ nhất, bắt nguồn từ thế giới quan tín ngưỡng
nguyên thủy của người Trung Hoa cổ. Khuynh hướng này cho rằng có
một đấng tối cao, đầy uy quyền, cai quản cả quỉ thần, con người và nhân
vật đó là trời hay thượng đế. Trời bao bọc khắp nơi, là cái linh di ệu quyết
định sự biến hóa của muôn vật, làm ra sự sống chết của con người, sự
linh thiêng của quỷ thần. Phàm cái đã hiện diện trong vũ trụ, thì không có
cái gì thoát khỏi vòng tạo hóa của trời. Có lẽ, vì thế mà việc kính trời sợ
trời trở thành một quan niệm mang tính th ế giới quan truyền thống của
người Trung Hoa, và nh ững tập tục, nghi lễ tế trời, quỷ thần vừa mang
tính chất tín ngưỡng, vừa mang tính chất văn hóa trở thành phổ biến đối
với họ. Đến đời nhà Thương, quan ni ệm về Thượng đế được giai cấp
quý tộc chủ nô đề cao và trở thành tư tưởng truyền thống được truyền bá
rộng rãi trong xã h ội. Quan niệm đó đã có sự ảnh hưởng đến các nhà tư
tưởng sau này, đặc biệt là Khổng Tử. Từ thời trẻ ông đã nổi tiếng về việc
tế lễ, cẩn trọng việc kính trời và quỷ thần.
+ Khuynh hướng thứ hai trong quan ni ệm về trời bắt đầu từ bức Hà Đồ
của Phục Hy cho đến Chu Dịch đó chính là Thái c ực. Quan niệm về Thái
cực, âm dương, ng ũ hành bao hàm tính ch ất tự nhiên và phép biên
chứng thô sơ chất phát bắt nguồn từ kinh nghiệm đời sống lâu dài của
người Trung Hoa đã dần trở thành tư tưởng truyền thống chi phối mạnh
thiết thoát ly chủ nghĩa thần bí tôn giáo, đ ặt vấn đề đời sống con người
lên hàng đầu để giải quyết.Song do hiện trạng xã hội, cái cũ đã suy tàn
và mất vai trò lịch sử nhưng cái mới đang manh nha, cùng v ới lợi ích giai
cấp Khổng Tử lại hoang mang dao đ ộng, quay lại với chủ nghĩa duy tâm.
Đó là một số hạn chế của Khổng Tử.Ngoài ra tư tưởng đóng vai trò
quan trọng hơn, đóng góp l ớn hơn của Khổng Tử, đó cũng là nội dung
cốt lõi của Nho gia đó là tư tư ởng của ông về luân lý đạo đức.Trong hệ
thống các phạm trù đạo đức như: nhân, ngh ĩa, lễ, trí, tín, dũng, trung….
Được thể hiện trong mẫu người lý tưởng, toàn trí toàn đ ức.Những phạm
trù đạo đức này không tách r ời mà chúng có liên h ệ mật thiết với nhau,
làm tiền đề cho nhau tạo thành thể thống nhất.
Trong đó chữ “nhân” được Khổng Tử đề cập với ý nghĩa sâu rộng
nhất.Nó được xem là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con
người thông qua lễ, nghĩa, nó qui định những quan hệ giữa người với
người từ trong gia tộc đến bên ngoài xã hội.Có thể nói các phạm trù đạo
đức trong triết học Khổng Tử như một vòng tròn đồng tâm mà chữ “nhân”
là tâm điểm. Khổng Tử chọn chữ nhân là phạm trù đạo đức căn bản
không phải là ngẫu nhiên, mà ông đã xuất phát từ hai căn cứ: căn cứ lý
luận và căn cứ thực tiễn đời sống xã hội.Về mặt lý luận, theo Khổng Tử,
theo sự chi phối của đạo,của thiên lý, vạn vật trong vũ trụ biến hóa không
ngừng.Sự sinh thành biến hóa ấy của vạn vật là do sự liên hệ tương tác
trung hòa, trung dung gi ữa âm dương trời đất mà có. Vì thế trong thiên
Ung dã, sách luận ngữ, ông nói:” Trung dung là cái đ ức cực điểm - Trung
dung chi vị đức dã”,”Trung là g ốc lớn của thiên hạ,hòa là đạo thông đạt
của thiên hạ.Đạt tới trung hòa, ắt mọi người, mọi vật trong trời đất đều
được yên ổn trật tự và vạn vật sẽ sinh sản nảy nở một cách thuận
chiều”(Trung dung,I).Con ngư ời là kết quả bẩm thụ của khí âm dương
trời đất mà sinh thành; tuân theo Thiên lý, h ợp với đạo trung hòa, đạo
sống của con người phải là đạo trung thứ, nghĩa là sống đúng với mình
và mang cái đó ứng xử tốt với người.Đó chính là chữ nhân.Không T ử
người cao thượng”(Luận ngữ, Quí Thị,9), mặt khác ông lại quan niệm trí
không phải là ngẫu nhiên mà có,nó ch ỉ hình thành khi ng ười ta trải qua
quá trình học tập tu dưỡng. Chính ông c ũng đã tự nhận:”Chẳng phải ta
sinh ra là tự nhiên hiểu biết đạo lý.Thật ta là người hâm mộ kinh thơ của
thánh hiền đời xưa,cho nên ta cố gắng mà tầm đạo lý”(Luận ngữ, Thuật
nhi,19). Từ đó Khổng Tử đã chủ trương giáo dục con người.Đây là phần
lý luận có giá trị quí báu trong hệ thống tư tưởng của Khổng Tử. Nó
không chỉ có ý nghĩa với xã hội đương thời mà còn có ý ngh ĩa với nền
giáo dục trong thời đại hiện nay.Nó góp ph ần xứng đáng vào kho tàng l ý
luận giáo dục của nhân loại.Theo Khổng Tử, tác dụng của việc học có ý
nghĩa rất lớn.Cho nên Khổng Tử nói:” Buổi sáng nghe được đạo lý, buổi
chiều dẫu chết cũng vui – Triêu văn đạo, tịch tử khả hỷ” (Luận ngữ, Lý
nhân,8).Nội dung giáo dục của Khổng Tử là giáo dục đạo lý nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín cho con ngư ời chứ không phải nghề “làm ruộng, trồng trọt”.
Về đối tượng giáo dục, trước xu thế biến đổi của lịch sử, buộc Khổng
Tử phải có khuynh hướng tiến bộ, ông chủ trương: “hữu giáo vô
loại”(Luận ngữ,Vệ Linh Công,38).Đó là lu ận điểm giáo dục tiến bộ, nhằm
vượt qua giới hạn đẳng cấp danh phận, góp phần làm cho giáo dục mở
mang trí thức xuống đến quần chúng ở một phạm vi nhất định. Nhưng do
hạn chế của điều kiện ịch sử và địa vị đẳng cấp xã hội, Khổng Tử lại xác
định mẫu người lý tưởng có thể hiểu được đạo và thi hành đạo chỉ là
người quân tử, kẻ sĩ, không phải là nhân dân lao đ ộng, những người ở
bậc dưới. Đó là mâu thu ẫn mang tính hai m ặt hằn sâu dấu ấn giai cấp
trong tư tưởng của ông. Khổng Tử còn phân biệt: “ Người sinh ra đã biết
là bậc trên, người học mới biết là bậc thứ, người khốn mới học là hạng
dưới nữa, người khốn không học là kẻ bậc thấp”( Luận ngữ, Quí thị,9).Đó
là quan điểm nhận thức có tính chất duy tâm tiên nghi ệm và mang tính
đẳng cấp danh phận.
Về phương pháp giáo hóa con ngư ời, Khổng Tử đã đề ra một hệ thống
về phương pháp giáo dục, với các hình thức phong phú, đặc sắc.
dắt dân chúng, chuyên dùng hình ph ạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng
phạm pháp đấy thôi, chớ họ chẳng biết hổ người. Vậy muốn dẫn dắt dân
chúng mà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân nhà cầm quyền
phải dùng lễ tiết thì chẳng những dân biết hổ người, họ lại còn cảm hóa
mà trở nên tốt lành” (Luận ngữ, Vi chính,3). Trước hoàn cảnh rối ren loạn
lạc như trong thời Xuân thu- Chiến quốc, cái cũ đã lỗi thời, cái mới đang
manh nha, các giá tr ị đạo đức đang băng ho ại, danh thực, trật tự lễ nghĩa
rối loạn, xã hội vô đạo, xa rời đạo lý.Theo ông muốn ổn định lại trật tự xã
hội thì phải chủ trương giáo hóa đ ạo đức và thực hiện chủ nghĩa “chính
danh định phận”. Tuy nhiên do điều kiện lịch sử biến đổi, nên cần phải cải
biến các chuẩn mực đạo đức, các định chế lễ tiết để cho phù hợp với
hoàn cảnh và thời cuộc. Vì nhân nghĩa được ông xem là bản tính của con
người, cho nên ông ch ủ trương việc trị nước là dùng nhân trị, đức trị,
giáo hóa đạo đức.
Khổng Tử cho rằng mỗi vật, mỗi người sinh ra đều có một chức năng,
công dụng nhất định và ứng với mỗi chức năng công dụng đó là một tên
gọi, một danh nhất định.Do vậy, mỗi danh có yêu cầu và tiêu chuẩn riêng,
vật nào người nào thực hiện đúng những yêu cầu của danh đó thì gọi là
“chính danh”, ngược lại là loạn danh. Theo tư tưởng chính danh, trong
mối quan hệ giữa vua-tôi, thì vua phải lấy lòng gia huệ, tôi phải trung , đó
là “ Chính danh “.V ề đạo cha con, con đ ối với cha phải lấy chữ “ Hiếu “
làm đầu, cha đối với con phải lấy lòng “ Từ ái “ làm trọng…
Nhưng làm thế nào để thực hiện được chủ nghĩa “chính danh”? Để giải
đáp điều đó, ông đã đưa ra phạm trù “lễ” trong hệ thống triết học chính trị
đạo đức của ông. Theo Khổng Tử lễ là phương tiện để thực hiện chủ
nghĩa “ Chính danh đ ịnh phận”; Lễ quan hệ mật thiết với nhân, nếu nói
nhân là chất thì lễ là văn, là hình thức biểu hiện của nhân.Có thể nói, lễ
theo Khổng Tử là chuẩn mực của mọi quan hệ đạo đức luân lý xã hội.
Như vậy, lễ ở Khổng Tử vừa mang tính đạo đức, vừa mang tính chính
trị để giáo hóa con ngư ời thực hiện đức nhân. Vì chủ trương nhân tr ị,
Khi ông sinh th ời, Nho gia chỉ là học phái tư tưởng không được phổ
biến vì không hợp thời cuộc lúc bấy giờ.Đến mãi sau này(thời nhà Hán),
mới được đưa lên thành m ột tôn giáo (Nho giáo) , nó không ch ỉ là tư
tưởng triết học chính trị mà nó còn mang c ả nội dung tôn giáo, nó th ần
thánh hóa đề cao sức mạnh siêu hình của trời.Nho giáo ra đời khi giai
cấp phong kiến cần một học thuyết đề cao luân lý đạo đức, đề cao tôn ti
trật tự, đề cao đạo vua tôi, vai trò đặc quyền đặc lợi của giai cấp phong
kiến, chính lúc này nó đ ã cần đến học thuyết của Khổng Tử. Tuy nhiên
phải cải tạo lại, Đổng Trọng Thư chính là ngư ời đã cải tạo lại căn cứ trên
cốt lõi của học thuyết Khổng Tử, khoát cho nó thêm màu s ắc tôn giáo để
nó phù hợp với lợi ích phong kiến, biến nó trở thành học thuyết vừa là
luân lý đạo đức, vừa là triết học, vừa là tôn giáo.Học thuyết của Đổng
Trọng Thư là học thuyết “tam cương ng ũ thường” . “Tam cương” là ch ỉ
ba mối quan hệ lớn trong xã hội: quan hệ quân thần, quan hệ phụ tử,
quan hệ phu phụ. Đây là ba mối quan hệ chính mang tính ch ất giường
cột trong xã hội . “Ngũ thường” là năm đức tính mà con ngư ời ai cũng
phải có đó là: nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng. Chu ẩn mực đạo đức của ông dựa
vào học thuyết thiên mệnh luân (luận về mệnh trời ) và âm dương gia
(thừa hưởng một phần từ Khổng Tử).
2. Tư tưởng triết học trong nho giáo của Đổng Trọng Thư:
Đổng Trọng Thư (180-105 tr.CN) ông là nhà tri ết học duy tâm tôn giáo
nổi tiếng, học thuyết của ông sau này đư ợc coi là hệ tư tưởng chính
thống, là khuôn mẫu của đạo đức xã hội của các triều đại phong kiến
Trung Quốc. Đổng Trọng Thư, ông tự coi mình là người tiếp tục tư tưởng
của phái nho gia, tiếp thu và khuyếch trương những yếu tố duy tâm trong
triết học của của Khổng Tử, Mạnh Tử, của phái “Âm dương - Ngũ hành”
và các trường phái khác nhau đ ể nhào nặn nên thứ học thuyết của mình,
một học thuyết mang đậm màu sắc chính trị duy tâm thần bí và khắc
nghiệt.
Về tư tưởng triết học và chính trị: Hai mệnh đề quan trọng nhất trong
Về lý luận đạo đức xã hội: Đổng Trọng Thư xây dựng một hệ thống
các phạm trù “tam cương”, “ng ũ luân”, “ngũ thường” làm khuôn m ẫu cho
mọi hành vi cư xử, giao tiếp, giáo dục, tự trau dồi cá nhân của mội giai
tầng trong xã hội. Thuyết “Tam cương” c ủa ông cho rằng, trong quan h ệ
giữa người với người trong xã hội có ba mối quan hệ là: vua - bề tôi; cha
– con; vợ - chồng. Sau mở rộng ra hai mối quan hệ nữa là: anh - em; bạn
bè thành “ngũ luân”. Thực ra đây là mối quan hệ đã được Khổng Tử,
Mạnh Tử đề cập đến rồi, như Đổng Trọng Thư đã tước đi một số yếu tố
có tính nhân đạo, tiến bộ mà đưa vào quan ni ệm một chiều khắt khe. Đặc
biệt là với “Tam cương” ông đưa ra th ứ quy tắc đạo đức phi lí, phi nhân
bản: vua xử tội chết thần phải chết nếu không mắc tội bất trung, cha bảo
con chết, con phải chết, nếu không là mắc tội bất hiếu, chồng bảo vợ
phải tuyệt đối tuân theo.
Ông đã dùng thuyết “âm dương” nhưng b ỏ mặt duy vật, nên ông cho
rằng quy luật của tự nhiên và viện đến ý “trời”để biện minh cho học
thuyết đạo đức của mình: Vua là t ượng của “trời”, nên có đức che chở,
hướng dẫn; bề tôi là tượng của “đất”, nên có đức tính chuyên ch ở, tuân
theo; chồng là khí “dương” nên có đ ức sinh, dẫn đầu, vợ là thuộc khí
“âm” nên có đức phụ trợ, tuân theo; cha là thuộc “mùa xuân” nên có đ ức
sinh, con là thuộc “mùa hạ” nên có đức dưỡng, tuân theo và tất cả là do
trời định đoạt.
Thuyết “Ngũ thường” (năm cái thường lý, thường tình của con người)
là Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Về mặt tên gọi và nội dung của nó là “chép lại”
của Không Tử. Nhưng Đổng Trọng Thư đã giải thích và vận dụng nó theo
mục đích của mình. Ông cho r ằng con người phải có đủ “Ngũ luân” để
thực hiện đạo “Tam cương”, và con ngư ời mới có đạo “Cương-Thường”.
Thực ra học thuyết về luân lý đạo đức của Đổng Trọng Thư nhằm mục
đích cao nhất là “trung quân”, trung thành tuy ệt đối với nhà vua. Bởi vì
mối quan hệ vua-tôi là đứng đầu trong ba mối quan hệ được coi là dường
cột, cơ bản của con người, xã hội. Điều này cho thấy hoàn toàn trái
luân”. Các nhà nh o Việt Nam không “ngu trung”, họ đòi vua trước hết
phải trung thành với tổ quốc và hiếu với dân. Họ đã ủng hộ Lê Hoàn,
Trần Thủ Độ, khi các ông n ày gạt bỏ những vua quan bất lợi của triều
đình cũ để lập lên triều đình mới. Đó là ảnh hưởng quan điểm thuyết
Chính danh của Khổng Tử khi vua không ra vua. Khi quân Minh sang
xâm lược nước ta thì Nguyễn Trãi gọi là “thằng nhãi con Tuyên Đức”.
Các Nho sĩ Việt Nam xưa kia “sôi kinh nấu sử” để tu thân, tề gia, trị quốc,
bình thiên Hạ, đó là con đường của các nhà Nho tiến thân, cống hiến cho
nước nhà, tận trung với vua, hết l òng vì xã tắc.
Các bậc vua chúa xưa nay vẫn lấy điều “lấy dân làm gốc”,” đưa thuyền
cũng là dân , lật thuyền cũng là dân” ( Tuân tử), vì dân lấy đạo nghĩa trên
hết, chăm lo cho dân, giáo hóa dân.Nhân ngh ĩa là phạm trù trung tâm
đứng đầu trong “ ngũ th ường” mà Khổng Tư đã dạy làm gương soi mình
cho các sĩ tư Việt nam thời trước.
Nhân nghĩa trong Khổng giáo l à tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thi êng
liêng của bề tôi đối với vua, của con đối với cha, của vợ đối v ới chồng.
Nguyễn Trãi đã viết :“ Đem đại nghĩa thắng hung t àn, lấy trí nhân để
thắng cường bạo “ và quan điểm của ông cha ta từ xưa đến nay đã lấy
điều “ Đức trị “ để trị nước, trong nếp sống h àng ngày, để đối nhân xử thế
của từng người : giữa thầy với tr ò, cha con, vợ chồng, anh em, nổi bật l à
vấn đề “ Hiếu đễ “. Đặc biệt ảnh hưởng đến nền giáo dục n ước ta “ Tiên
học lễ, hậu học văn”,“ Thầy ra thầy, tr ò ra trò” đó là tư tưởng và chính
danh của Khổng Tử. Hệ thống giáo dục từ x ưa là các nho s ĩ học đi ra làm
quan, giúp vua giúp nư ớc. Nho giáo cũng khẳng định s ư giáo dục trong
gia đình cũng có tác động mạnh mẽ.
Các kiến trúc đất, đền thờ, văn miếu th ơ Khổng Tư cũng đều mang
đậm nét tư tưởng của Nho giáo . Có thể nói nho giáo ở Việt nam được sư
dụng như hệ tư tưởng chính thống. Nho giáo trở thành tiêu chuẩn đánh
giá phẩm chất đạo đức của con ng ười.
Bên cạnh mặt tích cực nho giáo cũng có những mặt tiêu cực là xem
tạo thêm năng lượng cho cổ xe cách mạng tiến lên, nhưng cũng có
trường hợp nho giáo trở n ên thọc gậy bánh xe.
Hiện nay Việt Nam đang bước vào cơ chế thị trường xuất hiện nhiều
xáo trộn trong quan hệ xã hội, sinh hoạt gia đình và phẩm chất cá nhân.
Thực tế cho thấy mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa phát triển vậ t
chất và suy thoái tinh thần, giữa kinh tế v à đạo đức văn hóa x ã hội.
Để chống lại, khôi phục lại truyền th ống văn hóa tốt đẹp xưa nay của
nhân dân ta, đảng ta chủ trương giáo d ục con người, chiến lược con
ngưới, phát huy sáng t ạo, độc lập tự chủ, chủ trương giáo dục “ Tiên học
lễ, hậu học văn “ là những điều cốt yếu của nền giáo dục.
Về kinh tế chủ trương làm giàu chính đáng, c ạnh tranh lành mạnh, hợp
đạo để động viên khuyến khích nhân dân ta trong công cuộc xây dựng
đất nước, dần hình thành đạo đức trong kinh doanh.
Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống gia đ ình, các
phẩm chất, đạo đức của người phụ nữ, vẫn có những quan điểm coi
thường phụ nữ, lấy ti êu chuẩn tứ đức làm đầu “ công, dung, ng ôn, hạnh”.
Người phụ nữ trở nên bị cương tỏa, dồn nén trong v òng tứ đức không
phát huy được hết năng lực của m ình.
Truyền thống quan hệ cha con v à anh em đến nay trong gia đ ình Việt
Nam vẫn giữ được tư tưởng của nho giáo, l à nét đẹp trong quan hệ văn
hóa xã hội Việt nam. Nho giáo đ òi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa các th ành
viên trong một gia đình, trong một dòng họ, nó kêu gọi sự yêu thương,
đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn truyền thống của gia đình
và dòng họ.
Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời răn dạy của ông cha,
những gia huấn, gia giữ đ ược lưu truyền đến các đời con cháu. Việc thờ
cúng ông bà cha mẹ trong nhà gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên trong họ,
việc xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả, đều
góp phần làm khăng khít hơn m ối quan hệ trong gia đ ình, gia tộc. Đã có
nhiều biểu hiện tốt đẹp của t ình người nảy sinh từ đó.
3.Nho giáo Trung Qu ốc – Nguyễn Tôn Nhan-Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin.