Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa, tinh thần phụ nữ Việt Nam hiện nay TT - Pdf 25


i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÀNH
(Thích Đàm Thành) ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA, TINH THẦN PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY
(KHU VỰC ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60.22.90

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Giáo viên hướng dẫn:
TS. NGÔ THỊ PHƯỢNG HÀ NỘI - 2011 iii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU i

khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay 86
2.3.2. Khuyến nghị nhằm khắc phục việc lợi dụng Phật giáo ảnh hưởng
đến phụ nữ Đồng Bằng Bắc Bộ 89
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng, ra đời, tồn tại và
phát triển từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Tôn giáo đã sớm cấu thành đời
sống con người, tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ với các lĩnh vực khác

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Phật
giáo đối với đời sống văn hóa, tinh thần phụ nữ Việt Nam hiện nay” (khu
vực đồng bằng Bắc Bộ) làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học chuyên ngành
Tôn giáo học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đền đề tài
Tìm hiểu về Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống
văn hóa, tinh thần người Việt nói chung đến nay cũng có khá nhiều công
trình. Song công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống văn hóa, tinh thần của người phụ nữ Việt Nam còn khiêm tốn. Có thể
xem xét các công trình đó qua hai nhóm vấn đề sau:
Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về Phật giáo nói chung và ảnh hưởng của
Phật giáo đối với văn hóa, xã hội Việt Nam, có các công trình sau đây:“Tìm
hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 của Trần Hồng Liên; tác giả Nguyễn Đăng
Duy với “Phật giáo với Văn hoá Việt Nam” (1999), Nhà Xuất bản Hà Nội.
Các công trình khác như: “Phật giáo trong mạch sống dân tộc” (2006)
của Thượng toạ Thích Thanh Từ; “Văn hoá truyền thống và Phật giáo Việt
Nam” (1999), Nhà Xuất bản Hà Nội của Minh Chi
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về Phật giáo, cung cấp
những cơ sở lý luận cho việc nhìn nhận, đánh giá ảnh hưởng của Phật giáo
đối với đời sống văn hóa, tinh thần của phụ nữ Việt Nam khu vực đồng
bằng Bắc Bộ như: “Phật học khái luận” của tác giả Thích Chơn Thiện
(Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999); “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” của tác

3
giả Nguyễn Đăng Thục; “Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến
thời Lý Nam Đế” của tác giả Lê Mạnh Thát;“Đức Phật và Phật Pháp” của
tác giả Narada Thera do Phạm Kim Khánh dịch (Nxb Thuận Hoá và Thành
hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh, 1994); tác phẩm “Phật học cơ bản” của
ban Hoằng pháp Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nxb Tôn giáo,

- Trình bày những ảnh hưởng của Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ
đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của phụ nữ Việt Nam hiện nay;
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm khắc phục những vấn đề hạn chế
liên quan đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống văn hoá tinh thần người phụ nữ Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đời sống văn hóa, tinh thần là một khái niệm rộng, Luận văn chỉ tập
trung nghiên cứu một số ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá
tinh thần của phụ nữ Việt Nam trên một số lĩnh vực tiêu biểu như: văn hóa
ứng xử, văn hóa ăn, mặc, tín ngưỡng, tâm lý và phong tục tập quán.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo
Luận văn cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu
trong nước và ngoài nước về Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo với
người phụ nữ Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp của tôn giáo học và triết
học, phương pháp thống nhất giữa logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối
chiếu và so sánh.

5
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích khái lược chung về Phật giáo Việt Nam, luận
văn phân tích những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh
thần của người phụ nữ Việt Nam trên một số lĩnh vực tiêu biểu như: phong
tục, tín ngưỡng, văn hoá ứng xử, thực hành nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo của

viễn dương ấy, họ thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện
cho thuỷ thủ đoàn. Nhờ đó, các vị tăng sĩ đã truyền bá đạo Phật vào các dân
tộc ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Từ Trung Quốc, bằng đường bộ, Phật giáo cũng được truyền vào Việt
Nam. Không bao lâu sau, Phật giáo Bắc phương đã chiếm ưu thế và đã thay
đổi chỗ đứng của Phật giáo Nam truyền vốn có từ trước.
Vê sau cũng diễn ra sự giao thoa văn hoá trên dẫn đến hiện tượng
dung hoà giữa văn hoá Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa.
Sang thế kỷ III, có ba tăng nhân nước ngoài đến thuyết pháp tại Giao
Châu là Khương Tăng Hội người xứ Khang Cư (Sogdiane), tiếp đến là Chi
Cương Lương (Người xứ Nhục Chi) và Ma Ha Kỳ Vực (Người Ấn Độ).
Đến thế kỷ V, có hai thiền sư xuất hiện là Đạt Ma Đề Bà người Ấn Độ đến
Giao Châu giảng dạy về Thiền học và Thiền sư Huệ Thắng là người Việt.

7

Thế kỷ VI, Lý Bí khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương, giành độc lập,
dựng nước Vạn Xuân. Trong thời gian ở ngôi vua ngắn ngủi của mình (541
- 547) ông đã cho dựng chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc - Hà Nội)
(7;26). Sau này tại chùa Khai Quốc, Lý Thánh Tông đã lập ra Thiền Phái
Thảo Đường.
Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIV là giai đoạn cực thịnh của Phật giáo
Việt Nam, đạt đến đỉnh cao ở triều đại Lý - Trần (1010 - 1400). Giai đoạn
này Phật giáo phát triển mạnh, ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực của xã
hội nhất là về tư tưởng, đạo đức, văn học, kiến trúc… nhiều vị cao tăng trở
thành quốc sư và là cố vấn của các nhà vua về mặt chính trị, quân sự, ngoại
giao, kinh tế
Sang thế kỉ XV trở đi, Phật giáo suy yếu, Nho giáo ngày càng lớn
mạnh. Trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, Phật giáo được phục hồi lại,
song không được rực rỡ như trước. Các chúa Nguyễn và sau này là triều

dung giáo lý và hình thức tổ chức. Nhờ đó, đến nay Phật giáo đã khá hoà
nhập với đời sống tinh thần và nhu cầu tâm linh của đa số dân cư. Tiếp thu
ảnh hưởng của cả hai phía Ấn Độ và Trung Quốc, Phật giáo Việt Nam ngày
nay hội tụ cả hai dòng chính của đạo Phật là Đại thừa và Tiểu Thừa, chịu
ảnh hưởng của cả ba tông phái lớn là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật
Tông.
1.1.2. Tình hình Phật giáo Việt Nam hiện nay
Trong công cuộc đổi mới, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo cũng được
Đảng và Nhà nước Việt Nam nhìn nhận thấu triệt hơn, cụ thể hơn, đáp ứng
được yêu cầu của thời đại mới.
Phật giáo đã có những đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi đã tác
động đến đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Nhưng Phật
giáo cũng có những thích ứng, chuyển biến cho phù hợp với thực tiễn

9
xã hội. Sau khi Giáo hội Việt Nam thống nhất (1981), các hệ phái trong cả
nước đã được quy tụ và trở thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Theo thống kê năm 2005, Phật giáo cả nước có gần 10 triệu tín đồ,
hơn 35 ngàn tăng ni, hơn 15 ngàn ngôi chùa; 4 Học viện Phật giáo, 8 lớp
Cao đẳng và 31 trường Trung cấp Phật học và một số tờ báo, tạp chí nghiên
cứu Phật học [Xem 74; 112].
Trước năm 1975, Phật giáo chỉ có một trường Đại học, nay số trường,
lớp tăng dần hàng năm. Năm 1993 có 22 trường, đến 2001 có 34 trường.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 4 Học viện Phật giáo với hơn 1000 tăng ni
sinh, 35 lớp Cao đẳng và Trung cấp Phật học với trên 5000 tăng ni sinh;
1,076 cơ sở từ thiện và nhân đạo, trong đó có 950 lớp học sinh tình thương.
Phật giáo Nam tông Khơme có 2.500 các vị sư theo các lớp cao cấp và
Trung cấp Phật học Pali, đào tạo, bồi dưỡng, chức sắc, nhà tu hành trong
tôn giáo đang mở rộng theo hướng rút ngắn thời gian chiêu sinh, tăng số

Về môi trường xã hội, cư dân đồng bằng Bắc Bộ từ lâu sống bằng nghề
trồng lúa nước, làm nông nghiệp là chủ yếu. Do tập quán sản xuất, sinh
hoạt nên người dân đồng bằng Bắc Bộ sống quần tụ thành làng.
Đạo Phật du nhập vào đồng bằng Bắc bộ trong bối cảnh lịch sử những
năm cuối của thiên niên kỷ trước công nguyên, nền văn hóa Việt cổ bắt đầu
chịu những thử thách. Trải qua hơn một thế kỷ đầu du nhập, đạo Phật đã
trải qua nhiều thăng trầm cùng với những thăng trầm của lịch sử, văn hoá
và con người Bắc Bộ. Từ thế kỷ III đến thế kỷ VI, Phật giáo ở đồng bằng
Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của cả Phật giáo Ấn Độ lẫn Phật giáo Trung Quốc.
Từ thế kỷ VI đến thế kỷ X, Nho giáo ảnh hưởng ngày càng sâu rộng
trong đời sống xã hội ở miền Bắc. Trong thế “tam giáo đồng nguyên” của
quá trình Hán hoá, truyền bá Phật giáo bằng chữ Hán vốn chứa đựng nội
dung Nho giáo, thì Nho giáo và Phật giáo luôn giữ địa vị “độc tôn” trong tư
tưởng dân tộc là một đặc điểm của văn hoá Bắc Bộ. Cũng từ đây Phật giáo

11
Trung Quốc ngày càng ảnh hưởng sâu rộng và để lại những dấu ấn đậm
nét, sâu sắc hơn cả trong đời sống văn hoá tinh thần người Việt Nam.
Quá trình phát triển của Phật giáo khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ
Thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng bằng Bắc Bộ đã rất tôn
sùng Phật giáo và các vị cao tăng đức độ, tiếng tăm. Thời kỳ này chùa
chiền đã được xây dựng nhiều hơn. Tư tưởng nổi trội của Phật giáo khu
vực đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn này là tư tưởng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
của Trung Quốc truyền vào Việt Nam từ thế kỷ VI và tồn tại đến thế kỷ
XIII, và tư tưởng thiền Vô Ngôn Thông của Trung Quốc truyền vào Việt
Nam từ thế kỷ IX tồn tại đến cuối thế kỷ XIII.
Thời kỳ độc lập và phát triển dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, ở
đồng bằng Bắc Bộ ngoài các trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu, Kiến Sơ
(thuộc Bắc Ninh ngày nay), còn có các trung tâm Phật giáo mới ở Đại La
(nay thuộc Hà Nội), Hoa Lư (Ninh Bình). Các thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu

Vinh, Lê Thánh Tông đều ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo.
Thời Trịnh-Nguyễn, Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong, các chúa đều
hâm mộ Phật giáo, coi Phật giáo như là một cứu cánh, một chiến lược thu
phục nhân dân có lợi cho mình trong công cuộc lập quốc.
Ở thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn (1802-1945) tình hình đất nước
không ổn định. Nhà Nguyễn ban hành nhiều chính sách về chính trị, xã hội
mang tính chất chuyên chế hà khắc, thậm chí tàn sát cả công thần. Các thời
kỳ phát triển của các vua Nguyễn đều cấm đạo Công giáo,đề cao Nho giáo
lên địa vị độc tôn và có một số chiếu dụ hạn chế sự phát triển của Phật
giáo. Trong hoàn cảnh đó Phật giáo cố vượt ra khỏi sự cương toả của triều
đình, phát triển một cách độc lập và chi phối trở lại cách nhìn và thái độ
của triều đình đối với Phật giáo.
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945) là thời kỳ có nhiều cuộc khởi nghĩa
của nhân dân ta chống lại sự thống trị của thực dân Pháp. Đã có nhiều nhà

13
sư và cư sĩ Phật giáo trong cả nước trở thành những chiến sỹ kiên cường
trên mặt trận chống giặc ngoại xâm và tay sai.
Từ 1945 - 1954, Phật giáo đồng bằng Bắc Bộ cùng cả nước hoàn thành
cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Các tín đồ Phật giáo kể
cả các cao tăng vì tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc xếp áo cà sa mặc
chiến bào tham gia hàng ngũ cứu quốc.
Từ 1954 -1986, đồng bào Phật giáo đồng bằng Bắc Bộ và cả nước tích
cực tham gia công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Từ năm 1986 đến nay, Phật giáo
vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội và tinh thần
người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.
1.2.2 Đặc điểm của Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Thứ nhất, Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ giữ được nhiều dấu ấn
của Phật giáo nguyên thủy: Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào khu vực đồng

hoạt động xã hội của các nhà tu hành. Qua đó, cho thấy, Phật giáo ở đây
thực tế hơn, gần gũi với đời sống hàng ngày của con người, với lịch sử đấu
tranh chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước.
Thứ năm, Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ thiên về yếu tố nữ:
Đây là đặc điểm chung của Phật giáo Việt Nam. Bởi vì, Phật giáo Việt
Nam được du nhập từ Ấn Độ, nơi mà Phật giáo nguyên thủy đã không coi
khinh người phụ nữ. Đặc biệt, đồng bằng Bắc Bộ là khu vực đặc trưng của
nền văn minh nông nghiệp, nền văn minh luôn đề cao yếu tố “âm” - “đất”,
đề cao vai trò của người mẹ. Vì vậy, khi Phật giáo du nhập vào khu vực
đồng bằng Bắc Bộ, yếu tố nữ càng được đề cao và trở thành yếu tố đặc
trưng cho Phật giáo khu vực này. Có thể thấy rõ điều này từ hệ thống chùà
mang tên nữ. Yếu tố nữ trong Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ còn thể
hiện rõ qua hình tượng được tôn thờ trong tư tưởng và nghi lễ Phật giáo, rõ
nhất là hình tượng Phật Bà Quan Âm.

15
Tiểu kết chương 1
Ngay từ đầu công nguyên, Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo
đồng bằng Bắc Bộ nói riêng chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phật giáo Ấn Độ.
Còn Phật giáo Trung Quốc đến Việt Nam muộn hơn. Phật giáo đã hình
thành nên nhiều trung tâm khác khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ và trở thành
đầu não của Phật giáo cả nước.
Những chuẩn mực văn hóa, đạo đức mà Phật giáo đưa ra, nếu lược bỏ
màu sắc mang tính chất tôn giáo sẽ là những nguyên tắc ứng xử phù hợp
giữa người với người, rất có ích cho việc xây dựng văn hóa, xã hội của con
người. Điều đó cho thấy việc hướng con người tới điều thiện, hình thành
một xã hội, một nền văn hoá hài hoà, đậm tính nhân văn. Đặc biệt, Phật
giáo có tính quảng đại quần chúng nên đã thâm nhập sâu rộng vào lực
lượng đông đảo trong các tầng lớp xã hội, trong đó có phụ nữ và trở thành
một sức mạnh văn hóa, tinh thần đáng kể.

tâm niệm. Nó là một yếu tố quan trọng để xây dựng chuẩn mực đạo đức
trong ứng xử gia đình của người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ. Hiếu xuất hiện
trong đạo Phật mang sắc thái riêng biệt, gần gũi với xã hội do đó nó nhanh
chóng tạo nên những tác động tích cực tới tư duy, lối sống của người phụ
nữ đồng bằng Bắc Bộ.
Cũng bởi rất đề cao chữ Hiếu, Phật giáo còn có riêng một ngày lễ lớn
cho những người con, người cháu nhớ tới công ơn sinh thành dưỡng dục

17
của các bậc sinh thành. Đó chính là ngày lễ Vu Lan vào rằm . Phụ nữ
thường đi lễ chùa và cầu mong cho cha mẹ dù đang sống hoặc ở phương
trời nào cũng luôn được bình an, thanh thản.
Hiếu thảo là tiêu chuẩn đạo đức cơ bản trong xã hội Việt Nam, vì thế
người con hiếu thảo kể cả nam hay nữ luôn nhận được sự tán thưởng, khen
ngợi của mọi người; Ngược lại, những đứa con bất hiếu luôn bị dư luận xã
hội chê ghét, lên án, phê phán. Bất hiếu được liệt vào tội lớn nhất trong
năm tội “ngũ ngịch” của phật giáo.
Như vậy, Hiếu là phạm trù đạo đức trung tâm của đạo Phật nó có ảnh
hưởng lớn đối với văn hóa ứng xử của người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ
thời kỳ hiện đại, giúp mỗi người con, người cháu nhìn lại chính mình, xem
cách mình đối xử với đấng sinh thành như vậy đã đúng với đạo lý và truyền
thống của dân tộc chưa. Đồng thời, Phật giáo cũng đưa ra lời khuyên dạy
đối với những đứa con ngỗ nghịch làm cha mẹ phiền lòng.
Không chỉ dạy con cái nên hiếu thảo với cha mẹ, Phật giáo cũng răn
dạy cách đối xử, giáo dục của cha mẹ với con cái. Đạo đức Phật giáo giúp
người phụ nữ có những cách cư xử, giáo dục con cái về mọi mặt, giúp con
cái hình thành và phát triển nhân cách toàn diện. Nhân cách con người cơ
bản chịu ảnh hưởng của giáo dục gia đình mà mẹ là người góp phần quan
trọng. Đối với chồng, ảnh hưởng nhiều của giáo lý nghiệp báo, nhân quả và
ngũ đạo giới trong đạo Phật tạo nên cho người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ

những đức tính, phẩm hạnh của phụ nữ Việt Nam, vừa chứng minh cho
những đóng góp to lớn của chị em. Quan niệm phụ nữ là “phái yếu” đã
thực sự không còn thích hợp trong thời đại ngày nay.
2.1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng bằng Bắc Bộ đối với
văn hóa ăn, mặc của phụ nữViệt Nam hiện nay
Không chỉ ảnh hưởng đến văn hoá ứng xử của phụ nữ trong gia đình
và ngoài xã hội, Phật giáo còn có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hoá, quan

19
niệm ăn mặc của họ. Những ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa ăn mặc
của người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ được thể hiện trong cuộc sống hiện
đại khá đa dạng và phong phú, không chỉ ở góc độ nhân văn mà còn mang
hướng tới vẻ đẹp chân, thiện, mỹ.
Trong sự phát triển của xã hội hiện đại, văn hoá ăn, mặc đóng một vai
trò quan trọng, đặc biệt đối với người phụ nữ. Văn hoá ăn, mặc không chỉ
thể hiện quan niệm thẩm mỹ, lối sống, trình độ của người phụ nữ, mà còn
thể hiện đặc trưng của văn hoá truyền thống vùng miền. Đặc trưng văn hoá
truyền thống được bảo lưu kết hợp với sự tiếp thu của các yếu tố của văn hoá
ăn, mặc hiện đại.
Đối với người phụ nữ Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hoá ăn, mặc truyền
thống gắn liền với dấu ấn nông nghiệp. Trong đó, ăn, mặc rất được quan
tâm. Vì vậy, người Việt thường nói: “Có thực mới vực được đạo”. Nó quan
trọng, đến trời cũng không dám xâm phạm: “Trời đánh còn tránh bữa ăn”.
Ăn uống là văn hoá, đó là văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên. Cho
nên, trong cơ cấu bữa ăn truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
thể hiện rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước. Người
phụ nữ trong gia đình đồng bằng Bắc Bộ chính là người nội trợ phải đảm
đương trách nhiệm chăm lo ăn uống cho cả gia đình “nữ công gia chánh”.
Từ khi Phật giáo du nhập vào đồng bằng Bắc Bộ, tồn tại và phát triển
cho đến ngày nay, cùng với những tác động của các yếu tố văn hoá ngoại

ảnh hưởng ít nhiều đến phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ. Không chỉ ảnh hưởng
trong văn hoá ăn mà đạo Phật du nhập vào đồng bằng Bắc Bộ còn ảnh
hưởng đến cả văn hoá mặc. Sự kết hợp giữa ăn mặc và tâm để tạo thành
người tu chân chính, Phật tử thuần thành. Màu áo nâu của trang phục Phật
giáo đã ảnh hưởng ít nhiều đến trang phục và phong cách ăn mặc của người
phụ nữ.
Vào ngày lễ, hội, người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ thường mặc các

21
kiểu trang phục truyền thống như áo tứ thân, mớ ba mớ bảy, hay áo dài.
Đầu đội chiếc nón quai thao, đeo bên mình một bộ xà tích bằng bạc, Chân
đi đôi dép cong cong hay đôi guốc mộc bằng gỗ. Trang phục này đã làm
cho người phụ nữ Việt ở Bắc Bộ trở nên kín đáo, duyên dáng.
Dưới thời Pháp cai trị, cùng với sự giao lưu văn hoá phương Tây,
chiếc áo dài cổ truyền được cải tiến dần thành chiếc áo tân thời. Trong
những năm kháng chiến chống Pháp, trang phục của phụ nữ Bắc Bộ thường
mặc áo cánh nâu, cổ tròn hay cổ tim, phối với quần đen vải phin hay láng.
Vấn khăn và chít khăn vuông mỏ quạ. Những người làm cán bộ, thoát ly thì
mặc áo sơ mi với nhiều kiểu cách và màu sắc phong phú. Đặc biệt trong bối
cảnh ngày nay, kinh tế thị trường phát triển, văn hóa mặc của người phụ nữ
đồng bằng Bắc Bộ trở nên đa dạng và đa sắc hơn bất cứ lúc nào hết. Tuy
nhiên, dù đa dạng kiểu cách hay đa sắc màu, thì trang phục của người phụ
nữ, nhất là phụ nữ nông thôn bao giờ cũng giữ nét đẹp truyền thống là sự
kín đáo, khéo léo, lịch sử, trang nhã. Cũng có thể, vẫn còn có hình ảnh ăn
mặc hở hang, lố bịch, thiếu thẩm mỹ ngoài xã hội. Chính những quy định
về ăn, mặc, nói năng, đi lại trong chùa cũng tác động không nhỏ tới cách
ăn, mặc, giao tiếp của phụ nữ.
Đạo Phật ảnh hưởng tới lối ăn mặc của phụ nữ, còn xuất phát từ chính
cách ăn mặc của các nhà tu hành. trang phục của các nhà tu hành thường
được làm bằng các loại vải thô màu nâu. Y phục thường nhật chia làm 2

Trong niềm tin của người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ, Phật giáo cùng
với tín ngưỡng thờ Mẹ, thờ Mẫu đã có sự hội nhập vào nhau. Mẹ Dâu trở
thành thuỷ tổ của hệ thống Phật giáo dân gian Tứ Pháp (Bà Dâu - Pháp
Vân, Bà Đậu - Pháp Vũ, Bà Tướng - Pháp Lôi, Bà dàn, pháp điện).
Đức Phật có vai trò đặc biệt quan trọng bên cạnh các vị thần, thánh, tiên
khác. Họ kể lại cho con cháu của mình nghe nhiều câu chuyện về những
câu chuyện thần thoại mang màu Tiên - Phật. Niềm tin Phật giáo tồn tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status