LUẬN VĂN: Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối
với lối sống của người Việt Nam hiện nay MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Xã hội là một hệ thống toàn vẹn có cấu trúc phức tạp với nhiều yếu tố hợp thành. Với
tính cách là một yếu tố của cấu trúc đó, tôn giáo đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến con
người và xã hội trên cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, góp phần tạo nên sắc thái đặc biệt cho
đời sống nhân loại.
Trong lịch sử, vai trò của tôn giáo được đánh giá hết sức khác nhau, thậm chí đối lập

Phật giáo đã được người Việt dựa trên cơ tầng văn hoá của mình lựa chọn, tiếp nhận, nâng
cao và sử dụng ở các mức độ và phương diện khác nhau, góp phần hình thành những giá trị,
chuẩn mực trong lối sống của người dân Việt Nam. Có thể nói, tồn tại cùng dân tộc trong hơn
hai ngàn năm qua, Phật giáo đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền văn hoá Việt Nam.
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội
chủ nghĩa đang bước vào giai đoạn mới - giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và
đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chủ trương phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đã dần đưa nước ta vào thế ổn định và
phát triển.
Phải nói rằng, kinh tế thị trường đã đem lại những thành tựu quan trọng cho sự phát
triển đất nước, nhưng những mặt trái của nó cũng làm xuất hiện và ngày càng gia tăng các
hiện tượng tiêu cực trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, đặc biệt là sự suy thoái của đạo đức,
lối sống. Chủ nghĩa thực dụng tuyệt đối hoá vai trò của đồng tiền, lối sống gấp xa rời lý tưởng
cách mạng đang làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận người trong xã hội, trong đó
có cả các cán bộ Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, khuynh hướng làm giàu bằng bất cứ giá nào,
kể cả lừa đảo bất chính, gây tội ác, vi phạm pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên lương tâm và nhân
phẩm con người ở một số cá nhân vị kỷ đã và đang tạo nguy cơ làm băng hoại các giá trị văn
hoá, đạo đức và luật pháp.
Đảng ta trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã thẳng thắn chỉ ra rằng:
"Tình trạng quan liêu tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy
của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn
của chế độ ta. Tình trạng lãng phí quan liêu còn khá phổ biến"
Thực trạng nói trên đang đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng nền đạo đức và lối sống mới
xã hội chủ nghĩa cho con người Việt nam hiện nay. Điều này vừa nằm trong chiến lược phát
triển con người phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước, vừa góp phần ngăn chặn sự suy
thoái của đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, thực trạng nói trên không thể khắc phục được trong


luân hồi’ trong giáo lý nhà Phật, và cho đây là một trong những điều huyền bí nhất cần khám
phá trong văn hoá phương Đông.
Hai học giả Nga là Thedore Schesbatsky và Otta Rosenberg lại rất lý thú với thuyết
“Nghiệp” của đạo Phật. Hai ông cho rằng, “Nghiệp” chính là điểm trung tâm, là cái làm nên
nét đặc sắc của Phật giáo.
Anhxtanh, nhà bác học vĩ đại của nhân loại, khi nghiên cứu về đạo Phật đã cho rằng,
đây là tôn giáo của tương lai, là tôn giáo của vũ trụ. Ông đánh giá cao quan niệm phủ nhận
thần linh, thượng đế, đánh giá cao thực nghiệm vật chất và tinh thần trong ý thức Phật giáo.
Ông cho rằng, nếu có một tôn giáo nào đó đáp ứng được yêu cầu của khoa học hiện đại thì tôn
giáo đó chính là Phật giáo.
Nhà toán học, kiêm triết học người Anh nổi tiếng Bertarand Rusel lại cho rằng, Phật
giáo là sự kết hợp của hai loại triết học tư biện và khoa học, nó đề cao phương pháp khoa học
và theo đuổi một mục đích có lý trí. Ông cho rằng, Phật giáo có thể thay thế cho khoa học ở
những đoạn đường mà khoa học không đến được do tính không hoàn thiện của những công cụ
khoa học.
Bác sĩ người Anh Graham Howe lại cho rằng, từ hơn 2500 năm trước, Phật giáo đã đề
cập đến những vấn đề về tâm lý học hiện đại. Ông cho rằng, hiện nay, loài người đang phát
triển lại thành quả xưa của trí tuệ phương Đông mà Phật giáo là đại diện.
Còn H.G. Well, nhà sử học nổi tiếng người Anh khi đánh giá về vai trò của Phật giáo
đã cho rằng, Phật giáo đã đóng góp vào sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại nhiều hơn bất
cứ một ảnh hưởng nào khác trong lịch sử nhân loại.
Ở Phương Đông, Phật giáo cũng thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa
học. J.Nerhu trong “Phát hiện Ấn Độ” đã chỉ ra những giá trị nhân đạo, nhân bản trong Phật
giáo, chỉ ra những giá trị mà Phật giáo đã đóng góp cho dân tộc Ấn Độ.
Tại Nhật Bản, Phật giáo được các học giả quan tâm đặc biệt. O.o.Rozenberg trong
“Phật giáo những vấn đề triết học” đã chỉ ra những giá trị nhân sinh Phật giáo. Theo ông,
Phật giáo chứa đựng những giá trị của văn hoá nhân loại cần được tiếp tục kế thừa và phát
huy.
Daisetzteitaro Suzuki, học giả người Nhật trong cuốn “Phật giáo Thiền tông và ảnh

Học giả Roul Birnbaum trong “Buddhist China at the Centurys Turn” đã đánh giá
một cách tổng quát về Phật giáo trong suốt chiều dài hơn hai ngàn năm ở Trung Quốc, chỉ ra
những điểm mạnh và những điểm yếu của nó trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Ông cho
rằng, trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng thế tục hoá, Phật giáo đang đem lại những tác
động tiêu cực không nhỏ cho đời sống xã hội như: Phật giáo trở thành một sự lựa chọn mang
tính thực dụng, trục lợi của một bộ phận thanh niên, sự thương mại hoá Phật giáo, sự suy
giảm phẩm hạnh ở một bộ phận các nhà tu hành. Bên cạnh mặt tiêu cực nói trên, Roul
Birnbaum cũng đánh giá cao những đóng góp của Phật giáo qua các hoạt động từ thiện nhân
đạo và khẳng định vai trò của Phật giáo trong việc phát triển kinh tế du lịch ở Trung Quốc
hiện nay.
Nhìn chung, các học giả cả phương Tây và phương Đông, khi nghiên cứu về Phật
giáo đều đánh giá cao những giá trị văn hoá đạo đức mà Phật giáo đã đóng góp cho lịch sử
nhân loại. Về cơ bản, những đánh giá của các học giả nói trên đều mang tính khoa học, khách
quan. Tuy nhiên, trong đó không phải không có những quan điểm đã đề cao vai trò của Phật
giáo một cách thái quá.
Ở Việt Nam, từ lâu trong lịch sử, việc nghiên cứu Phật giáo và tác động của Phật giáo
đối với đời sống xã hội nói chung, cũng đã được quan tâm nghiên cứu.
Ngay từ đầu công nguyên, Mâu Tử với “Lý hoặc luận” đã trình bày một cách rất cơ
bản các vấn đề Phật học then chốt như Phật, Pháp, Tăng, Niết bàn, Luân hồi…. Qua tác phẩm
này, ông cũng đã phân tích ảnh hưởng một cách tự nhiên của Phật giáo đối với đời sống tinh
thần của con người Việt Nam.
Sang thế kỷ XIII, khi triều đại phong kiến Việt Nam đang trên đà hưng thịnh, việc
nghiên cứu Phật giáo tiếp tục được đẩy mạnh với các tên tuổi như Trần Thánh Tông, Tuệ
Trung Thượng Sĩ Trần Tung, Trần Nhân Tông… Trần Thánh Tông với “Khoá hư lục” đã
phản ánh khá rõ ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần Đại Việt. Trần
Nhân Tông qua một loạt tác phẩm của mình cũng khẳng định vai trò của Phật giáo trong đời
sống xã hội, ông muốn phát huy hơn nữa vai trò của tôn giáo này, đồng thời xây dựng một tổ

lịch sử tư tưởng Việt Nam”(Hà Nội 1986) đã đề cập đến tính chất của Phật giáo Việt Nam, các
tông phái của Phật giáo ở Việt Nam, vai trò của Phật giáo trong nền văn hoá dân tộc và ảnh
hưởng của Phật giáo đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Trong cuốn “Có một nền đạo lý ở Việt Nam”(Nxb TP Hồ Chí Minh 1996) tác giả
Nguyễn Phan Quang đã cho người đọc thấy được sự hoà nhập của đạo đức Phật giáo trong
đạo lý dân gian Việt Nam. Nguyễn Thị Bảy trong “Văn hoá Phật giáo và lối sống của người
Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ” (Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 1997) đã bàn về văn hoá
Phật giáo từ góc độ vật chất và tinh thần, bàn đến văn hoá ứng xử Phật giáo ở châu thổ Bắc
Bộ.v.v…
Các trí thức Phật giáo cũng đóng góp nhiều công trình có giá trị trong lĩnh vực này,
như: Thích Đạo Quang với “Đại cương triết học Phật giáo” (Nxb Thuận hoá, Huế 1996) đã
phân tích những giá trị trong các giáo lý cơ bản của Phật giáo và đề cập một cách khái quát
các tông phái cơ bản của đạo Phật. Thích Phụng Sơn trong “Những nét đẹp văn hoá của đạo
Phật” (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1995) đã phân tích những giá trị thẩm
mỹ và một số biểu hiện của chúng trong sinh hoạt tôn giáo và đời sống xã hội. Thích Minh
Châu trong “Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người” đã đề cập đến những giá trị nhân
đạo, nhân bản trong đạo đức Phật giáo. Theo ông, khi con người được di dưỡng trong nền đạo
đức Phật giáo, họ sẽ được an trú trong niềm hạnh phúc và an lạc. Thích Thanh Từ với “Phật
giáo với dân tộc”(Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh 1995) đã bàn về những nét chính
trong luân lý Phật giáo, những giới luật của phật tử tại gia và phật tử xuất gia, về đóng góp
của Phật giáo cho lịch sử dân tộc trên các phương diện chính trị, tư tưởng, văn nghệ, về các
giá trị đạo đức Phật giáo với tuổi trẻ Việt Nam hiện đại. Lê Cung với “Phật giáo Việt Nam với
cộng đồng dân tộc” (Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành 1996) đã đề cập đến đóng
góp của Phật giáo trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Việt Nam.
Học Viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh với “Phật giáo nhập thế và phát
triển” (Nxb Tôn giáo 2008) đã tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, các trí thức Phật

Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí cũng đề cập đến những ảnh hưởng
của Phật giáo trên các phương diện khác nhau trong văn hoá, lối sống của người Việt Nam
như: “Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Triết học
số 2/1994) của GS.TS Nguyễn Tài Thư; “Tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống văn hoá hiện
nay (Tạp chí Cộng sản số 15/1999) của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Vài suy nghĩ về Phật giáo
dân gian Việt Nam”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2/1997) của Hoàng Thị Lan; “Phật giáo
và tâm hồn người Việt”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6/1998) của Vũ Minh Tuyên; “Ảnh
hưởng của Phật giáo Theravada trong tang ma của người Khmer”(Tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo, số 5/2003) của TS. Nguyễn Mạnh Cường; “Đạo Phật tiểu thừa Khmer ở vùng nông thôn
đồng bằng sông Cửu Long: chức năng xã hội truyền thống và động thái xã hội” (Tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2003) của Nguyễn Xuân Nghĩa: “Một vài đóng góp của Phật giáo
đối với văn hoá Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số5/2005) của Lê Đức Hạnh; “Bàn
thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”(Tạp chí Nghiên
cứu tôn giáo số 10/2007 của Lê Văn Đính; “Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3/2006) của Hoà thượng Thích
Thanh Tứ; “Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hoá Phật giáo Việt Nam” (Tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Đặng Văn Bài; “Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn
hoá Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của
Nguyễn Hồng Dương; “Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với văn hoá tinh thần của
người Việt Nam hiện nay”(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Ngô Thị Lan Anh;
“Vai trò và vị trí của Phật giáo ở Việt Nam” (Tạp chí Triết học số 6/2008) của Nguyễn Đức
Lữ .v.v…
Điểm qua tình hình nghiên cứu như trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như
sau:
Thứ nhất, Phật giáo và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội là lĩnh vực thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu tiếp cận Phật giáo và
vai trò của Phật giáo dưới nhiều quan điểm và góc độ khác nhau.

1.1. Khái quát về Phật giáo và quá trình du nhập phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
1.2. Khái quát đặc điểm Phật giáo Việt Nam và tình hình Phật giáo Việt Nam hiện nay
Phần thứ hai: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với một số phương diện của lối sống con
người Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay
2.1. Lối sống và xây dựng lối sống của người Việt Nam hiện nay
2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo trong cách thức lao động sản xuất và tổ chức cuộc sống
của người Việt Nam
2.3. Ảnh hưởng của Phật giáo trong phong tục, tập quán của người Việt Nam
2.4. Ảnh hưởng của Phật giáo trong cách thức giao tiếp và ứng xử của người Việt Nam
2.5. Ảnh hưởng của Phật giáo trong quan niệm đạo đức và nhân cách của người Việt
Nam
2.6. Dự báo xu hướng vận động của Phật giáo và những vấn đề đặt từ ảnh hưởng của
Phật giáo với lối sống của người Việt Nam hiện nay.
Phần thứ ba: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của Phật giáo trong quá trình xây dựng lối sống mới ở Việt Nam hiện nay
3.1 Những quan điểm mang tính phương pháp luận
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng
tiêu cực của Phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay
3.3. Một số kiến nghị
5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước,
đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: lô gíc và lịch sử, phân tích và
tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê so sánh, thảo luận nhóm,
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây:
Thứ nhất, đề tài góp phần bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiên cứu về tôn giáo nói

CHƯƠNG I: PHẬT GIÁO VÀ ĐẶC ĐIỂM PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1.1. Khái quát về Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam
1.1.1. Khái quát một số nội dung cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng đến lối sống
của người Việt Nam
Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Không lâu
sau khi ra đời, Phật giáo đã lan tỏa mạnh mẽ sang các quốc gia khác khác thuộc khu vực Châu
Á. Hiện nay, Phật giáo có mặt ở khắp các châu lục và là một trong những tôn giáo lớn trên thế
giới.
Trong Phật giáo có chứa đựng nhiều những giá trị văn hoá, đạo đức. Những giá trị này
đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hoá của mỗi quốc gia dân tộc nơi mà nó đứng chân.
Nếu có thể tóm tắt những điểm chính yếu trong học thuyết Phật giáo thì có thể nói như
sau: học thuyết Phật giáo chứa đựng những điều cốt tử là: Khổ, Không, vô thường, vô ngã,
nhưng sự triển khai cụ thể trong từng thời pháp, từng hoàn cảnh thì khác nhau.
Phật giáo rất đề cao con người. Hay nói cách khác, tiền đề xuất phát của Phật giáo là
con người sống hiện hữu. Con người là trọng tâm trong học thuyết đạo đức Phật giáo. Và theo
Phật giáo, con người phải chịu trách nhiệm về kết quả hành động của chính bản thân mình.
Phật quan niệm cuộc đời là bể khổ. Và cái khổ ấy là do chính con người tạo nên.
Nguyên nhân của khổ là do vô minh và tham dục. Nhưng Phật cho rằng, cái khổ ấy không
phải là vĩnh viễn không khắc phục được. Phật cho rằng, con người tạo nên cái khổ cho mình
nên cũng chính con người phải tự tìm con đường thoát khổ cho chính mình. Con đường ấy là
sự nỗ lực rèn luyện trí tuệ thân tâm, diệt trừ vô minh, tham dục. Sự giải thoát trong Phật giáo
là sự tự lực giải thoát. Đây là điểm tiến bộ và cũng là sự khác biệt rất lớn giữa Phật giáo và
các tôn giáo khác. Các tôn giáo hữu thần cũng bàn về con người, về sự hiện hữu của con
người và về con đường giải phóng con người. Nhưng con người trong quan niệm của các tôn
giáo hữu thần là con người thụ động, là phiên bản một của đấng siêu nhiên cho nên giải
phóng con người là làm cho con người trở về với đấng siêu nhiên. Hay nói cách khác, với các
tôn giáo hữu thần, con người là ngã thể khác của đấng siêu nhiên nên nó chỉ được giải phóng

Chính kiến là cái thấy về sự thực, cái nhận thức xác thực. Phật cho rằng, trong mỗi
chúng sinh đã có sẵn hạt giống của chính kiến, của tuệ giác, chỉ có điều tuệ giác đó bị vô minh
làm mờ lấp mà thôi. Chính kiến đưa đến chính tư duy. Chính tư duy có nghĩa là suy nghĩ
đúng, là sự suy nghĩ dựa trên sự thật, trên chính kiến, tuệ giác để thấy rõ được bản chất vô
thường, vô ngã của sự vật. Hay nói cách khác, suy nghĩ đúng là suy tư phù hợp với đạo lý
duyên khởi. Chính tư duy đưa đến chính ngữ. Chính ngữ là lời nói thật, lời nói chân chính.
Chính ngữ dẫn đến chính niệm. Chính niệm là suy niệm đúng đắn. Chính niệm dẫn đến chính
nghiệp. Chính nghiệp là hành động chân chính để không tạo nghiệp. Chính nghiệp đưa tới
chính mạng. Chính mạng là nghề nghiệp, phương tiện sinh sống chân chính. Chính mạng đưa
đến chính tinh tiến. Chính tinh tiến là nỗ lực siêng năng học tập, kiểm soát thân, khẩu, ý theo
cái thiện. Chính tinh tiến đưa tới chính định. Chính định là nhiếp tâm vào con đường chân
chính không để bị vọng động bởi tác động của ngoại cảnh. Chính định làm phát sinh chính
tuệ. Chính tuệ là sự sáng suốt để nhận thức rõ thực tướng của vạn vật.
Theo nhãn quan Phật giáo, Bát chính đạo làm cho con người nhận thức rõ được chân
như của sự vật và con người, làm cho con người biết quý trọng sự màu nhiệm của cuộc sống,
biết sống ung dung, tự tại giữa cuộc đời.
Đặt trọng tâm vào con người trên con đường giải thoát cũng như trong việc rèn luyện
đạo đức, Phật đã dùng thuyết Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo để lý giải cái khổ của con người
qua các kiếp sống khác nhau.
Theo quan niệm của nhà Phật, mọi hoạt động của con người từ thân, khẩu, ý đều để lại
một kết quả nhất định, trong đó nhân có trước, quả có sau, quả phụ thuộc vào nhân và nhân
nào quả ấy. Tuỳ thuộc vào việc con người gieo nhân như thế nào mà họ nhận được quả tương
ứng. Nhà Phật gọi đó là nghiệp báo. Như vậy, nghiệp báo được xem là kết quả hoạt động của
con người (gồm cả thân, khẩu, ý) mà tất yếu họ nhận được trong hiện tại hoặc tương lai.
Nhân quả, nghiệp báo không phải là sản phẩm của riêng Phật giáo mà là sản phẩm
chung của triết học và tôn giáo Ấn Độ. Tuy nhiên, Phật giáo đã khái quát để trình bày chúng
có tính hệ thống và đặc biệt chú ý đến “ý nghiệp”. Ý nghiệp theo quan niệm của nhà Phật, là
cái khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác.
Nghiệp báo là do chính bản thân con người làm ra nên chính mình bị lôi cuốn vào vòng
lục đạo, bị lăn lộn triền miên trong vòng sinh tử luân hồi, cứ chết đi, sống lại mãi nếu vẫn còn

chung giới luật nên phải hòa thuận, kính ái hòa hợp với nhau. Ý hoà kính hay ý hoà đồng
duyệt có nghĩa là tăng chúng phải tâm đầu, ý hợp, chia sẻ buồn vui cùng nhau, yêu mến nhau.
Kiến hoà đồng kính hay kiến hoà đồng giải tức là hết thảy tăng chúng đều thờ Phật, tu hành
theo pháp môn nhà Phật, do đó phải cùng nhau thống nhất hoà hợp và chia sẻ kiến thức về
Phật pháp. Lợi hoà đồng quân hay đồng lợi hoà tức là tăng chúng cùng nhau thụ hưởng lợi ích
mà bá tánh cúng dường, cùng nhau chia sẻ, thụ hưởng một cách kính ái.
Lục hoà không chỉ là chuẩn mực đạo đức của hàng tăng chúng mà mở rộng ra là sự hoà
hợp của tất cả các đệ tử nhà Phật nói chung. Mở rộng hơn nữa nó còn có ý nghĩa với một cộng
đồng, một xã hội, một quốc gia và toàn nhân loại.
- Thập thiện tức là mười điều thiện bao gồm: 3 điều thiện về thân, 4 điều thiện về khẩu,
3 điều thiện về ý.
+ 3 điều thiện về thân nghiệp gồm: không sát sinh mà phải phóng sinh; không trộm
cắp mà phải bố thí; không tà dâm mà phải sống trong sạch.
+ 4 điều thiện về khẩu nghiệp gồm: không nói lời dối trá, mà phải nói lời trung thực;
không nói lời độc ác, xúc xiểm mà phải nói lời hiền dịu; không nói lời thêu dệt, đơm đặt mà
phải nói lời có ích.
- Tứ ân là 4 ân đức lớn mà mỗi người đều phải nhớ, phải trả trong cuộc đời của mình,
đó là Ân cha mẹ vì cha mẹ đã sinh ra ta; ân chúng sinh vì chúng sinh đã giúp đỡ ta; ân Tổ
quốc vì Tổ quốc cho ta sự yên bình lạc đạo và ân Tam bảo vì Tam bảo đã cho ta chánh pháp.
Đây là những chuẩn mực đạo đức rất gần gũi với giá trị đạo đức truyền thống của người Việt
Nam.
- Một trong những chuẩn mực đạo đức Phật giáo có ảnh hưởng khá nhiều đến lối sống
của người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay đó là Tứ vô lượng tâm “Từ, bi, hỷ, xả”.
Tâm “Từ” là lòng từ ái vô lượng, vô biên, là cái đối trọng với tâm sân hận. Theo quan
niệm của nhà Phật, cái tâm sân hận không thể được dập tắt bằng lòng thù oán mà nó chỉ có thể
hoá giải được bằng tâm “từ”.
Tâm “Bi” là lòng xót thương vô hạn, là sự rung động trước nỗi đau của người khác và

Đạo Toái người Trung Quốc, thế kỷ thứ V có Đàm Hoằng. Ở thời kỳ này cũng có một số nhà
sư Việt Nam có danh tiếng như Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền. Quá trình truyền đạo này đã
hình thành nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu (một trong 3 trung tâm Phật giáo lớn: Lạc
Dương, Bành Thành, Luy Lâu).
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ X vẫn được xem là giai
đoạn truyền giáo. Tuy nhiên, giai đoạn này, ảnh hưởng của các nhà truyền giáo Ấn Độ giảm
dần, trong khi các nhà truyền giáo Trung Quốc tăng lên. Đáng chú ý hơn cả là việc truyền
nhập các phái thiền Trung Quốc vào Việt Nam, đặc biệt là hai phái thiền Tỳniđalưuchi và phái
thiền Vô Ngôn thông.
Tóm lại, mười thế kỷ đầu truyền bá vào Việt Nam, mặc dù trong hoàn cảnh đất nước bị
xâm lược và đô hộ nhưng Phật giáo đã tạo ra được ảnh hưởng trong nhân dân và có những
chuẩn bị cho sự phát triển mới trong giai đoạn đất nước độc lập, tự chủ.
Đến thế kỷ thứ X, Việt Nam giành được quyền tự chủ. Chính trong thế kỷ này Phật
giáo mới bắt đầu hưng thịnh và có những đóng góp tích cực cho đất nước. Năm 971, vua Đinh
Tiên Hoàng định ra phẩm trật tăng già và ban chức cho tăng sĩ. Bắt đầu từ đây cho đến thế kỷ
XIV, các thiền sư được trọng dụng, được mời tham gia vào chính sự, góp phần to lớn vào
công cuộc hưng thịnh của quốc gia.
Vua Đại Hành sau khi hoà với nhà Tống đã sai sứ sang triều cống Trung Hoa và xin
thỉnh kinh Phật đem về truyền bá. Nhiều thiền sư đã được vua Lê Đại Hành mời tham gia
đóng góp trí tuệ cho đất nước như Thiền sư Pháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh.
Có thể nói, trong 2 triều đại Đinh và tiền Lê, Phật giáo đã trở thành tôn giáo chiếm địa
vị ưu trội. Tất cả việc chăm lo phát triển văn hoá, chính trị trong nước, một phần lớn đều
thuộc về hàng tăng sĩ, cho nên Phật giáo được phổ biến dễ dàng trong quần chúng. Mặc dù
Nho giáo và Lão giáo đã truyền vào từ lâu, nhưng không có uy thế được như Phật giáo.
Sở dĩ Phật giáo đời Đinh và tiền Lê được ưu đãi và giữ địa vị độc tôn vì các vị tăng sĩ
phần nhiều là những người thông hiểu Nho học. Chữ Nho mặc dù trước đó đã được đem dạy
ở đất Việt, nhưng do chưa có khoa thi cử, nên ít người theo học. Chỉ có các vị thiền sư vì cần

ba thiền phái nói trên đã dần dần nhập lại làm một để hình thành nên phái thiền mang đậm
tính chất dân tộc là phái thiền Trúc Lâm.
Các tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị như các Thiền
sư đời Lý, nhưng Phật giáo vẫn là một yếu tố quan trọng để liên kết nhân tâm, cố kết cộng
đồng. Tinh thần Phật giáo đã giúp cho các nhà chính trị đương thời có những kế sách thân dân
trong việc củng cố, xây dựng và bảo vệ đất nước. Không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo
đã có những đóng góp tích cực góp phần làm nên hào khí Đông A lừng lẫy một thời của dân
tộc Đại Việt qua những chiến thắng bình Nguyên, dẹp Mông. Ở thời Trần, rất nhiều chùa tháp
qui mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo đã được xây dựng. Phật giáo thời Trần đã có có sự phát
triển đến cực thịnh.
Từ giữa thế kỷ XIV, cùng với sự suy vi của triều đại nhà Trần, Phật giáo cũng dần mất
đi tính nhập thế tích cực và ngày càng suy vong.
Bảy năm dưới triều đại nhà Hồ, Phật giáo suy vi một cách nhanh chóng. Quân Minh
mượn cớ khôi phục nhà Trần kéo quân sang xâm lược nước ta và đặt chế độ cai trị hà khắc.
Với âm mưu Hán hóa văn hóa Đại Việt, quân Minh đã tịch thu và đốt hết sách vở trong đó có
cả kinh sách nhà Phật; chùa chiền bị đốt phá, sư tăng bị giết hại.
Đến thời hậu Lê, ở Việt Nam xuất hiện thêm hai phái thiền là Thiền Tào Động ở Đằng
Ngoài và Thiền Lâm Tế ở Đằng Trong.
Thời Minh Mạng và Thiệu Trị bắt đầu có sắc trùng tu những ngôi chùa và Tổ đình
quan trọng, nhưng trong dân gian thì ảnh hưởng của Phật giáo không còn sâu đậm như trước.
Thời vua Tự Đức, nước ta rơi vào vòng đô hộ của Pháp, Phật giáo Việt Nam vốn đã suy vi,
nay lại càng suy vi hơn.
Dưới sự cai trị của nhà Nguyễn (cả trước và sau khi Pháp xâm lược), Phật giáo tiếp
tục suy tàn.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số nhà tu hành và một số nhân sĩ, trí thức Phật
giáo đã đứng ra vận động phong trào “Chấn hưng Phật giáo”. Kể từ đó, Phật giáo có sự khởi
sắc. Một bộ phận Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức, một số cơ sở đào tạo tăng tài lần lượt

nghiên cứu chỉ ra rằng, trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam - Luy Lâu - được hình thành
trước tiên là do sự viếng thăm của các thương nhân người Ấn. Họ đến Việt Nam trước cả các
tăng sĩ, họ đến mang theo cả những kỹ thuật canh tác, y thuật, phong tục tập quán và sinh hoạt
tôn giáo của người Ấn Độ (Bà la môn giáo và Phật giáo). Những đặc điểm văn hóa này đã có
ảnh hưởng đến đời sống của người dân bản địa Việt Nam. Như vậy, các thương nhân Ấn Độ
đã tham gia một cách tự phát vào quá trình truyền bá Phật giáo vào các xứ phương Đông,
trong đó có Việt Nam. Hay nói cách khác, họ đã đem Phật giáo đến Việt Nam một cách tự
phát, không có chủ đích. Tuy nhiên, Phật giáo ở Giao Chỉ thời kỳ này mới chỉ là những sinh
hoạt tín ngưỡng đơn sơ giới hạn trong sự đọc Tam quy, cúng dường Phật pháp, bố thí chứ
chưa có kinh điển.
Tiếp sau các tăng sĩ Ấn Độ là các nhà sư người Trung Quốc. Lúc này nước Việt Nam
đang chịu sự đô hộ Trung Hoa. Các nhà sư Trung Quốc đến Việt Nam truyền đạo lúc này
chưa phải do được người Việt mời, thỉnh mà cũng hoàn toàn mang tính tự phát. Chỉ đến khi
nước Việt Nam bước vào thời kỳ tự chủ, vua Lê Đại Hành mới cho người sang Trung Hoa
mời sư về thỉnh kinh.
-Thứ hai, Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường hòa bình, ít gây ra xung
đột với văn hoá bản địa.
Phật giáo đến với dân tộc Việt Nam một cách rất tự nhiên. Ngay từ buổi đầu mới du
nhập, Phật giáo đã nhanh chóng được người Việt đón nhận mà hầu như không gặp phải bất kỳ
một trở ngại nào. Thậm trí, nó còn được tiếp nhận một cách nhanh chóng vì bản thân nó có
nhiều điểm phù hợp với hệ thống tín ngưỡng của người Việt cổ. Người Việt thời kỳ này tin
tưởng có ông Trời ở trên cao, nhìn thấu mọi việc dưới đất, trừng phạt kẻ ác, giúp đỡ người
thiện. Linh hồn con người không chết đi cùng thể xác mà nó vẫn còn tồn tại xung quanh
người thân để che chở, bảo vệ, phù hộ họ. Bên cạnh đó họ còn tin có ma xó, tin vào thầy mo,
thầy cúng… Trong bối cảnh như vậy, Phật giáo với thuyết Nhân quả nghiệp báo, luân hồi, với
những quan niệm về công đức, Tam bảo… không những không đi ngược với tín ngưỡng của
người Việt mà còn rất phù hợp nên nó đã được tiếp nhận nhanh chóng. Đồng thời, trong hoàn

Thậm chí, ngay từ những giai đoạn đầu khi mới được du nhập vào Việt Nam, Phật giáo
đã từng được sử dụng như một công cụ để chống lại sự xâm lăng văn hoá, sự đồng hoá văn
hoá của các thế lực xâm lược phương Bắc. Triết lý Phật giáo gần gũi với với tinh thần dân tộc
nên ngay từ giai đoạn đầu, các nhà tư tưởng của nước Việt đã đến với Phật giáo để tìm một xu
hướng độc lập cho dân tộc, chống lại sự nô dịch tinh thần của tư tưởng Đại Hán (có thể tìm
thấy điểm này trong tư tưởng, trong việc làm của Mâu Bác, Sĩ Nhiếp). Và người Việt đã thành
công khi sử dụng Phật giáo làm ngọn cờ tư tưởng để tập hợp, cố kết lòng dân.
Các giai đoạn sau này, trong quá trình phát triển ở Việt Nam, Phật giáo cũng luôn luôn
chung sống hài hòa và có đóng góp vào sự phát triển văn hóa của dân tộc. Bằng chứng là ngay
cả giai đoạn cha ông ta cùng với Phật giáo Nam tiến mở mang văn hóa Đại Việt cũng diễn ra
đầy tính bao dung, nhân nghĩa. Lịch sử không hề ghi nhận một cuộc chiến tranh nào về việc
hủy diệt văn hóa của người Việt trong quá trình Nam tiến.
- Thứ ba, trong quá trình du nhập, phát triển, Phật giáo luôn gắn bó, đồng hành với dân
tộc và đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, góp
phần hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam.
Các tôn giáo ngoại nhập như Công giáo, Tin lành khi vào Việt Nam đều gắn liền với
lợi ích của thực dân, đế quốc. Trong quá trình du nhập và phát triển của các tôn giáo này lại
có nhiều giáo sĩ hoạt động thiếu trong sáng cho mưu đồ xâm lược của thực dân. Trong lịch sử,
chúng lại luôn bị lợi dụng bởi các mưu đồ đi ngược lại lợi ích dân tộc.
Ngược lại, Phật giáo ngay từ buổi đầu du nhập và trong suốt quá trình phát triển đều
luôn gắn bó, đồng hành thủy chung với dân tộc. Giai đoạn đầu khi dân tộc Việt Nam mới
giành được độc lập, nhà nước non trẻ đứng trước vô vàn những khó khăn, thiếu thốn thì chính

Trích đoạn Ảnh hưởng của Phật giáo trong quan niệm đạo đức và nhân cách của người Việt Nam Những quan điểm mang tính phương pháp luận Tích cực tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Mác xít làm chuyển biến nhận thức của xã hội về Phật giáo và vai trò của Phật giáo trong quá trình xây dựng lối sống Hoàn thiện cơ chế phát huy những giá trị tốt đẹp trong Phật giáo và đấu tranh khắc phục những tiêu cực nảy sinh trong sinh hoạt Phật giáo Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc xây dựng lối sống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status