Ảnh hưởng của phật giáo đối với đời sống tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân miền tây nam bộ - Pdf 20

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo với cái đích là cứu con người thoát khỏi nỗi khổ muôn
đời, cứu cánh là giải thoát. Nhìn bề ngoài nó chỉ bàn về nhân sinh, nhưng để
cho những quan niệm nhân sinh này tồn tại một cách vững chãi, trãi dài hơn
2500 năm thì chúng ta phải dựa trên một cơ sở triết học, một nền tảng lý luận
vô cùng sâu sắc.
Phật giáo đã đến với người Việt Nam từ rất lâu đời, vào khoảng nửa
cuối thế kỷ thứ I. Do bản chất từ bi, đạo Phật đã nhanh chóng tìm được chỗ
đứng và bám rễ vững chắc trên mảnh đất này.
Từ khi vào Việt Nam, đạo Phật đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống tinh thần của người Việt nói chung, quần chúng nhân dân ở Miền tây
Nam bộ nói riêng. Bởi vì các triết lý nhà Phật xuất phát từ tâm tư và nguyện
vọng của người dân lao động, nên số người theo đạo Phật tăng lên rất nhanh
theo thời gian. Trong thời đại ngày nay, Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo
khác đang có nhiều vấn đề đặt ra trong mối quan hệ nội sinh, các quan hệ đối
ngoại giữa các tôn giáo cũng như mối quan hệ giữa tôn giáo với Nhà nước.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng tôn giáo,
nhằm thực hiện phương châm “tốt đời đẹp đạo”.
Ở mảnh đất Miền tây Nam bộ, từ thế kỷ XVII, các cư dân ở nhiều
nơi đã hội tụ về đây sinh sống. Cũng từ đây, Phật giáo hình thành, phát triển,
và có vai trò quan trọng đến đời sống tinh thần của một bộ phận quần chúng
nhân dân ở Miền tây Nam bộ. Đề tài: “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân Miền tây Nam bộ”
giúp người viết hiểu hơn về một trường phái triết học lớn và tìm hiểu truyền
thống văn hóa, tín ngưỡng của tổ tiên để lại.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng cơ bản của triết học
Phật giáo, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần.
Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu những tư tưởng triết học Phật

nhiều núi non, vừa có nhiều sông ngòi với nhiều đồng bằng trù phú, có vùng
nóng ẩm mưa nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, lại có những
vùng sa mạc khô cằn, nóng nực. Tính đa dạng và khắc nghiệt của điều kiện tự
nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn
đậm nét lên tâm trí người dân Ấn Độ cổ.
Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xã hội rất sớm, khoảng thế kỷ thứ
XXV TCN đã xuất hiện nền văn minh đầu tiên là văn minh sông Ấn . Đến thế
kỷ XV TCN, có sự xâm nhập của người Arya vào khu vực của người bản địa
(người Dravida) hình thành nên các quốc gia Ấn Độ tạo nên nền văn hóa mới
gọi là văn hóa Véda.
Đặc điểm nỗi bậc của nền kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ là sự tồn
tại rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình “Công xã
nông thôn” mà đặc trưng của kết cấu này là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của
Nhà nước của các Đế Vương , mà gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của
người dân trong công xã. Xã hội thời kỳ này được phân chia thành 4 đẳng cấp
lớn là : Tăng lữ, Quý tộc, Bình dân tự do, Nô lệ cung đình. Sự phân chia đẳng
cấp đó làm cho xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn đến cuộc đấu
tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội. Trong cuộc đấu tranh ấy , nhiều
tôn giáo và trường phái triết học đã ra đời, trong đó có Phật giáo.
Sự xuất hiện của Phật giáo vào thế kỷ VI trước CN không tách
rời cuộc đấu tranh ấy, cũng như không tách rời sự phát triển của xã hội Ấn Độ
lúc bấy giờ. Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bà-la-
môn và chế độ đẳng cấp. Phật giáo lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm đường
giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội nô lệ
3
Ấn Độ. Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bà-la-môn, đặc biệt là chống lại quan
điểm của kinh Vêđa, nên Phật giáo được xem là dòng triết học không chính
thống. Phật giáo ra đời trước bối cảnh lịch sử của Ấn Độ có một nền triết học
chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng tôn giáo và ít có cuộc cách mạng lớn trong
triết học. Trong triết học Ấn Độ, quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm

đến nay vẫn chưa có đủ tư liệu để biết chính xác. Sử liệu chỉ nói đến tình hình
Phật giáo nước ta từ thế kỷ thứ II SCN, lúc bấy giờ trung tâm Phật giáo ở Luy
Lâu (vùng Dâu - Thuận Thành – Hà Bắc) đã khá thịnh đạt. Điều đó khiến ta
có thể suy đoán rằng Phật giáo từ phía Nam Ấn Độ qua đường bieån vào Việt
Nam khoảng thế kỷ thứ I SCN. Các vị sư đầu tiên là người Ấn Độ, nhưng về
sau lại thấy xuất hiện tên nhiều vị sư Trung AÙ và Trung Hoa. Có thể nói rằng,
ngay từ thời rất xưa, Việt Nam đã được cao tăng Ấn Độ đi đến truyền giáo
4
trực tiếp. Trải qua các Triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần… đặc biệt là dưới hai
triều đại Lý, Trần, Phật giáo đã để lại dấu ấn một thời vàng son.
Thế kỷ thứ VI, với sự phân chia Đàng trong - Đàng ngồi, đã
là một mốc quan trọng có ảnh hưởng đến lịch sử Phật giáo. Một phần nào đó
sự ảnh hưởng của phía Bắc đã được xem như khơng còn tác dụng đối với
vùng đất Đàng trong. Đây cũng là một trong những dấu ấn tạo điều kiện cho
Phật giáo Đàng trong mang những nét đặc trưng mới trong q trình phát
triển sau này.
Người Việt đã di dân vào khai phá vùng đất phía nam Tổ Quốc, vùng đất đạo
phật có mặt từ rất sớm. Mặc dù theo chân đồn di dân, đạo Phật có mặt trên
vùng đất mới tại mỗi khu vực thời gian có khác nhau, nhưng có thể tìm thấy 4
hướng chủ yếu :
− Hướng thứ nhất, từ miền Thuận - Quảng, đều do các nhà sư từ miền
Trung vào thế kỷ thứ XVII, XVIII và XIX.
− Hướng thứ hai, theo đường thủy từ Trung Quốc, Đạo Phật đã được
các nhà sư đến tận vùng Đồng Nai, Gia Định, Mỹ Tho truyền đạo (năm
1697). Những ngơi chùa ở Mỹ Tho, Cai Lậy và các Phật đường sau này xuất
phát từ các nhà sư Trung Quốc này.
− Hướng thứ ba, đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu người Quảng Đơng, tự
Chân Lạp sang vùng đất mới đặt tên là Hà Tiên, dựng chùa Tam Bảo.
− Hướng thứ tư, năm 1938, Hộ Tơng truyền bá Phật giáo Nam tơng từ
Campuchia vào Nam Bộ.

Chính cái “Danh” và “Sắc” đó hợp lại với nhau tạo thành “Ngũ uẩn”: Sắc (vật
chất), Thụ (cảm giác), Tưởng (ấn tượng), Hành (suy lý) và Thức (ý thức).
“Danh” và “Sắc” tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người. Nhưng sự tồn
tại của vật chất chỉ là tạm thời, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi.
Do đó cũng không có cái gọi là “Tôi”.
b. Vô thường: Nghĩa là vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình
bất tận: sinh-trụ-dị-diệt. Vậy thì “có có”-“không không” luân hồi bất tận,
“thoáng có”-“thoáng không”, cái còn mà chẳng còn, cái mất mà chẳng mất.
Đức Phật dạy: “ Tất cả những cái gì trong thế gian đó là biến
đổi, hư hoại, đều là vô thường”. Vì vậy vô thường nghĩa là không thường,
không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng,
đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã.
Có người sai lầm cho rằng: Đạo phật nói vô thường, phải
chăng gieo vào lòng mọi người những quan niệm chán đời, thối chí? Vì vậy,
sự vật đã vô thường thì không làm gì cả, có siêng năng hoạt động kinh doanh
đến đâu sự nghiệp rồi cũng không đi đến đâu cả.
Vô thường của đạo phật là một phương pháp chỉ rõ mặt trái
của đời, để bài trừ những sự mê lầm, ngăn chặn người chạy theo vật dục, nó
chưa phải là thuyết tuyệt đối. Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật
từ thân tâm cho đến hoàn cảnh. Hiểu lý vô thường, con người dễ giữ được
bình tĩnh, thản nhiên trước cảnh đổi thay bất ngờ.
c. Duyên: Là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả.
Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái
lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên. Trong đó duyên là điều
kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả. Kết quả ấy lại nhờ có duyên mà
trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới.
Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự
vật, tuân theo quy luật nhân – quả.
Nhân là cái mầm, quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh.
Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có. Nếu

“Nghiệp” theo sát văn từ có nghĩa là hành động hay việc làm.
Tư tưởng, lời nói hay việc làm thường do ý muốn làm động cơ khởi xướng.
Phật giáo gọi ý muốn hay ý chí ấy là tác ý.
“Nghiệp báo” là một định luật nhân quả trong lĩnh vực luân lý,
hay như người phương Tây thường nói là “Ảnh hưởng của hành động”. Phật
giáo không nhìn nhận có một linh hồn trường cửu được tạo nên một cách
ngẫu nhiên và độc đoán. Phật giáo tin có định luật và công lý thiên nhiên,
không phải do một đấng thượng đế đế toàn năng hay một đức Phật đại từ đại
bi tạo nên.
Có một vài người theo nhận thức riêng của mình, cho rằng
thuyết “nghiệp báo” trong Phật giáo là một loại nha phiến xoa dịu và ru ngủ
con người xấu số. Đức phật không hề dạy như vậy, thuyết “nghiệp báo” trong
Phật giáo cũng không bao giờ chấp nhận một cuộc sống phán xử sau kiếp
sống.
7
Theo lý “nghiệp báo”, chúng ta không nhất định bị trói buộc
trong một hoàn cảnh nào vì “nghiệp báo” không phải là số mạng cũng không
phải là tiền định do một oai lực quyền bí nào đã định đoạt cho ta một cách bất
khả kháng. Chúng ta có đủ năng lực để chuyển phần nào cái “nghiệp” của ta
theo ý muốn.
“Nghiệp” không nhất thiết phải là hành động trong quá khứ mà
thôi. “Nghiệp” bao trùm quá khứ và hiện tại, là nơi trong quá khứ chúng ta
hành động như thế nào, và trong tương lai chúng ta sẽ làm như thế nào cũng
tùy nơi hành động chúng ta trong hiện tại. Hiểu một cách khác nữa, ta phải
thêm rằng, trong hiện tại chúng ta như thế nào không hoàn toàn bởi vì trong
quá khứ chúng ta đã như thế nào. Và trong tương lai chúng ta sẽ như thế nào
cũng không tùy thuộc nơi chúng ta như thế nào trong hiện tại. Hiện tại chắc
chắn là con đẻ của quá khứ và là mẹ của tương lai. “Nghiệp” trong sự báo
ứng vô cùng phức tạp, ta không thể nhìn hiện tại mà quả quyết quá khứ và
tương lai.

ngũ uẩn. Khổ Đế là một chân lý, một sự thật về bản chất cái khổ, ta có thể
chia làm ba phương diện :
* Phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức
xúc, đau đớn. Con người sinh ra đã khốn khổ, lớn lên già yếu, bệnh tật lại
càng thêm khổ, và cuối cùng là cái chết, sự tan rã cuối cùng của thể xác đem
đến khổ thọ lớn lao.
* Phương diện tâm lý: Là sự đau khổ do không toại ý, không
vừa lòng…, tạo nên đau khổ. Những mất mác thua thiệt trong cuộc đời làm
mình khổ.
* Phương diện Phật học : Khổ là thụ ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng,
hành và thức). Khi ta bám víu vào năm yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự
ngã của ta thì sự khổ đau có mặt. ý niệm về “thân thể tôi”, “tình cảm tôi”, “tư
tưởng tôi”, “nhận thức của tôi”… hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ, từ
đó mọi đau khổ phát sinh đều gắn liền với ý niệm về cái tôi ấy.
Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự
bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất. Về
phương triết học, khổ đau là một thực tại như thực đối với con người. Khổ đế
là một chân lý khách quan hiện thực, khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng
loạt nhân duyên được tạo tác từ tâm thức. Như vậy tri nhân thực tại là một
cách trực tiêp đi vào soi sáng mọi hình thái khổ đau của con người. Để thấu
hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người không thể dừng lại ở sự
thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản
chất nội tại của nó.
− Tập Đế : Nhân Đế: Triết lý về nguyên nhân của sự khổ, có
12 nguyên nhân gây ra sự đau khổ (thập nhị nhân duyên) :
• Vô minh: Không sáng suốt, không nhận thức được chân lý.
• Duyên hành: là ý muốn thúc đẩy hành động. Nỗi khổ ý thức do
hành động gây ra, các cấu trúc thuộc hoạt động tác tạo của tâm lý thông qua
thân, miệng, ý.
• Duyên thức: Tri giác hiện hữu, tâm tư trong sáng trở nên u tối.

muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rõ mới lầm tưởng
rằng “cái tôi” là quan trọng nhất, là cái có thật cần phải bám víu, củng cố và
thỏa mãn nhu cầu của nó.
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay
không là do lòng mình. Hay nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người
đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục
vọng, vị kyû hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc
đời đầy an lạc hạnh phúc.
− Diệt Đế : Phật giáo cho rằng mỗi nỗi khổ có thể tiêu diệt
được để đạt đến trạng thái Niết bàn có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Đạo Phật
quan niệm rằng, nguyên nhân khổ là do sự vận hành của thập nhị nhân duyên,
trong đó gốc rễ sâu xa là sự vô minh. Vậy muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự
vận động của 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí
tuệ bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ và con
người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức
là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nói cách khác, diệt trừ được vô minh,
tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại, tu đến Niết bàn, tịch diệt, khi ấy
mới hết luân hồi sinh tử.
Phật giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng
tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm dần, thâm tâm của
10
bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên
đơn giản hơn, rộng lượng hơn. Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy
tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị nao núng
bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng sợ haõi mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và
sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác
hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn với mọi người xung
quanh rộng lượng và bao dung hơn. Trên cơ sở ấy bạn hưởng thụ đời sống có
chất lượng hơn. Tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ
nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy.

chính niệm, chính định thuộc về định.
Thế giới hiện nay đang từng bước phát triển, đi vào đa phương
hóa toàn diện. Nhiều học thuyết, lý thuyết triết học, đạo học đang được tái
11
thẩm định để tìm ra những giá trị ứng dụng cho nền văn minh hiện đại. Nếu
phải tìm ra những phạm trù đạo đức chung để xây dựng và góp phần ổn định
mọi rối loạn trong cuộc sông nhân sinh thì Bát chính đạo là định hướng cho
đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Chừng nào con người còn đau khổ thì
Bát Chính Đạo vẫn còn là kim chỉ nam hướng dẫn mọi hành vi, lời nói và tư
tưởng. Chừng nào mọi Quốc gia trên thế giới còn mong muốn đem lại an lạc
cho nhân loại chừng đó Bát Chính Đạo vẫn là đóng góp của Phật giáo vào
tiếng nói chung của nhân loại trên tiến trình hòa bình thế giới. Có thể khẳng
định giá trị của Bát Chính Đạo như một bản đồ tu tập cho mọi người ở mọi
thời đại.
c. Quan điểm của triết học Phật giáo về ngũ giới :
Phật giáo còn đưa ra năm điều răn để mọi người chủ động thực
hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người, gọi là ngũ giới. Ngũ
giới là năm điều cấm mà đức Phật đưa ra nhằm để ngăn cản những tưởng
niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chính. Năm điều răn ấy là:
không sát sinh, không trộm cướp, không được tà dâm, không được nói dối,
không được uống rượu.
Năm điều răn này y như cứ dựa trên tâm từ bi, bát ái, bình
đẳng trên phương diện dứt trừ tội lỗi cá nhân và đem lại trật tự, an vui cho xã
hội mà thành lập. Đức Phật không bắt buộc chúng tam phải triệt để tuân theo,
và cũng không hăm dọa nếu không tuân theo thì phải bị trừng phạt, sự giữ ngũ
giới hay không là hoàn toàn do chúng ta tự liệu lấy.
− Bất sát: Không được giết hại
Đây là điều răn thứ nhất mà Đức phật khuyên chúng ta không
được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến loài vật. Sinh mạng có một giá
trị quý báu, nhất là sinh mạng người, giết hại sinh mạng kia để tô điểm cho

giới Phật tử, mà còn dùng chung cho tất cả những ai muốn sống một cuộc
sống lành mạnh, an vui, có lễ nghĩa, tiến bộ.
Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của một
bộ phận dân cư ở Miền tây Nam bộ
2.1. Sinh hoạt Phật giáo ở Nam bộ
Từ buổi đầu đến định cư, lập chùa, lập đình hầu hết các chùa ở
Đồng Nai, Gia Định, Tiền Giang là những am làm bằng tranh, ngày ngày các
tu sĩ vào rừng chặt cây, bện lá tự dựng nhà, đóng bàn ghế sử dụng và thờ tự.
Điều này cho thấy trong hoàn cảnh khó khăn buổi ban đầu thiếu thốn về vật
chất và tinh thần, nhưng sinh hoạt Phật giáo đã thực sự trở thành một nhu cầu
của người dân lúc bấy giờ. Theo tâm trạng của họ lúc xa quê cách tổ, được
ngày ngày rảnh rang nằm để suy nghĩ, ai ai cũng hồi tưởng đến quê nhà, nhớ
về mồ mã cha ông, nhớ bạn bè, làng xóm. Vì Vậy họ thường đến chùa để
nghe sư tổ giảng kinh, nói pháp hầu vơi đi nỗi buồn xa quê và tìm sự thanh
thản ở tâm hồn.
Vào thời kỳ Nhà Nguyễn, sinh hoạt Phật giáo đã trở nên khởi sắc,
một số chùa được tiếp tục xây dựng và trùng tu. Người dân đến với đạo Phật
vì đạo Phật cứu khổ, cứu nạn, giúp họ an tâm sản xuất, khai phá vùng đất
mới, khuyên họ làm điều lành, điều thiện, tránh xa điều ác, cái dữ.
Có thể nói, ứng phú là hình thức sinh hoạt Phật giáo chủ yếu của
người dân Nam bộ. Ứng phú là môn kinh hành sự trong chùa, là môn âm nhạc
riêng khi hành lễ, chư tăng tụng kinh, tán xướng. Ứng phú thường sử dụng
“tán”, với mục đích khen ngợi, với giọng đọc kéo dài, thang âm cẩn thận,
nhịp rất phức tạp.
Nhìn chung lối ứng phú này rất gần gũi với âm nhạc cổ truyền Việt
Nam. Mặc dù ở những giai đoạn tiếp theo sau, do điều kiện xã hội và môi
trường sống có thay đổi. Khoa “ứng phú đạo tràng” không còn chiếm vị trí
chủ đạo, nhưng nó đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian
trong Phật giáo ở Nam Bộ. Ứng phú tồn tại và phát triển được, một phần
13

phương sâu sắc.
Trên lĩnh vực thờ cúng, sự hòa nhập của tín ngưỡng vào các chùa
Phật giáo nhiều đến mức có ý kiến cho rằng: “Văn hóa dân gian Việt Nam đã
bị Phật hóa” . Chẳng hạn như chùa Thiên Phước, chùa Cửu Long, chùa Bửu
Lâm (Tiền Giang) thờ bà Cửu Thiên Huyền Nữ, thờ Thần Nông, Phục Hy . . .
bên cạnh việc thờ Phật. Tính khoan dung của người Việt Nam cũng như tính
“Khế lý, Khế cơ” trong bản thân Phật giáo đã thể hiện sự thích ứng, mềm dẻo
qua việc lưu giữ, đặt để các gian thờ thần linh thuộc tín ngưỡng bản địa, để
“chung sống” với các vị Phật và Bồ tát.
Phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian xâm nhập vào các chùa
Phật giáo. Ở Miền tây Nam bộ còn được thể hiện qua việc cúng cô hồn, cúng
14
sao hạn, cúng tam tai… Trên phương diện thờ cúng, Phật giáo cũng gây ra mê
tín dị đoan vào tín ngưỡng dân gian bản địa.
Những biểu hiện và nguyên nhân của sự xâm nhập trên phải được
xét đến ở nhiều khía cạnh. Song hai trong số những điều kiện quan trọng là
bản thân nền Phật giáo khi theo chân những người di dân vào vùng đất mới và
những điều kiện về kinh tế - xã hội, nói chung là bối cảnh xã hội của vùng đất
Miền tây Nam bộ. Xét từ yếu tố nội sinh, Phật giáo ngay từ Ấn Độ đã mang
tính chất “Khế lý, Khế cơ”. Khi truyền vào một địa phương nào đó, một đất
nước nào đó, cũng bắt buột phải thích ứng với phong tục, tập quán bản địa
của địa phương ấy, đất nước ấy, kể cả những tín ngưỡng bản địa.
2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của một bộ
phận dân cư ở Miền tây Nam bộ
2.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt tư tưởng và đạo lý
2.2.1.1. Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý
Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất
cả các tông phái Phật giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào
lòng của người dân Việt. Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của

Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu
sắc một đạo lý khác của đạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư
trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một
trình tự phù hợp với bước phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt.
Tình thương ở mọi người bắt đầu từ gaàn đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ
hàng lan dần đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy, bạn,
đồng bào và mở rộng đến quê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân loại
trên vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và
ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt. Bởi Phật giáo
đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền
thống của dân tộc Việt.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có
cùng một đối tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân
dân , chúng sanh, vũ trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt
tâm linh nữa. Đạo lý Tứ Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là từ bi khiến
cho ta sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân
thực và miên trường. Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho
Phật giáo Việt Nam hình thành được một bản sắc đặc thù rất riêng biệt của nó
tại Việt Nam, ở khu vực Miền tây Nam bộ, góp phần làm phong phú và đa
dạng hóa nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt.
2.2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo qua phong tục, tập quán
2.2.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo qua tập tục ăn chay,
phóng sanh, bố thí
Về ăn chay, hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh
hưởng nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm từ bi
của Phật giáo. Đạo Phật không muốn sát sinh hại vật, mà trái lại phải thương
yêu mọi loài. Không chỉ người dân ở Nam Bộ mà khắp cả nước cũng theo tục
lệ này.
Số ngày họ ăn chay tuy có khác nhau trong từng tháng,
nhưng cùng giống nhau ở quan điểm từ bi của Đạo Phật. Do hiệu quả của việc

Tập tục đến chùa để tìm sự bình an cho tâm hồn, chiêm
ngưỡng vẻ đẹp thanh thoát của các pho tượng, lắng nghe tiếng chuông ngân
vang, đã trở thành một nét phong tục “đi chùa lễ phật” lâu đời của tổ tiên.
Những ngày lễ hội lớn trong năm bắt đầu từ Phật giáo như
lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lễ tắm Phật,…thực sự đã trở thành ngày hội văn hóa
của người dân Nam Bộ. Điều này phù hợp với nếp sinh hoạt cộng đồng, một
sinh hoạt truyền thống ở vùng đất mới.
Đặc biệt đối với đồng bào Khơ-me Nam Bộ, chịu ảnh hưởng
sâu sắc của Phật giáo Nam tông, còn có những lễ dân tộc mang đậm nét tưởng
Phật giáo như lễ mừng năm mới (Chol-chơ-nam Thơ-mây ) vào các ngày 13,
14, 15 tháng 4 âm lịch; lễ cúng ông bà tổ tiên ( Donta ) vào ngày 30 tháng 8
dương lịch; lễ cúng trăng (Okcombok ) ngày 15 tháng 10 âm lịch… đã trở
thành những ngày hội vô cùng sôi nổi và đặc sắc của đồng bào Khơ-me.
Những ngày đại lễ Phật giáo vừa nêu trên đã là chất keo gắn
bó những người dân Nam Bộ, nâng cao tình yêu thương đồng loại và nảy nở
lòng hy sinh, tính vị tha, củng cố lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ. Ảnh
hưởng đó ngày càng sâu rộng trong quần chúng nhân dân ở Đồng bằng sông
Cửu Long.
Phong tục tập quán tại Việt Nam trong quá trình tồn tại và
phát triển đã chịu nhiều tác động của trào lưu văn hóa khác nhau, nhất là từ
17
Trung Quốc, trong đó Phật giáo đã dự phần quan trọng trong việc định hình
và duy trì không ít các tập tục dân gian mà chúng ta thấy vẫn còn tồn tại cho
tới ngày nay. Tuy nhiên, không phải các tập tục có sự ảnh hưởng của Phật
giáo là tốt tất cả, mà trong đó có tập tục cần phải chắc lọc lại như tập tục xin
xăm bói quẻ, tục cúng sao hạn, tục coi ngày giờ, tục đốt vàng mã, để phù hợp
với chánh pháp. Đó là nhiệm vụ nặng nề của các nhà truyền giáo trong thời
hiện đại.
2.2.3. Ảnh hưởng của Phật giáo qua các loại hình văn hoá, nghệ
thuật.

hưởng ít nhiều tư tưởng Phật giáo như các vở "Phạm Công Cúc Hoa", "Tấm
Cám", "Kim Vân Kiều" do sự ảnh hưởng tinh thần từ bi, hỷ xả của Phật
giáo nên luôn luôn các tuồng cải lương ở phần kết thúc đều có hậu.
18
PHẦN KẾT LUẬN
Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của
dân tộc Việt Nam và đã trở thành bản chất và bản sắc của dân tộc Việt Nam
nói chung và của người dân ở C nói riêng. Đạo Phật đã ảnh hưởng đến mọi
sinh hoạt của người Việt từ triết lý, tư tưởng, đạo đức, văn học, nghệ thuật
cho đến phong tục tập quán, nếp sống nếp nghĩ Tìm hiểu và nghiên cứu về
sự “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của một bộ phận
quần chúng nhân dân Miền tây Nam bộ ", chúng ta càng thấy rõ nhận định
trên. Từ quan niệm nhân sinh quan, thế giới quan, đạo lý, thẩm mỹ cho đến
lời ăn tiếng nói của quảng đại quần chúng ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của
triết lý và tư tưởng Phật giáo. Những câu nói đầu lưỡi "ở hiền gặp lành", "tội
nghiệp", "hằng hà sa số", "ta bà thế giới" là điều phổ biến trong quan hệ ứng
xử giữa mọi người. Qua quá trình lịch sử, traõi qua bao cuộc biến đổi thăng
trầm của đất nước, Phật giáo đã khẳng định mình và có một chỗ đứng vững
chắc trong lòng của dân tộc, tồn tại và phát triển cùng với dân tộc. Rõ ràng
Phật giáo đã đóng góp cho dân tộc ta nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế,
chính trị, văn hóa và xã hội.
Những tác động, ảnh hưởng của Phật giáo lên đời sống cư dân Miền
tây Nam bộ là hệ quả của quá trình giao lưu văn hóa giữa văn hóa dân tộc.
Trong đó những yếu tố mang tính truyền thống, hình thành nhân cách, bản
lĩnh và bản chất của dân tộc là chủ yếun - đã gặp gỡ, hòa quyện trong những
yếu tố tinh thần, tư tưởng từ bi cứu khổ của Phật giáo Việt Nam. Những yếu
tố ngoại sinh đã góp phần lớn vào việc củng cố, duy trì vá phát triển nội hàm
bản sắc dân tộc. Trong đó Phật giáo góp phần vào việc làm phong phú thêm
cá tính, đặc trưng dân tộc người Việt ở Miền tây Nam bộ. Ngược lại, chính
những bản chất dân tộc đã làm giàu hơn nền văn hóa Phật giáo. Một minh

một nền văn hóa lành mạnh; đậm đà bản sắc dân tộc với những tư tưởng
truyền thống tốt đẹp sẽ giúp chúng ta nhận định, chắc lọc và cũng là liều
thuốc tốt nhất giúp chúng ta chống lại những cặn bã văn hóa ngoại nhập hoặc
văn hóa mê tín phát sinh từ bản địa. Những yếu tố tích cực của Phật giáo là
một phần tư tưởng văn hóa Việt sẽ cùng với văn hóa dân tộc Việt làm nhiệm
vụ chọn lọc và phát triển văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc trong thời
điểm hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học, NXB Lý luận chính trị,
2006.
2. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia, Các bộ
môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình triết học Mác –
Lênin (dùng cho học viên cao học), NXB Chính trị Quốc gia, 2004.
3. Trương Sĩ Hùng, Mấy tín ngưỡng tôn giáo Đông Nam Á, NXB
Thanh niên, 2003.
4. Nguyễn Hùng Hậu , Đại Cương Triết học Phật Giáo Việt Nam, NXB
Khoa Học Xã Hội, 2002.
5. Hoà Thượng Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật Giáo Ấn Độ, Thành
hội Phật Giáo TP.HCM ấn hành, 1989.
6. Trần Hồng Liên, Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ
-Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 2000.
7. Thượng toạ Thích Thanh Duệ - Tuệ Nhã, Tập tục và nghi lễ dâng
hương, NXB Văn hoá dân tộc, 2004.
8. Thích Nguyên Tạng, “Phật Giáo tại Việt Nam”, Website:
[email protected].
9. Thích Nhật Từ, Nghĩ Về Hệ Thống Giáo dục Phật giáo Việt Nam,
http://www.buddhismtoday.com
10. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, 2001.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status