BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐINH NHƯ THOA
THIÊN CHÚA GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ TINH THẦN CỦA
NHÂN DÂN Ở HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2013
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến
gia đình, bạn bè và các thầy cô giáo trong Bộ môn Giáo dục Chính trị (Trường
Đại học Tây Bắc) đã giúp đỡ động viên chúng tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến các cơ quan, ban, ngành đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi tài liệu phục vụ cho đề tài như: Ban giám hiệu trường Đại học Tây
Bắc, Phòng quản lý khoa học và quan hệ Quốc tế Trường đại học Tây Bắc, Thư
viện Trường Đại học Tây Bắc, Thư viện tỉnh Hà Nam, Ban tôn giáo và dân tộc
tỉnh Hà Nam, Trường Chính trị tỉnh Hà Nam, Mặt trận Tổ quốc huyện Kim
Bảng.
Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến cô giáo
Ths. Giáp Thị Dịu, người đã nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa
luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 04 năm 2013
Tác giả
Đinh Như Thoa
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết là
Dịch là
Tr.CN
Trước Công nguyên
1.5 Quá trình du nhập và phát triển của Thiên chúa giáo ở huyện Kim
Bảng, tỉnh Hà Nam. 17
1.6. Đặc điểm cơ bản của Thiên chúa giáo ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
27
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN CHÚA GIÁO TỚI ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA, TINH THẦN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC, KHẮC PHỤC MẶT HẠN CHẾ CỦA
THIÊN CHÚA GIÁO Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM 30
2.1. Ảnh hưởng của Thiên chúa giáo tới đời sống văn hóa và tinh thần của
nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 30
2.1.1. Ảnh hưởng của Thiên chúa giáo trong lối sống đạo đức 30
2.1.2. Ảnh hưởng của Thiên chúa giáo trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật 32
2.2. Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt
hạn chế của Thiên chúa giáo ở Kim Bảng tỉnh Hà Nam trong quá trình đổi
mới hiện nay. 36
2.2.1. Nâng cao nhận thức về công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị 36
2.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo 37
2.2.3. Bảo tồn, tôn tạo cơ sở thờ tự 38
2.2.4. Nắm chắc tình hình thực tế, dự báo xu hướng biến động trong hoạt
động của các giáo xứ 39
2.2.5. Phát huy các nhân tố tích cực, kiên quyết đấu tranh việc lợi dụng đạo
Thiên chúa giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc 39
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
trước pháp luật. Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo hộ cơ
sở vật chất, tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như chùa, nhà thờ, thánh
đường, thánh thất, điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trường lớp tôn giáo;
kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo.
Huyện Kim Bảng nằm trên địa bàn tỉnh Hà Nam có vị trí quan trọng, là
điểm xuất phát của hàng giáo phẩm rất có thế lực trong Giáo hội Việt Nam và có
nhiều ảnh hưởng với giáo hội thế giới. Hiện nay có hàng trăm giám mục, linh
mục là người gốc Kim Bảng đang sinh sống trong nước cũng như ngoài nước,
thường xuyên liên lạc, chỉ đạo các mặt hoạt động của giáo phận. Trong điều kiện
giao lưu quốc tế mới, Giáo hội Thiên chúa giáo luôn tìm kiếm sự tài trợ về kinh
tế và chỗ dựa về tinh thần từ các cá nhân hoặc tổ chức tôn giáo ở nước ngoài,
tăng cường các hoạt động thu hút tín đồ, củng cố hội đoàn, đào tạo chức sắc, tu
sửa nơi thờ tự v.v…để phát triển đạo.
Ngày 02.05.2008 UBND tỉnh Hà Nam đã ban hành quyết định số 1196/QĐ
- UBND về việc hướng dẫn thực hiện một số điều lệnh của pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo của
các cấp các ngành trên địa bàn tỉnh được thống nhất. Các chủ trương chính sách
đã và đang đi vào cuộc sống đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chính đáng của
các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo, làm cho việc đạo, việc đời ngày càng
hòa quyện gắn bó.
Từ những lý do trên đặt ra cho chúng ta những yêu cầu cần thiết tìm hiểu
nghiên cứu những vấn đề tôn giáo. Vì vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Thiên
chúa giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống văn hóa và tinh thần của nhân
dân ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”, làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Do tầm quan trọng của việc nghiên cứu tình hình và làm rõ ảnh hưởng của
đạo Thiên chúa tới đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân, trong một số
năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này dưới những góc độ,
khía cạnh khác nhau, như: “Một số đóng góp của thiên chúa giáo đối với văn
hóa Việt Nam (Thế kỷ XVII- đầu thế kỷ XX)’’ của Phạm Thị Thanh Huyền khoa
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ vấn đề lý luận cơ bản về đạo Thiên chúa.
4
Làm rõ vấn đề: Ảnh hưởng của đạo Thiên chúa tới đời sống văn hóa và tinh
thần của nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Nghiên cứu lý luận chung về đạo Thiên chúa
Thứ hai: Làm rõ vấn đề ảnh hưởng của đạo Thiên chúa tới đời sống văn
hóa và tinh thần của nhân dân ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thiên chúa giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống văn hóa và tinh thần của
nhân dân ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giai đoạn từ 1945 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên tác giả sử dụng hệ thống phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên Trường Đại Học Tây Bắc nói
chung và sinh viên chuyên nghành Giáo dục Chính trị nói riêng, nghiên cứu về
vấn đề Thiên chúa giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống văn hóa tinh thần của
nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm hai chương:
Chương 1: Lý luận chung về đạo Thiên chúa và sự du nhập của đạo Thiên
chúa vào huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam
Chương 2: Ảnh hưởng của đạo thiên chúa giáo tới đời sống văn hóa, tinh
thần và những giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn
chế của Thiên chúa giáo ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
chỉnh ở trình độ cao nhưng trong lòng đế quốc La Mã đã chứa chất những mâu
thuẫn và rạn nứt. Mâu thuẫn cơ bản nhất, sâu sắc và quyết liệt nhất là mâu thuẫn
giữa nô lệ và chủ nô, giữa các dân tộc bị chinh phục với kẻ xâm lược. Các mâu
thuẫn này ngày càng sâu sắc đã phát triển thành các cuộc khởi nghĩa vũ trang
mang tính quần chúng rộng rãi chống lại giai cấp chủ nô và quân xâm lược,
không chỉ những vùng bị chinh phục mà ngay cả ở chính quốc. Đó là những
6
cuộc khởi nghĩa của 20 vạn nô lệ ở Xi-xin do Clê-ông lãnh đạo (thế kỉ II
Tr.CN), cuộc nổi dậy của nô lệ ở Tiểu Á do A-ri-xtô-ni-cốt lãnh đạo (thế kỉ II
Tr.CN), phong trào giành ruộng đất của dân nghèo do anh em Gra-cút (thế kỉ I
Tr.CN). Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa rộng lớn của nô lệ do Spac-ta-quýt lãnh đạo
nổ ra vào năm 74 Tr.CN làm rung chuyển đến tận nền móng, đánh dấu sự suy
tàn của đế quốc La Mã.
Tuy nhiên, đế quốc La Mã lúc đó còn khá mạnh nên đã nhanh chóng dìm
các cuộc khởi nghĩa trong biển máu. Hàng ngàn, hàng vạn nghĩa quân bị tù đày
hoặc bị hành hình trên các giá câu rút. Quần chúng lao động khổ ngày càng bị
bóc lột, ngày càng bị đàn áp dã man càng cảm thấy bất lực trước cuộc sống thực
tại họ luôn trông chờ sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên, một vị thần hay một
đấng cứu thế có thể đánh đổ đế quốc La Mã, giải phóng dân tộc, xây dựng một
vương quốc của sự công bằng. Ki-tô giáo ra đời trong hoàn cảnh như chính trị -
xã hội như vậy. Nhà sử học người Pháp Sác-lơ-Eng-sen thật có lí khi nói rằng:
“Chúa Ki-tô đã thắng vì Spac-ta-quýt đã thất bại. Đấng phán xử của thiên quốc
vào ngày tận thế đã thay thế cho Đấng phán xử là người trần thế”.
Như vậy, có thể nói, Ki-tô giáo vừa là sản phẩm tinh thần của quần
chúng trước tình trạng bi đát và thất vọng trong cuộc sống vừa là phản ứng của
họ trước chính sách áp bức bóc lột của đế quốc La Mã. Trong tác phẩm‘‘Góp
phần vào Ki-tô giáo nguyên thủy” Phê-rê-đê-rích Ăng-ghen đã nhận xét:
“Nguồn gốc của Ki-tô giáo nguyên thủy là cuộc vận động của những người bị
áp bức; đạo đó xuất hiện trước hết như một thứ tôn giáo của những người nô lệ
Sự xuất hiện đạo Ki-tô còn được xây dựng trên nền tảng tư tưởng triết học
của Hy Lạp và La Mã cổ đại với hai đại biểu là Sê-Nếch ở La Mã (4-65 SCN) và
Phu-Lông gốc người Do Thái ở Hy Lạp (25 Tr.CN - 50 SCN). Sê-Nếch cho
rằng, cuộc đời ở trên trần thế là giả dối, thân xác của con người chỉ là gánh nặng
của tâm hồn, hạnh phúc và bình đẳng chỉ có ở thế giới bên kia. Do đó ông
khuyên mọi người không những nên bỏ lạc thú ở đời, sống thanh đạm, đạo đức
mà còn tin vào sự an bài của Thượng Đế, sống phục tùng theo số mệnh. Sê-Nếch
được coi là người sáng lập chủ nghĩa khắc kỷ La Mã. Tư tưởng căn bản của
Phu-Lông là sự suy đồi về đạo đức và những tệ nạn xã hội do con người gây ra.
Vì vậy, ông chủ trương con người phải sống nhẫn nhục và không ngừng sám
8
hối; mặt khác ông khuyên con người hãy chờ đợi vào một Đấng Cứu thế xuất
hiện. Niềm hi vọng vào Đấng Cứu thế được Phu-Lông nói đến là một “Gô-lốt” –
lời Chúa, làm trung gian giữa thượng đế và con người. Ăng-ghen đã đánh giá
Sê-Nếch là người “chú” và Phu-Lông là người “cha” của đạo Ki-tô.
Ngoài việc dựa vào nền thần học Do Thái và tư tưởng thần học duy tâm
của Hy Lạp, La Mã, để xây dựng một giáo thuyết hoàn chỉnh, Ki-tô giáo còn sử
dụng nhiều tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của các dân tộc vùng Trung
Cận Đông. Ví dụ: quan niệm về Đấng Cứu thế được nhiều tiên tri của dân tộc
nói đến của các tên tuổi khác nhau: Eros Khoronos, Hereles…Hình ảnh chúa
Giê-su được xây dựng bằng nhiều phẩm chất thiêng liêng của các vị thần như
Josuah - thần của các bộ lạc Ephraien đã hi sinh để cứu đồng bào mình, như
Yahve - người anh hùng của các dân tộc Do Thái bị đóng đinh trên cây thập giá,
thần Herule - trên núi Ốc-ta được xem là con của Thượng Đế xuống trần gian
chịu chết để đem lại hòa bình cho mọi người, thần Alonis, Orisis chết đi sống
lại,… Chúa Giê-su được sinh ra từ một nữ đồng trinh theo mô típ Persee, được
sinh ra từ Dion và Horus. Bà Maria cũng là một hình tượng được nhiều hình
tượng nhắc đến như: nữ thần hộ mệnh Isis của thần thoại Ai Cập, nữ thần
Isidona của một số dân tộc Ả Rập khác. Phép thánh thể của Ki-tô giáo rất gần
lãnh đạo giáo hội chuyển dần sang tay những người thuộc tầng lớp trên.
Năm 313 Hoàng đế Côngxtăngtin ban hành sắc lệnh Milanô cho phép Ki-tô
được truyền bá. Năm 325, Côngxtăngtin triệu tập đại hội các giáo chủ Ki-tô để
xác định giáo lí và chấn chỉnh tổ chức xã hội. Năm 330, Hoàng đế côngxtăngtin
rời đô sang phía Đông. Năm 337, với việc chịu phép rửa tội trước khi chết,
Côngxtăngtin trở thành vị hoàng đế La Mã đầu tiên theo đạo Ki-tô. Năm 392,
Hoàng đế Têôđôdiut chính thức tuyên bố đạo Ki-tô là một Quốc đạo của La Mã.
Đây điểm mốc đáng dấu sự phát triển của đạo Ki-tô, từ một tôn giáo địa phương
thành một tôn giáo lớn giữ vị trí độc tôn tại đế quốc La Mã.
Để quản lí việc đạo trong toàn quốc, đạo Ki-tô đã thành lập 5 trung tâm
giáo hội là Côngxtăngtinốp, Alếchxăngđri, Ăngtiôni, Giêrudalem và La Mã.
Cả 4 trung tâm giáo hội phương Đông gồm Côngxtăngtinốp, Alếchxăngđri,
Ăngtiôni, Giêrudalem đều do Tổng giám mục ở Côngxtăngtinốp giữ quyền lãnh
đạo. Trung tâm giáo hội La Mã do Tổng giám mục La Mã xưng là Giáo hoàng
10
giữ quyền lãnh đạo. Năm 395, Hoàng đế Têôđôdiut chia đế quốc thành hai nước
là đế quốc Đông La Mã và đế quốc Tây La Mã. Từ thế kỉ V giữa giáo hội Đông
và giáo hội Tây La Mã có bất đồng sâu sắc, đặc biệt là bất đồng trong cách giải
thích về Đức chúa ba ngôi và bất đồng trong việc tranh giành khu vực truyền
giáo. Kết cục là năm 1054, đạo Ki-tô chính thức bị phân liệt thành hai giáo hội
hoàn toàn khác nhau: Giáo hội phương Tây, gọi là Giáo hội La Mã, hay giáo hội
thiên chúa, và giáo hội phương Đông, gọi là Giáo hội Hy Lạp, hay giáo hội
Chính thống.
Giáo hội Chính thống (đạo Chính thống), gọi đúng ra là các giáo hội Chính
thống, hiện nay có khoảng 200 triệu tín đồ, thuộc về 15 giáo hội Chính thống
độc lập ở 15 địa bàn chính là: Ixtămbua (Thổ Nhĩ Kì), Alếchxandry (Ai-cập),
Nga, Xiri, Girdia, Xécbia, Rumani, Bungari, Síp, Hy Lạp, Anbani, Balan,
Xôlôvakia, Liban và Mỹ. Các giáo hội Chính thống rất chú ý đến hình thức lễ
nghi, đều nhất trí không làm lễ bằng tiếng La Tinh mà làm lễ bằng tiếng dân tộc
Cavanh và lập giáo hội riêng không quan hệ với giáo hội Rôma, nhưng về cách
thức hành đạo thì lại dựa theo nghi lễ Công giáo và cơ cấu tổ chức vẫn theo
Công giáo (vẫn có các địa phận, giáo xứ các giám mục, linh mục v.v…)
Điểm khác biệt của đạo Tin Lành so với đạo Thiên chúa là:
Thứ nhất: Chỉ tin vào Kinh thánh, không cần khâu trung gian giữa người và
Chúa. Chỉ cần có Kinh thánh là tín đồ có thể hiệp thông được với Thiên Chúa.
Thứ hai: Đơn giản hóa các nghi lễ, không thờ ảnh tượng, không thờ mẹ
Maria và quan niệm Maria chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Giêsu.
Thứ ba: không lệ thuộc vào Giáo Hoàng và tòa thánh La Mã.
Thứ tư: Tín đồ được tham gia quản lí xã hội. Mục sư và giảng sư không
phải sống độc thân.
Hiện nay, tổng số tín đồ của đạo Ki-tô trên thế giới khoảng 1,8 tỷ người
trong đó Công giáo khoảng 1,02 tỉ; đạo Chính thống khoảng 200 triệu; Đạo Tin
Lành và đạo Anh giáo khoảng 500 triệu.
1.3. Nội dung giáo lý Thiên chúa giáo
Giáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho tín đồ đến phức tạp
của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hình,
căn cứ vào kinh thánh nhưng phải dựa vào những lời giải thích truyền thống và
12
là thẩm quyền của Giáo hội. Luật lệ, lễ nghi của Công giáo rất phức tạp (12
tín điều trong tín kính, 10 điều răn của Chúa, 6 điều răn của Hội thánh, 7
phép bí tích, 1752 điều luật). Công giáo đề cao thuyết thần quyền tuyệt đối
(mọi việc do Chúa định) và thuyết giáo quyền tập trung (Giáo Hoàng là đại
diện Thiên chúa ở trần gian).
Kinh thánh theo quan niệm của giáo hội là “lời Chúa truyền dạy đời đời”
là một bộ sách gồm 73 quyển được chia làm 2 bộ Tân ước và Cựu ước. Ban đầu
Kinh thánh được truyền khẩu trong dân gian. Đến thế kỉ II thì bắt đầu được viết
trên da dê, từ thế kỉ IV – VI được viết trên giấy Papêrút và đến thế kỉ VII mới viết
thành sách. Kinh thánh là một kho tàng lịch sử và điển tích văn học. Trong Kinh
8. Không được làm chứng đối, che giấu sự gian dối
9. Không được ham dục chồng (vợ) người khác
10. Không được ham muốn của cải trái lẽ
11. Mười điều răn trên quy lại hai điều được coi là tôn chỉ của Đạo là kính
chúa và yêu người.
* Ngoài những luật lệ cơ bản trên còn có 6 điều răn của Giáo hội
1. Dự lễ ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc
2. Kiêng việc xác ngày chủ nhật
3. Xưng tội mỗi năm một lần
4. Chịu lễ mùa phục sinh
5. Giữ chay những ngày quy định
6. Kiêng ăn thịt những ngày quy định
Giáo hội còn quy định nghĩa vụ của tín đồ trong các quan hệ đối với linh
hồn đối với đồng loại và đối với chính bản thân mình.
* Ngoài ra các tín đồ phải chịu bảy phép bí tích.
Bí tích Thánh tẩy: (còn gọi là bí tích rửa tội) các tín đồ thực hiện bí tích
này nhằm tẩy sạch mọi tội lỗi của con người (tội tổ tông) để người đó trở thành tín
đồ đạoThiên chúa được gia nhập Hội thánh và được tái sinh trong ngày phán xét.
Bí tích này được thực hiện với trẻ sơ sinh của những gia đình có đạo. Còn đối với
người lớn thì phải trải qua một thời kì tâm lý trước khi nhận được bí tích này.
Bí tích thêm sức: bí tích này giúp cho các tín đồ được ơn Chúa Thánh thành
mà liên kết chặt chẽ với Giáo hội, vững lòng tin để đi sâu vào đời sống tín
14
ngưỡng. Như trước đây, sau khi Chúa Giêxu về trời. các thánh tông đồ bơ vơ.
Chúa Thánh thần hiện xuống an ủi và ban sức mạnh cho họ. Phép bí tích này chỉ
thực hiện đối với những người đã chịu bí tích rửa tội.
Bí tích giải tội: phép bí tích này nhằm tha thứ cho những tội lỗi của bản
thân mỗi người mắc phải. người được giải tội phải tự xét về hành vi của mình
trên cơ sở đối chiếu với lời răn dạy, khuyên bảo của Thiên chúa và giáo hội rồi
năm. Và còn khá nhiều ngày lễ khác, Giáo hội không bắt buộc tín đồ phải theo
nhưng tín đồ nào muốn được hưởng nhiều ơn phúc của chúa thì tham dự như các
lễ: Lễ Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội (ngày 8 tháng 12). Lễ Thánh tông đồ Phêsô
và Phaolo (ngày 29 tháng 6). Lễ cầu nguyện cho các linh hồn nơi địa ngục ngày
mồng 2 tháng 11.
1.4. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Hà Nam là một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Phía Bắc
giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam
giáp Ninh Bình, Đông Nam giáp Nam Định, Phía Tây giáp Hòa Bình.
Kim Bảng là một huyện chủ yếu là đồi núi, nằm ở phía Tây của tỉnh Hà
Nam, phía Bắc giáp huyện Duy Tiên, phía Tây giáp huyện Lý Nhân, phía Đông
có sông Đáy giáp Phủ Lý, phía Nam giáp huyện Thanh Liêm. Diện tích tự nhiên
của toàn huyện là 164,6 km²; dân số trên 157 nghìn người; mật độ trung bình
khoảng 954 người/km².
Huyện Kim Bảng là một vùng đồi núi có vị trí địa lý đặc biệt. Phía Đông
có sông Đáy, phía Tây có sông Nhuệ. Hai dòng sông như hai cánh tay vạm vỡ
ôm trọn vùng đất này với hai cửa lớn gọi là cửa Đáy và cửa Nhuệ, hai cửa sông
đổ ra biển Đông.
Tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1829), nhà doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ được
sự hỗ trợ của nhà nước phong kiến, ông đã tiến hành tổ chức khẩn hoang vùng
đồi núi này. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã triệu tập được 1.400 dân hầu
hết từ Nam Định sang, một phần ở Thanh Liêm, Lý Nhân xuống. Dân dinh Nam
Định phần lớn là đội quân của cuộc khởi nghĩa Ba Vành đánh tan trước đó. Các
vị chiêu mộ phần lớn là các nhà nho, các hào lý đi tìm một vùng ‘‘đất hứa’’. Với
công cụ hết sức thô sơ, bằng mồ hôi công sức không biết mệt mỏi, dưới sự tổ
chức và lãnh đạo tài tình của Nguyễn Tướng Công (Nguyễn Công Trứ), chỉ có
16
hơn 1.400 người đã lập nên huyện Kim Bảng và cuối năm 1829, với 4 tổng: Thi
Sơn, Ngọc Sơn, Đồng Hóa, Tượng Lĩnh, 11.200 mẫu ruộng, bao gồm 47 lý,
Huyện Kim Bảng hiện nay có 2 tôn giáo là Đạo phật và Đạo Thiên chúa,
nhưng Đạo phật có số lượng tín đồ chiếm rất ít so với Đạo thiên chúa. Tuy nhiên
sự kết hợp của hai tôn giáo này, cùng với hệ thống nhà thờ và đền, chùa dày đặc
làm cho huyện Kim Bảng có một nền văn hóa phong phú đa dạng. Đặc biệt là
công trình kiến trúc văn hóa Nhà thờ Kim Bình đang được đầu tư xây dựng thu
hút được nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.
1.5 Quá trình du nhập và phát triển của Thiên chúa giáo ở huyện Kim
Bảng, tỉnh Hà Nam.
Đạo Công giáo từ khi ra đời đã phát triển mạnh mẽ. Đến thế kỷ XIV, ở
Việt Nam có giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo. Sách Khâm định Việt sử thông
giám cương mục viết: ‘‘Năm Nguyên hòa, đời vua Lê Trang Tông (1533) có một
thương nhân là Inikhu đi đường biển lén vào giảng dạy đạo Giatô ở Ninh Cường,
Quần Anh thuộc huyện Nam Dân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy’’.
Theo cuốn: “Lịch sử Đàng ngoài’’, ngày 19 tháng 3 năm 1627, linh mục
Alecxandre Rhodes, giáo dân quen gọi là cha Đắc Lộ và giáo sỹ Pierre Marquez
đến cửa Bạng (nay là Ba Làng) của tỉnh Thanh Hóa lập cửa thánh Giuse. Ít ngày
sau, linh mục Đắc Lộ đi thuyền ra Thăng Long. Ngày 7 tháng 5 năm 1626, đến
Hang Dơi, gần núi Ngọc thuộc làng Thủy Cước xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng
(Hà Nam), linh mục Đắc Lộ giảng đạo tại đây. Lúc đầu chỉ có hơn 100 người
theo đạo, sau đó đạo Công giáo từ đây phát triển đến thôn Thanh Nộn thuộc xã
Thanh Sơn, huyện Kim Bảng.
Trên đường biển lên tàu về Ma Cao, Alecxandre Rhodes và Pierre
Marquez dừng chân giảng đạo ở Do Liên (xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng) và
dựng một ngôi nhà thờ nhỏ. Đến 1932 xuất hiện một ngôi nhà thờ mới ở Đồng
Sơn (nay là làng Do Liên, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng). Sau đó các xứ đạo
được phát triển lên phía Bắc của tỉnh Hà Nam. Năm 1842, ở trại Cửu thuộc xã
Chu Giáp, huyện Lý Nhân có một số cư dân theo đạo và lập nhà thờ nhỏ. Trải
qua một thời gian tín đồ phát triển, đến đầu năm 1843 nhà thờ chuyển về Cao
Trung. Cuối năm 1838, xứ Cao Trung được thành lập.
Hà bị bắt tại tại xã Thuận Phong (nay là xã Đại Cương, huyện Kim Bảng), đến
19
ngày 26.12.1868 thì bị hành quyết. Sau đó, linh mục Lê Nam được cử làm linh
mục chánh xứ Kim Bình nhưng ngày 11.6.1869 Lê Nam bị bắt và cuối cùng bị
chết trong ngục. Sau đó là giám mục Lâm và giám mục Hoàng phụ trách.
Như vậy, sau hơn 200 năm truyền giáo và phát triển đạo, thì đến giữa thế kỷ
XIX đạo Công giáo đã trụ vững ở Hà Nam. Tuy nhiên, đạo Công giáo chỉ thực sự
phát triển mạnh mẽ sau khi Nguyễn Dũng về làm chánh xứ Kim Bình (1871).
Trong hơn 30 năm làm chánh xứ Kim Bình (1871-1903), dựa vào thế lực
của mình với chính quyền thực dân phong kiến, Nguyễn Dũng ra sức mở rộng
xứ, họ đạo, củng cố giáo hội cơ sở, xây dựng nhà thờ, biến Kim Bảng trở thành
một trong những trung tâm tôn giáo lớn của tỉnh Hà Nam.
Tháng 5 năm 1873, giám mục Lê Tuấn từ Pháp sang Việt Nam chọn giám
mục Phạm Việt Doanh làm phó giám mục, cùng đi kinh lý ở hai tỉnh Hà Nam và
Thanh Hóa. Khi đến Hà Nam hai ông quyết định thành lập nhà tràng La tinh ở
Hà Tiên do giám mục Doanh làm giám đốc. Cơ sở vật chất ban đầu là mấy gian
nhà lá chứa khoảng 50 chủng sinh và một nhà in chữ Hán. Đến đời cố Tràng
Tôn làm giám đốc mới xây dựng lớn và đến tháng 9 năm 1932 khánh thành khu
chủng viện đồ sộ như ngày nay. Sau 74 năm (1947-1873) chủng viện Hà Tiên
vừa xây dựng vừa đào tạo được 1.207 chủng sinh, trong đó có 2 người được thụ
phong Giám mục là Trần Đình Chi, Nguyễn Quang Vá, 342 người được thụ
phong linh mục.
Ngày 17.4.1902, Giáo hoàng Leo XIII ban sắc lệnh chỉ chia địa phận Tây
Đàng Ngoài (Hà Nội), thành lập địa Bắc Kỳ duyên hải gồm các tỉnh: Hà Nam,
Thanh Hóa, huyện Lạc Thủy (tỉnh Hòa Bình) và Sầm Nưa (Lào) do giám mục
Alecsandre Marouu (có tên Việt là Thành) coi sóc. Tòa giám mục và nhà thờ
chính đặt tại Kim Bình. Năm 1923, địa phận Bắc Kỳ duyên hải được đổi thành
địa phận Kim Bình.
Tính đến năm 1902, toàn tỉnh Hà Nam có 11 xứ đạo, riêng huyện Kim