ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÚY ANH ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG TINH THẦN Ở XÃ HỘI NHẬT BẢN Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62.22.80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Hữu Vui
Nam và nhiều nơi trên thế giới. Trong những năm gần đây, với chủ trương
cùng xây dựng quan hệ hợp tác hai nước lên tầm đối tác chiến lược, Nhật
Bản và Việt Nam đều dựa vào những nét tương đồng của mỗi quốc gia để
tìm nguồn lực tinh thần hợp tác, trong đó Phật giáo đã có một vị trí đóng
góp đáng kể. Việc nghiên cứu Phật giáo Nhật Bản với chủ đề “Ảnh hưởng
của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở xã hội Nhật Bản” vì lẽ đó, có ý
nghĩa thiết th
ực, không chỉ mặt thực tiễn mà cả về lý luận văn hóa, chính
trị và tôn giáo.
Với tính cách là một bộ phận của đời sống tinh thần của xã hội, Phật
giáo có ảnh hưởng, cả tích cực và tiêu cực, không chỉ đến đời sống tinh
thần, mà đến đời sống xã hội nói chung. Những tác động tích cực và tiêu
cực của Phật giáo nói riêng và các hiện tượng tôn giáo nói chung, đan xen
và diễn biến phức tạ
p, trong lịch sử và trong hiện tại. Có lẽ do tính phức
tạp này, mà phương pháp tiếp cận các luận điểm về Phật giáo và về tôn
giáo nói chung thường không thống nhất, thậm chí dẫn đến những tranh
luận không nhỏ về triết học và cả về chính trị. Việc nghiên cứu ảnh hưởng
của Phật giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản, do đó, sẽ góp
phần làm rõ hơ
n phương pháp tiếp cận và một số luận điểm liên quan đến
Phật giáo Nhật Bản.
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, Nhật Bản cũng như Việt
Nam, đều phải dựa vào các nguồn lực tinh thần của xã hội để "ứng vạn
biến", trong đó có Phật giáo. Phát huy các giá trị tinh thần của Phật giáo,
trở thành một phần không thể thiếu, để bảo tồn và phát triển mỗi dân tộ
c
một cách độc lập, tự chủ. Là một quốc gia đã đạt được trình độ phát triển
kinh tế - xã hội cao nhưng lại có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về
đời sống tinh thần. Việt Nam có thể tham chiếu nhiều kinh nghiệm thành
Nam thực hiện hoặc được dịch sang tiếng Việt có đề cập nghiên cứu Phật
giáo Nhật Bản. Trước hết phải kể đến tác phẩm Những con đường tâm linh
phương Đông gồm 2 tập do Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin ấn hành năm
2000, Nghiên cứu Tôn giáo Nhật Bản của Joseph M.Kitagawa do Nhà xuấ
t
bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2002; Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện
nay do Phạm Hồng Thái (chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản
năm 2005;… Nhìn chung những công trình này đều tiến sâu hơn một bước
trong viện nghiên cứu đời sống tôn giáo Nhật Bản và ảnh hưởng của các
4
tôn giáo, trong đó có Phật giáo đối với đời sống xã hội Nhật Bản. Tuy
nhiên, nếu nhìn một cách hệ thống thì ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống tinh thần xã hội Nhật Bản đã diễn ra như thế nào? Hiện nay, Phật
giáo đóng vai trò gì đối với sự phát triển văn hoá và xã hội của xã hội Nhật
Bản? Nhất là từ việc xem xét những ảnh hưởng c
ủa Phật giáo đối với văn
hoá xã hội Nhật Bản có thể rút ra những gợi ý gì cho công cuộc xây dựng
nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam? vẫn còn là những
vấn đề tiếp tục cần được làm sáng tỏ
Luận án này sẽ góp phần trả lời câu hỏi đó từ góc độ nghiên cứu
“Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thầ
n ở xã hội Nhật Bản”.
Thêm nữa, đề tài này được vận dụng lý luận về chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử là một hướng tiếp cận khác so với các
công trình đã có, và đề tài này còn góp phần cùng nghiên cứu vai trò của
Phật giáo trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
của Việt Nam, đặc biệt trong đối tác chiến lượ
c với Nhật Bản hiện nay.
chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nướ
c đối với tôn giáo; giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc cũng như phát triển đời sống văn hoá tinh thần
của dân tộc.
Làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên
ngành Tôn giáo học và Triết học tôn giáo; hỗ trợ cho công tác quản lý tôn
giáo.
Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, các công trình đã công bố của tác giả, danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án g
ồm 3 chương, 7 tiết.
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN ÁN
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN
1.1. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản
1.1.1. Sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản
- Điều kiện tự nhiên và xã hội của Nhật Bản
Điều kiện tự nhiên của Nhật Bản khá đa dạng, khí hậu ôn đới, đã
ả
nh hưởng đến tính cách, tâm lý người Nhật, như rèn luyện tinh thần dũng
cảm, tính tiến thủ. Ngoài ra, người Nhật cũng khá cởi mở, nặng tính thực
dụng với một bản lĩnh thép được hun đúc qua quá trình phát triển của đất
6
nước. Ý thức về tinh thần liên kết trong thị tộc và niềm tin vào tầm quan
trọng của các quyền lợi và uy quyền cha truyền con nối, là sức mạnh luôn
chiếm ưu thế trong suốt lịch sử của Nhật Bản và vẫn còn rất sống động
trong nước Nhật hiện đại. Tính thống nhất cao về chủng tộc (người Nhật
đến đối tượng thờ cúng cũng đa dạng, hỗn tạp. Thực trạng này phản ánh
thực tế phân biệt tín ng
ưỡng giữa các thị tộc trên quần đảo Nhật Bản, nó
7
không tạo cơ sở tinh thần cho sự thống nhất của quốc gia Nhật Bản. Vì
những lẽ trên, nên từ buổi đầu du nhập, Phật giáo luôn góp phần bổ sung,
bù đắp cho những điều mà Thần đạo không thể có. Do đó xuất hiện xu
hướng hỗn dung, vay mượn lẫn nhau giữa Thần và Phật, trong đó yếu tố
trội là Thần.
- Giao lưu văn hóa
Do sự biệt lập và thi
ếu những mối giao lưu văn hóa mà so với Triều
Tiên, Trung Hoa, trình độ văn minh của Nhật Bản lúc đó thấp hơn, đến
gần cuối thế kỷ VII mới có sự gia tăng đột ngột trong quá trình du nhập
các yếu tố của văn hóa Trung Hoa vào Nhật Bản. Những tiếp xúc, giao lưu
văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Hoa lúc đầu thông qua vai trò của các
thương gia, thợ thủ công hay tù binh hay qua những vật phẩm hữu hình có
được trong các cuộc trao đổi. Dần dần những kiểu tiếp xúc đó trở nên thứ
yếu và thay bằng cuộc tiếp xúc tôn giáo. Điều cần thấy ở đây là, Phật giáo
lúc đó đã phát triển cực thịnh ở Trung Hoa và trở thành công cụ chuyển tải
văn hóa quan trọng nhất từ Đại Lục sang Nhật Bản. Quá trình giao lưu,
tiếp biến Phật giáo nói riêng và văn hóa nói chung ở Nhật Bản trả
i qua hai
giai đoạn: tiếp nhận cái mới và kết hợp với bản sắc văn hóa truyền thống,
và giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là nhân tố tác động vào quá trình du
nhập, phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản.
1.1.2. Quá trình tiếp biến của Phật giáo Nhật Bản
Kể từ khi du nhập đến nay, Phật giáo Nhật Bản đã có lịch sử tồn tại
khoảng 1500 năm. Trong kho
khác và cũng có sự phân hóa giữa Phật giáo quý tộc và Phật giáo dân gian.
Sự phát triển của Phật giáo một mặt, có sự nâng đỡ từ phía các tập đoàn
cầm quyền, do nó đã đáp ứng lợi ích cá nhân của những kẻ quý tộc muốn
tiến thân; mặt khác, tạo dựng được chỗ tựa về tư
tưởng cho chính các
Thiên Hoàng. Cũng thông qua Phật giáo, văn minh của Trung Hoa được
du nhập, dù thời kỳ này quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Hoa càng về cuối
càng tỏ ra lạnh nhạt và không thể sánh với thời kỳ Nara. Sự xung đột giữa
các chùa, tu viện Phật giáo đã góp phần đẩy đất nước lâm vào tình trạng
nội chiến.
1.1.3. Phật Giáo Nhật Bản phát triển
Phật giáo thời kỳ Kamakura - Kiếm Thương (1185 - 1333)
Trong thời kỳ này, Ph
ật giáo có hai khuynh hướng mới. Một mặt, quay
trở lại các tông phái của thời Nara; mặt khác là sự xuất hiện các tông phái
mới trong Thiền tông. Do ảnh hưởng của chiến tranh; do sự sa đọa của
tăng lữ; do quan hệ Nhật - Trung bắt đầu được thiết lập. Đồng thời, cũng
9
do nội chiến, tâm trạng con người bất an, … Những tác động trên đã làm
cho tín ngưỡng Phật giáo được phục hồi, các tông phái thời Nara: Hoa
Nghiêm tông; Pháp tướng tông; Luật tông; Tịnh Độ tông; Nhật Liên tông
được phục hưng, ngoài ra Thiền tông được du nhập và phát triển .
Sự phát triển của Thiền tông trong giai đoạn này đã đưa đến một sự
dung hợp mới giữa Nho, Phật và tư tưởng của tầng lớp võ sĩ đạo. Trong
thời kỳ Kamakura, Tịnh Độ tông, Nhật Liên tông và Thiền tông là ba dòng
Phật giáo mới trở thành các tông phái đặc sắc của Nhật Bản. Trong thời kỳ
Kamakura, có thể nói đã hình thành "Phật giáo Nhật Bản" bản xứ. Các vị
đại sư thời kỳ này, bắt đầu viết các tư tưởng của mình bằng tiếng Nhật.
Phật giáo thời Muromachi (1333- 1568) và Azuchi- Momoyama (1568 -
ền thống Thần - Phật hợp nhất dần
dần bị mai một, nhường chỗ cho sự khôi phục vị thế quốc đạo của Thần
đạo vào thời kỳ Minh Trị duy tân.
Phật giáo từ thời Meiji - Minh Trị
Trong những năm đầu thời kỳ Minh Trị, các tổ chức tôn giáo có sức
mạnh đáng kể trong chính phủ. Kiểu tổ chức tôn giáo như vậy không có vị
trí chính thức trong chính quy
ền, nhưng uy thế tôn giáo đối với Thiên
Hoàng vẫn là một thứ vũ khí đầy quyền lực. Những nghi thức cổ xưa liên
quan tới Thiên Hoàng đã được chính thức hóa trong Thần đạo. Do đó, Phật
giáo lâm vào một giao đoạn cực kỳ khó khăn. Để tồn tại, Phật giáo phải tự
thích nghi và đổi mới. Phật giáo trở thành thế lực cổ vũ cho chủ nghĩa đế
quốc
đương thịnh hành ở Nhật Bản, và trở thành đồng minh của chủ nghĩa
"Đại Đông Á" của quân phiệt Nhật. Nhiều đảng phái chính trị của Phật
giáo hình thành mà lớn nhất là Sokagakkai (Sáng giá học hội) (1945), có
liên hệ với Kômeitô (Đảng Công Minh) với trên 10 triệu tín đồ.
Quá trình tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, ở thời kỳ từ sau Minh Trị,
nhất là bước vào đầu thế kỷ 20, đã xuất hiện hàng loạt tông phái, hội
đoàn
của các tôn giáo. Riêng Phật giáo, theo thống kê niên giám Tôn giáo xuất
bản năm 1950, đã từ 13 tông, 56 phái tăng vọt lên 162 phái. Sau chiến
tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản bị quân đồng minh chiếm đóng. Chính
sách tự do tín ngưỡng đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các tôn giáo
ngoài Thần đạo như Phật giáo, Tin lành, nhiều hiện tượng tôn giáo mới nổi
lên như Ômoto, Aum….
Trong Phật giáo, lần đầu tiên đã có tổ ch
ức thống nhất lấy tên là Hội
Liên hiệp Phật giáo theo kết quả của đại hội họp năm 1915 (năm thứ 4 Đại
thánh thiện của các lãnh đạo tôn giáo; năm là, Phật giáo Nhật Bản có thiên
hướng hiểu ý nghĩa của cuộc sống và thế giới theo lối thẩm mỹ hơn là đạo
đức siêu hình; sáu là, Phật giáo Nhật Bản khẳng định tính tối hậu của thế
giới tự nhiên.
12
1.2.2. Bốn đặc trưng chủ yếu của Phật giáo Nhật Bản
Trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước mặt trời mọc, lại bộc lộ rõ
một số đặc điểm của Phật giáo. Nhưng xem xét toàn bộ quá trình phát triển
của Phật giáo ở nước này, kể cả thực trạng Phật giáo hiện nay, có thể khái
quát một số đặc đi
ểm chung của Phật giáo Nhật Bản như sau:
Tính dân tộc trên cơ sở tổng hợp các yếu tố tôn giáo ngoại lai và bản
địa: Nét đặc trưng cho đặc điểm dân tộc chủ nghĩa của Phật giáo Nhật Bản
là, về giáo lý, nó dựa vào thuyết Thần - Phật hỗn hợp, thậm chí nó dựa vào
cả Khổng giáo và lễ nghi thờ tổ tiên nói riêng và Thần đạo nói chung của
Nhật Bản. Về ni
ềm tin tôn giáo, trong quá trình phát triển, Phật giáo Nhật
Bản, dù có bị ảnh hưởng bởi những học thuyết tư tưởng khác nhau thì
niềm tin các vị thần Nhật Bản là hiện thân của các Phật và Bồ tát Ấn Độ
vẫn không thay đổi. Nghĩa là tất cả những gì là đặc trưng cho tính dân tộc
chủ nghĩa của Phật giáo Nhật Bản đều là sự kết hợp giữa các yếu tố Nhật
B
ản với các yếu tố ngoại lai (Phật giáo Triều Tiên, Trung Quốc và Khổng
giáo Trung Quốc). Nhưng kết quả thì hòan toàn mang tính Nhật Bản, từ
vai trò "bảo hộ quốc gia" của Phật giáo, đến Thiền và Trà đạo, Hoa Đạo,
Kịch No, nghệ thuật Thư pháp…Phật giáo Nhật Bản coi nghi lễ thờ cúng
Taishi (Thái tử) ngang với nghi lễ thờ cúng Thích Ca Mẫu Ni (Thái tử Tất
Đạt Đa) và Di lặc (Thái tử Ajita). Mặc dù chỉ là một cư
sĩ, nhưng Thái tử
giáo Nhật Bản có nhiều giáo phái khác nhau. Phật tử Nhật Bản có đặc
điểm là tu luyện theo Sơn môn. Cho đến năm 1915, Phật giáo nước này
mới có tổ chức thống nhất là Hội liên hiệp Phật giáo. Các tông phái Phật
giáo Nhật Bản có từ
mức độ Thiền định cho tới mức độ có tính cuồng tín
của tín đồ phái Liên tông; và từ mức độ tranh luận rắc rối về thực tại của
Thiên Thai tông tới các lễ nghi tỷ mỷ chi tiết của Chân Ngôn tông. Giáo lý
của những tông phái này cũng không kém phần đa dạng so với các hoạt
động thực tiễn của chúng. Bởi lẽ, tín đồ của các tông phái này gồm những
người có tư tưởng triết h
ọc ở tầng lớp trên và cả những người cuồng tín
nhất thuộc các tầng lớp bình dân.
Từ đầu thập niên 70 thế kỷ XX, với sự xuất hiện của các tổ chức
"Tôn giáo mới - mới", "Thần minh nhỏ - nhỏ", số lượng tổ chức tôn giáo
có thiên hướng Phật giáo gia tăng. Theo niên giám tôn giáo năm 1994 của
Nhật Bản thì đến cuối năm 1993 nước này có 231.094 tổ chức tôn giáo,
183.996 pháp nhân tôn giáo (thần xã, chùa, việ
n, thánh đường, …)
219.720.000 tín đồ. Như vậy số lượng tín đồ vượt dân số Nhật Bản khoảng
100.000.000. Nghĩa là một người dân có thể là tín đồ của nhiều tôn giáo
khác nhau, trong đó có Phật giáo.
14
Tính nhân đạo hiện thực: Phật giáo Nhật Bản không chỉ dựa vào những
triết lý kinh điển Phật giáo, mà còn dựa vào nhu cầu hướng thiện của con
người. Các phật tử Nhật Bản không quan tâm nhiều đến việc thấu hiểu triết
lý và giới luật Phật giáo, mà tập trung vào truyền thống lịch sử Phật giáo
theo các khái niệm thuộc di sản Thần đạo của họ cũng như theo trả
i
nghiệm bản thân. Kết quả là hình thành Phật giáo "Dân tộc Nhật Bản" với
quan hệ mất tự do, sự lệ thuộc để vươn lên cái cao cả, cái tuyết đối.
15
Về nhận thức luận và phương pháp tư duy: Phật giáo khi du nhập vào
Nhật Bản có những đặc điểm đặc thù, trong đó như đã nhận xét, nó gần gũi
với đời sống thế tục, đạo đức, thẩm mỹ thế tục hơn là triết lý cao siêu.
Chính vì những lý do này mà logic học Phật giáo, kể cả hiện lượng và tỷ
lượng đề có ảnh hưởng lớn đế
n đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản,
đặc biệt là về phương diện lối sống, nhận thức. Những ảnh hưởng đó cộng
với sự tiếp kiến văn hoá phương Tây đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của tư duy người Nhật Bản, qua đó ảnh hưởng tới sự phát triển khoa
học và công nghệ hiệ
n đại ở Nhật Bản hiện nay.
Về nhân sinh quan (giải thoát luận): Phật giáo cũng như tôn giáo nói
chung, không chịu trách nhiệm về việc có những quan hệ tha hóa trong các
lĩnh vực đời sống xã hội, mà trái lại Phật giáo tái hiện lại quá trình
"chuyển hóa" sức mạnh của chính con người thành lực lượng xa lạ với nó,
làm đảo lộn, chặn đứng hay dịch chuyển các quan hệ hiện thực. Khi tái
hiện sự tha hóa hiệ
n thực của con người, Phật giáo đương nhiên không chỉ
thực hiện chức năng tiêu cực, mà thể hiện cả chức năng tích cực trong việc
góp phần giải thoát con người khỏi các lực lượng xa lạ (bể khổ) đang
thống trị con người. Bằng cách đó, Phật giáo thực hiện chức năng đền bù,
bù đắp cho những con người bị thiệt thòi, yếu thế, lệ thuộc hay b
ất lực
nhằm xây dựng lại ý thức cũng như tham gia cải biến những điều kiện sinh
tồn khách quan. Điểm tích cực của Phật giáo là nó không gieo rắc lượng
"thuốc phiện" quá mức.
2.2.2. Phật giáo với đạo đức, lối sống của xã hội Nhật Bản trước hiện
phép ứng xử với đất, trời, người, vật.
Ngoài viêc cùng các tôn giáo và hệ tư tưởng xã hội khác tham gia
hình thành và làm phong phú nền đạo đức xã hội, trong quá trình tồn tại,
Phật giáo cũng bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với xã hội
Nhật Bản. Những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo không chỉ tồn tại trong
lĩnh vực ý thức, trong tư t
ưởng mà còn cả trong nhân cách của các tầng lớp
sư tăng. Những hạn chế đó có phần tạo nên những ảnh hưởng xấu đối với
xã hội và trong thực hành nền đạo đức của người Nhật Bản, song chính
người Nhật một phần nhờ Phật giáo cũng đã biết hạn chế những yếu tố đó.
Ngày nay Nhật Bản đã trở thành một nướ
c công nghiệp hiện đại bậc
nhất trên thế giới, song người Nhật vẫn bền chí, kiên gan, dẻo dai âm thầm
đến kỳ lạ để đưa đất nước tiến mạnh về phía trước. Trong quá trình hội
nhập vào quá trình toàn cầu hóa, phẩm chất trọng danh dự, trọng chữ tín
vẫn trụ vững trước cơn bão của văn minh vật chất theo kiểu phương Tây.
17
Trong một nhân cách đa diện và giàu sắc thái của người Nhật, những đóng
góp đạo đức của Phật giáo là không thể bác bỏ.
2.3. Phật giáo với văn hóa nghệ thuật và phong tục, lễ hội của xã hội
Nhật Bản trước hiện đại
2.3.1. Phật giáo với văn hóa nghệ thuật của xã hội Nhật Bản trước
hiện đại
Giáo lý Phật giáo bàn luận về thế giới n
ội tâm của con người, chỉ ra
cách thức để đạt tới chiều sâu và sự giàu có của tâm hồn. Vì lẽ đó, nó để
lại dấu ấn sâu sắc trong văn hóa nghệ thuật. Trong lịch sử, quá trình truyền
bá Phật giáo cũng là quá trình truyền bá văn hóa nghệ thuật, như các
truyền thuyết về Đức Phật, kinh kệ, giáo lý của các giáo phái, và trước hết
đại
Trong tập quán của người Nhật, việc chia tách để tìm ra những ảnh
hưởng của Phật hay ảnh hưởng của Nho, của tôn giáo hay của thế tục
nhiề
u khi rất khó khăn. Tuy nhiên, xuyên thấm qua các tập quán đó lại có
thể nhận ra những dấu ấn của Phật giáo. Đó là sự mềm mại trong giao tiếp
và ứng xử, nhân ái trong quan hệ với thiên nhiên, con người; một lối sống
cá nhân cần cù, cần kiệm và giản dị; một khả năng siêu thoát khi nhìn
ngắm tạo vật và sự lóe sáng của hành động khi dồn nén…Những giá trị đó
cũng đồng thời là nhữ
ng giá trị ẩn chứa trong Phật giáo.
Việc đánh giá ảnh hưởng của Phật giáo đến các tập quán, lễ hội
truyền thống ở Nhật Bản, là công việc khó khăn cần rất nhiều sự nghiên
cứu dày công. Hơn nữa, đối với một nền văn hóa được xem là sự tích hợp
của nhiều giá trị bản địa và ngoại lai như văn hóa Nhật Bản, thì công việc
đó càng tr
ở nên khó khăn. Duy chỉ có một điều dễ nhận thấy là, trong các
tập quán, lễ hội, có nhiều lễ hội phát tích từ Phật giáo. Nhiều lễ hội có địa
điểm "thiêng" là các chùa, tu viện Phật giáo. Quan trọng hơn, ý nghĩa của
các lệ hội rất phù hợp với tinh thần "từ, bi, hỷ, xả" của nhà Phật.
Tóm lại, Phật giáo trở thành nơi bảo lưu, giữ gìn và tham gia sáng
tạo nhiề
u giá trị văn hóa truyền thống của Nhật Bản. Mặc dù vai trò của
Phật giáo Nhật Bản bị quy định bởi địa vị khác nhau của nó trong các giai
đoạn lịch sử, và việc thực hiện vai trò này không giống nhau giữa các giáo
phái, song Phật giáo nước này đã lan tỏa ảnh hưởng của mình không chỉ
trên bình diện tư tưởng, mà còn trong cả hành vi, lối sống của con người;
không chỉ ảnh hưởng đến chính trị mà c
ả trong kinh tế, văn hóa và cuối
cùng được hội tụ ở nhân cách người Nhật. Chính Phật giáo là ngôi trường
ng
thời cũng có một số kết quả tiêu cực. Điểm nổi bật của mặt tích cực là Phật
giáo đã góp phần hình thành "Nhân cách Nhật Bản" đầy nghị lực và hiệu
quả trong quá trình đưa nền kinh tế Nhật Bản lên vị trí thứ hai trên thế
giới, nhưng người Nhật vẫn biểu hiện nhân cách giản dị nhưng cũng rất
tinh tế trong lối sống.
Đ
iểm đáng quan tâm của mặt tiêu cực là hiện đại hóa tại một nước
công nghiệp phát triển như Nhật Bản ngày nay không tránh khỏi tình trạng
20
khoa học công nghệ càng phát triển thì càng gây ra sự thiếu hụt về tri thức.
Do đó, trong quá trình hiện đại hóa dưới tác động của toàn cầu hóa, đã tác
động mạnh mẽ vào quá trình thế tục hóa Phật giáo nói riêng và tôn giáo
nói chung. Phật giáo truyền thống hiện nay có ảnh hưởng không lớn. Song
các nhân tố Phật giáo thì rất phổ biến, nên việc giải quyết vấn đề ảnh
hưởng của Phật giáo (và các tôn giáo) đến đời sống tinh thần của xã h
ội
thông qua những tổ chức mới "mới" của nó - luôn luôn là vấn đề có ý
nghĩa triết học và thực tiễn sâu sắc ở Nhật Bản.
3.2. Một số so sánh về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh
thần xã hội ở Nhật Bản và Việt Nam
3.2.1. Một số điểm tương đồng và khác biệt
Một số điểm tương đồ
ng
Tuy không hoàn toàn đồng nhất nhưng nhìn đại thể, ảnh hưởng của
Phật giáo đến đời sống tinh thần xã hội ở Nhật Bản và Việt nam vẫn có thể
thấy rõ những nét tương đồng xuất phát từ các cơ sở sau:
Thứ nhất, niềm tin Phật giáo đan xen với niềm tin Nho giáo và Lão
giáo
sử dân tộ
c ở mỗi nước.
Trải qua khoảng 2000 năm phát triển ở Việt Nam và hơn 1500 năm
phát triển ở Nhật Bản, Phật giáo đều trở thành Phật giáo dân tộc và gắn
liền với lịch sử dân tộc ở mỗi nước. Phật giáo Nhật Bản đã giữ vai trò "bảo
hộ quốc gia" trong nhiều thời kỳ lịch sử.
Phật giáo Nhật Bản và Việt Nam luôn gắn liề
n với lịch sử dân tộc.
Quá trình hiện đại hóa của Nhật Bản không thể không có sự đóng góp của
nhân tố Phật giáo. Cuộc Minh Trị duy tân, thoạt tiên, thực hiện Thần -
Phật phân ly, song chỉ được vài năm đã bị phai nhạt và không thực hiện
được. Trong quá trình này, Phật giáo đã nắm quyền chủ đạo trong việc
điều hành hơn là phía Thần đạo, xét cả về số lượng lẫn thự
c lực giáo hóa.
Và Phật giáo đã phục hồi thành Phật giáo Hộ Quốc theo Thần đạo Nhà
nước. Ở Việt Nam, dưới thời kỳ Đinh, Lý, Trần, các vị cao tăng được triều
đình tham chính hoặc cố vấn về các vấn đề đại sự quốc gia. Cả ở Nhật Bản
và Việt Nam đều có vua quan quý tộc am hiểu Phật giáo hoặc đi tu. Ở
Nhật Bản Thái tử Shótoku được tôn th
ờ với tư cách là Đức Phật tổ của
Nhật Bản. Ở Việt Nam, vua Trần Nhân Tông (1258-1308) viết nhiều tác
phẩm Phật học nhằm đề cao thái độ hướng tâm, giác ngộ bằng chính cái
tâm tĩnh lặng của mình, bằng chính sự hồn nhiên tự tại sáng suốt, vứt bỏ
dục vọng để đạt tới Niết Bàn.
22
Thứ tư, Phật giáo Nhật Bản và Việt Nam đều có tính tổng hợp hài
hòa các yếu tố tôn giáo ngoại lai và bản địa.
Giáo lý Phật giáo Nhật Bản được tổng hợp đến mức thu gọn vào biểu
trưng Thần - Phật và được duy trì mãi đến thế kỷ XIX. Điển hình cho tính
của Phật giáo. Tình hình này cũng diễn ra ở Việt Nam. Phật giáo Việt Nam
chủ trương từ bi, bác ái, ở hiền gặp lành. Không phải triết lý cao siêu, mà
23
tính nhân đạo hiện thực và nếp ứng xử có đạo đức là biểu hiện chính cho
việc kết hợp chặt chẽ đạo với đời ở Phật giáo Việt Nam và Nhật Bản.
Ở Nhật Bản, các phong trào Phật giáo thế tục phát triển từ nhiều thế
kỷ nay; ví dụ phong trào tu tại gia của Nhật Liên tông vào đầu thế kỷ XX
do nhà sư của tông phái này là Tanaka Chigaku (1861 - 1939) đề xướng. Ở
Việt Nam đạo lý "Ph
ật tại tâm" được thể hiện rất cụ thể như: "Thứ nhất là
tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa"; hay "Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ
cha kính mẹ mới là chân tu"; hay "Dù ây chín bậc phù đồ, không bằng làm
phúc cứu cho một người" v.v.
Ngày nay trong xã hội Nhật Bản, Phật giáo và các tôn giáo khác đang
thực hiện phong trào hòa bình và các hoạt động xã hội khác nhau, thể hiện
sự quan tâm và tham gia tích cực vào đời sống chính trị. Ở Việt Nam hiện
nay, việc th
ực hiện phương châm "Đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội"
cũng là thể hiện sự quan tâm và tham gia tích cực vào đời sống chính trị
của Phật giáo Việt Nam.
Thứ sáu, tư tưởng hạnh phúc mà trạng thái siêu việt của nó là Niết
Bàn, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam và
Nhật
Trong bốn loại hạnh phúc thì hạnh phúc thứ tư thuộc về hạnh phúc tinh
th
ần, còn lại là hạnh phúc vật chất. Hạnh phúc không bị khiển trách phát
sinh từ một đời sống trong sạch và lương thiện. Từ đó có thể thấy giá trị
của con người không phải chỉ ở của cải vật chất, ở địa vị cao hay thấp mà
ở chỗ: biết tự trọng, có sự an tâm, yên tĩnh của tâm hồn. Nói cách khác,
hòa bình. Tính thế tục của Phật giáo Nhật Bả
n hướng mạnh vào vai trò
"bảo hộ quốc gia" trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau; (vai trò này của
Phật giáo Việt Nam chỉ được thể hiện dưới triều Tiền Lê, Lý, Trần); và
nghệ thuật Thiền.
3.2.2. Một số bài học cần thiết
Trên cơ sở phân tích vai trò, vị trí và sự vận động, phát triển của Phật
giáo Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa, đồng thời thử so
sánh mộ
t số điểm tương đồng và khác biệt giữa Phật giáo hai nước, luận
án rút ra một số bài học cần thiết cho việc quản lý, phát triển Phật giáo ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, với một số ý như: nhận thức chung về
Phật giáo; nắm rõ những hạn chế và tích cực của Phật giáo; phát huy vai
trò Phật giáo vì lợi ích chung của dân tộc; có chính sách và đường lối về
Phật giáo như
một bộ phận xã hội đặc thù trong đại đoàn kết dân tộc; cần
có các biện pháp cụ thể để kịp thời điều tiết hướng hoạt động của tiêu cực
nếu có.
25