BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ LỄ TANG TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN MƯỜNG NHÉ – TỈNH ĐIỆN BIÊN - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÒ KHAI NU BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ LỄ TANG TRUYỀN
THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ
Ở HUYỆN MƯỜNG NHÉ – TỈNH ĐIỆN BIÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÒ KHAI NU


đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và bạn bè để đề tài được hoàn chỉnh.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện

Lò Khai Nu
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ
sở dữ liệu của đề tài 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.3. Phạm vi nghiên cứu 4
3.4. Phương pháp nghiên cứu 5
3.5. Cơ sở dữ liệu 5
4. Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của đề tài 5
4.1. Mục đích nghiên cứu 5
4.2. Ý nghĩa của đề tài 5
4.3. Đóng góp của đề tài 5
5. Cấu trúc của đề tài 6
CHƯƠNG 1. ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC HÀ NHÌ Ở HUYỆN
MƯỜNG NHÉ – TỈNH ĐIỆN BIÊN 7
1.1. Khái quát về nguồn gốc lịch sử 7
1.2. Những đặc trưng văn hóa truyền thống của người Hà Nhì ở huyện
Mường Nhé - Điện Biên 8
CHƯƠNG 2. LỄ TANG TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở
HUYỆN MƯỜNG NHÉ – TỈNH ĐIỆN BIÊN 16

với bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình đã góp phần tạo nên nét độc đáo của
văn hóa miền Tây Bắc và làm phong phú thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt
Nam.
Trong số các dân tộc ở vùng Tây Bắc có dân tộc Hà Nhì - một dân tộc thiểu số
có số dân đáng kể trong số các dân tộc thiểu số của nước ta. Địa bàn cư trú chủ yếu
của dân tộc Hà Nhì ở các tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Mặc dù là một dân
tộc thiểu số và có nhiều hạn chế nhất định trong sự phát triển kinh tế, văn hóa
nhưng người Hà Nhì đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
cũng như làm phong phú thêm bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Người Hà Nhì sống ở mỗi tỉnh lại có những phong tục, tập quán mang nét
đặc trưng riêng. Do vậy, việc tìm hiểu về đời sống văn hóa của người Hà Nhì là
vấn đề cần được quan tâm, nhất là những giá trị văn hóa truyền thống về mặt
tinh thần như: Lễ tết, ma chay, cưới xin,… Hiện nay, những hiểu biết về các
phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số nói chung và của người Hà Nhì nói
riêng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề tang ma. Vì thế, để khắc phục hạn
chế này chúng ta cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu. Bởi nó không chỉ giúp
chúng ta có thêm kiến thức để hiểu rõ hơn về dân tộc này mà còn góp phần nâng
cao hiểu biết một cách toàn diện, sâu sắc hơn về dân tộc Hà Nhì nói chung và
Hà Nhì ở huyện Mường Nhé nói riêng.

2
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc Hà Nhì.
Nhưng do nhiều lí do khác nhau mà tục tang ma truyền thống của người Hà Nhì ở
huyện Mường Nhé - Điện Biên nói riêng và ở các tỉnh khác nói chung vẫn chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập tới một cách thực sự đầy đủ và sâu sắc.
Trong công cuộc đổi mới ngày nay, nền kinh tế nước ta ngày một phát triển
hơn. Sự phát triển đó đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội,
nhất là về văn hóa. Sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các quốc gia cũng
ngày càng được mở rộng hơn. Đây là điều kiện thuận lợi để các dân tộc tiếp thu
những nét văn hóa mới, tiến bộ của nhân loại.

chỉ đề cập một cách sơ lược về thành phần và sự phân bố các dân tộc trên
lãnh thổ Việt Nam.
- Vũ Ngọc Khánh, Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam,
NXB Thanh Niên (2004). Tác giả đã đề cập đến truyền thống văn hóa của các
dân tộc thiểu số Việt Nam, trong đó có dân tộc Hà Nhì. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề
cập đến lịch sử cuộc đấu tranh bảo vệ làng bản của họ… những nghiên cứu đó
còn rất khái quát.
- Chu Thùy Liên, Văn hóa dân gian dân tộc Hà Nhì, NXB Văn hóa Dân tộc
(2008). Tác giả đã viết về nguồn gốc, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, tổ
chức xã hội của dân tộc Hà Nhì. Song đó là những phong tục, tập quán,… của
người Hà Nhì nói chung.
- Bùi Văn Tịnh, Cẩm Trọng, Nguyễn Hữu Ung, Các tộc người ở Tây Bắc
Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc (1975). Tác phẩm ngoài việc nói về các tộc
người ở Tây Bắc còn đề cập tới một số nét cơ bản về hình thái kinh tế, văn
hóa, xã hội cũ ở Tây Bắc nói chung và của người Hà Nhì nói riêng. Tuy nhiên
còn rất sơ lược.
- Nguyễn Đình Khoa, Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học
xã hội (1976). Tác giả đã nghiên cứu khá tỉ mỉ về đặc điểm nhân chủng của các
dân tộc Việt Nam, trong đó có người Hà Nhì. Nhưng tác phẩm chỉ dừng lại ở đó
mà chưa đề cập tới văn hóa của người Hà Nhì.
- Trần Mạnh Thường, Almanac kiến thức văn hóa - giáo dục, NXB Văn
hóa - Thông tin (2005). Trong phần viết về văn hóa, tác giả đã nói tới nguồn gốc
lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động kinh tế sản xuất, văn hóa ẩm thực của các dân tộc

4
Việt Nam trong đó có dân tộc Hà Nhì. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập tới một cách
khái quát, chung chung.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu của các tác giả, các nhà báo, các cán
bộ, ban ngành như: Ban tuyên giáo của huyện, phòng văn hóa huyện, đài truyền
thanh truyền hình Mường Nhé, sở văn hóa thông tin tỉnh Điện Biên, Bộ văn hóa…

3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin
3.4.3. Phương pháp lôgic kết hợp phân tích, tổng hợp
3.4.4. Phương pháp điền dã
3.5. Cơ sở dữ liệu
- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước ban hành về văn hóa.
- Các chuyên khảo, các bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Các tài liệu nghiên cứu điền dã của tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
4. Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của đề tài
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở những nguồn tài liệu khác nhau, đề tài nhằm đi sâu nghiên cứu
một góc độ cụ thể về văn hóa truyền thống người Hà Nhì: Bước đầu tìm hiểu về
tục tang ma truyền thống, để giới thiệu cho bạn đọc cũng như giúp độc giả hiểu
rõ hơn về phong tục truyền thống của dân tộc Hà Nhì - một dân tộc thiểu số.
- Từ đó đề ra những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp để giữ gìn, bảo
tồn và phát huy nét văn hóa truyền thống đó.
4.2. Ý nghĩa của đề tài
- Giữ gìn, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của của dân tộc
Hà Nhì nói riêng và của các dân tộc Việt Nam nói chung.
4.3. Đóng góp của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ, phong phú thêm sự hiểu biết về một khía cạnh
văn hóa truyền thống của người Hà Nhì cũng như nét đẹp văn hóa của dân tộc.
- Tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
Kích thích tình yêu dân tộc và ý thức bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống.
- Từ những kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy những nghi lễ mang tính riêng
biệt, độc đáo và đặc sắc trong lễ tang truyền thống của người Hà Nhì ở huyện
Mường Nhé – tỉnh Điện Biên. Qua đó, giúp cơ quan chức năng đưa ra những
vấn đề và biện pháp nhằm giữ gìn, phát huy nét văn hóa truyền thống đó.

6
- Đề tài là nguồn tư liệu quý báu cho các giáo viên trong quá trình giảng

MƯỜNG NHÉ – TỈNH ĐIỆN BIÊN

1.1. Khái quát về nguồn gốc lịch sử
Theo tài liệu lịch sử, người Hà Nhì tên tự gọi là Hà Nhì Già, tiếng Hán
(Hãnízú, Cáp Nê tộc) tên gọi khác : U Ní, Xá U Ní, là một trong 54 dân tộc sống
trên đất nước Việt Nam. Người Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở Nam Trung
Quốc và Việt Nam. Từ thế kỉ VIII, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của họ ở Tây
Bắc Việt Nam. Theo lời truyền miệng của người Hà Nhì thì họ có nguồn gốc từ
người Di (Yi) tách khỏi nhau thành bộ tộc riêng biệt 50 đời về trước. Theo các
nhà khoa học, tổ tiên của người Hà Nhì là tộc người Khương đã di cư từ cao
nguyên Thanh Tạng xuống phía Nam từ trước thế kỉ III.
Theo số liệu thống kê năm 2004, ở Việt Nam có khoảng 24.718 người Hà
Nhì cư trú chủ yếu ở 3 tỉnh: Lai Châu (16.045 người), Điện Biên (5.255 người),
Lào Cai (3.418 người), giáp với hai nước láng giềng là Trung Quốc và Lào. Căn
cứ vào trang phục, tập quán, ngôn ngữ và địa bàn sinh sống, người Hà Nhì được
chia làm 3 nhóm: Hà Nhì Cồ Chồ (sinh sống chủ yếu địa bàn tỉnh Lai Châu), Hà
Nhì Lạ Mí (sinh sống chủ yếu ở địa bàn tỉnh Điện Biên) và Hà Nhì Đen (sinh
sống chủ yếu ở địa bàn tỉnh Lào Cai).
Như vậy, đồng bào Hà Nhì đã có mặt trên dải đất Việt cổ từ lâu. Do sự biến
động xã hội mà đồng bào có sự di chuyển qua lại trong khu vực địa lí lịch sử của
mình. Đến những thế kỉ gần đây do không chịu được sự áp bức, bóc lột và
những âm mưu, thủ đoạn của các triều đại phong kiến phương Bắc mà có một bộ
phận người Hà Nhì đã di chuyển xuống phía Nam. Khi biên giới quốc gia hình
thành, họ trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Qua
tìm hiểu truyền thuyết và tài liệu dân tộc học ta thấy trong thành phần người Hà
Nhì Việt Nam có lớp người Hà Nhì cư trú lâu đời và có những lớp mới di cư đến
cách đây khoảng vài trăm năm. Người Hà Nhì quần cư chủ yếu ở các huyện: Bát
Xát (Lào Cai), Mường Tè (Lai Châu), Mường Nhé (Điện Biên). Hiện nay họ đã
sống định cư, tập trung thành từng bản đông đúc, nhiều bản có tuổi trên một


chăn nuôi vừa giỏi trồng trọt, cả trồng ngô, trồng lúa lẫn trồng bông, trồng chàm,
cả ở trên nương lẫn ở dưới ruộng, Mỗi nhà có một mảnh vườn cạnh nhà, họ phát
triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên. Có nhiều gia đình

9
chăn nuôi trâu, bò và số lượng lên đến vài trăm con. Họ biết cách khai khẩn đất
đai, đào mương đắp đập, sử dụng sức kéo của trâu, bò. Chính vì vậy, bên cạnh
làm nương làm rẫy người Hà Nhì còn chú trọng việc phát triển ruộng mà đa
phần là ruộng bậc thang. Nghề trồng bông, dệt vải đảm bảo nhu cầu vải mặc
truyền thống bởi phụ nữ Hà Nhì rất chăm chỉ và giỏi việc canh cửi tằm tơ, họ tự
đảm nhận mọi công đoạn cho đến lúc làm ra tấm vải, tuy nhiên trong những năm
gần đây việc dệt vải không còn phổ biến trong cư dân Hà Nhì, điều này cũng
một phần xuất phát từ sự phát triển của xã hội và đồng thời cũng do cuộc sống
người dân ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, trồng chàm và nhuộm chàm là
một hoạt động rất đặc sắc ở người Hà Nhì.
Phương tiện vận chuyển: Người Hà Nhì phổ biến dùng gùi đeo qua trán,
những chiếc sọt được đan bởi tài năng và sự khéo léo của những “kỹ sư” đan lát
của người dân Hà Nhì và đặc biệt để làm nên những chiếc sọt ấy không thể thiếu
vật liệu vừa dẻo dai lại chắc là cây giang, một số nơi dùng ngựa trong việc đi lại
và chuyên chở. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội và mức sống của
người dân ngày càng được cải thiện, bên cạnh những phương tiện truyền thống
đang bị mai một dần là sự xuất hiện những phương tiện hiện đại như là xe máy, ô
tô… để vận chuyển và đi lại. Sự phát triển đó cũng đã làm cho cuộc sống của
người dân nơi đây được cải thiện được phần nào, đặc biệt là góp phần vào sự
nghiệp “xóa đói giảm nghèo” ở miền biên cương nơi đây.
1.2.2. Đời sống văn hóa - tinh thần
Ẩm thực: Đặc trưng kinh tế nổi bật của người dân Hà Nhì là tự cung tự cấp
nên bữa ăn thường ngày của người Hà Nhì khá đơn giản, chỉ có vài món cơm,
canh, rau… Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ trồng trọt và chăn nuôi. Một
ngày người Hà Nhì ăn ba bữa: Sáng, trưa, tối. Trong đó, bữa sáng được người

cơm và thức ăn để ăn trên đó bởi họ chỉ làm những việc ấy vào ngày tết hay vào
dịp bếp mới làm xong. Hai bên gian bếp nếu đứng từ ngoài quay mặt vào trong
thì phía tay trái là buồng gia chủ, ở đó cha mẹ sinh hoạt và đặc biệt là bàn thờ tổ
tiên được đặt trong buồng của gia chủ, thờ cúng tổ tiên được diễn ra trong ấy.
Bên phải là buồng con cái xếp theo thứ tự từ trưởng xuống thứ, hết buồng anh
em nam là đến buồng chị em nữ.

11
Khi dựng nhà, người Hà Nhì không đục đẽo lắp mộng như người Kinh mà
họ chọn những cột chính là cây có trạc hai sau đó lao xà ngang và buộc bằng lạt
là cây sắn dây rừng, dây mây hay dây được chẻ từ cây giang, đây là những
nguyên liệu phổ biến và dễ kiếm, gần gũi với con người Hà Nhì. Hầu như dui
mè cũng bằng gỗ và đó là những loại gỗ chắc dai, khó mọt. Cùng với kĩ thuật
trình tường thì trình độ đan phên của người Hà Nhì đạt trình độ cao. Người Hà
Nhì đan được nhiều kiểu phen khác nhau nhìn rất đẹp mắt và kín đáo.
Trang phục: Giống như các dân tộc khác, người Hà Nhì cũng có trang phục
truyền thống của dân tộc mình.
Trang phục đàn ông: Áo (á khồ): Áo nam ngày thường là loại áo làm bằng
vải tự dệt, cài cúc giữa hoặc cài cúc lệch, áo dài qua mông chia làm hai loại là áo
dài tay (á khồ lạ pồ mố) và áo không tay (á khồ lạ pồ mà chụ). Quần (h’là trùy):
Là loại cắt kiểu chân què, cạp to dùng để xoắn vắt hai sừng sang hai bên cho vừa
bụng, dưới gấu có viền, quần Hà Nhì cũng có điểm giống với quần ống rộng của
người h’mông. Khăn: Là miếng vải rộng 40cm, dài 2 - 3m, khi đội gấp miếng
vải thành 3 - 4 lượt, khi gần hết giắt múi ra sau gáy.
Trang phục phụ nữ: Với chiếc mũ (ụ khu) - khăn đội đầu được trang trí bởi
nhiều cúc bạc, nhiều hạt cườm, nhiều tua rua bằng các loại chỉ màu sặc sỡ nhìn
rất đẹp mắt. Phụ nữ Hà Nhì mặc áo dài, 5 thân, xẻ từ sườn xuống chân, không
chiết co như áo tân thời của phụ nữ người Kinh, phần tay áo được coi là “linh
hồn” của chiếc áo được trang trí bằng nhiều loại vải màu, sặc sỡ và đẹp mắt .
Người Hà Nhì tự làm váy áo cho mình bằng vải bông nhuộm chàm màu đen,

Nhì quan niệm bất cứ sự việc hiện tượng nào cũng có linh hồn và số kiếp, từ
vách đá, dòng sông, cái cây, con suối đến đất,… Các sinh vật chỉ có một hồn,
riêng con người có tới 92 hồn được gọi là “Hi thá”, 92 hồn đều thống nhất và
mạnh như nhau. Hồn chính trú ngụ ở trên đầu, vì vậy người Hà Nhì đội mũ, khăn
để bảo vệ linh hồn. Ngoài ra mắt, mũi, chân, tay đều có linh hồn. Bộ phận nào bị
bệnh thì linh hồn ở bộ phận đó đã ra đi, cần phải tiến hành các nghi lễ cúng.
Người Hà Nhì kiêng xoa đầu, đập tay lên đầu vì sợ hồn chính giật mình bay đi,
sẽ bị lạc, người dễ ốm, ốm quá phải làm lễ cúng.
Người Hà Nhì có tục thờ các loại thần ma: Thần ma là tổ tiên trong gia
đình. Cũng giống các dân tộc anh em khác, người Hà Nhì quan niệm rằng người

13
chết sẽ thành ma, quỷ (Nẹ khà). Có 2 loại ma là ma ác và ma thiện. Theo quan
niệm của họ, ma ác thường làm cho người sống ốm đau, mùa màng thất thu, ma
tốt giúp người sống may mắn và làm ăn phát đạt. Ngoài ra, người Hà Nhì còn
thờ thần coi giữ bản mường (có lễ cúng bản) và có các nghi lễ nông nghiệp
khác: Lễ cơm mới, lễ gieo lúa, lễ đi tìm nương,…
Văn học - nghệ thuật dân gian: Dân tộc Hà nhì có một nền văn hóa - văn
nghệ lâu đời, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Bao gồm nhiều loại bài hát
nhiều điệu múa, nhiều kiểu nhạc cụ và rất nhiều tác phẩm văn học dân gian. Về
hát, có hát ru con, hát đối đáp, hát đưa ma, hát mời rượu, hát chào khách, hát
mừng nhà mới và đặc biệt là bài hát dùng trong đám cưới có độ dài hơn 400 câu
của người Hà Nhì ở Mường Nhé – tỉnh Điện Biên. Về múa có các điệu: Múa lên
nương, múa dệt vải, múa xòe, các điệu múa thường được người Hà Nhì múa vào
dịp lễ tết, nhà mới hay cưới hỏi… Về nhạc cụ có: Trống (hừ từ), chiêng (pí li),
thanh la, đàn môi (lạ tỳ), kèn rơm (am bạ), kèn lá (á pạ pô), sáo sậy (mé đu) và
các loại đàn dây, trai gái Hà Nhì đa phần thành thạo các nhạc cụ đặc biệt sáo
được coi là nhạc cụ của cả nam và nữ… Về văn học, người Hà Nhì có rất nhiều
truyện cổ tích, thần thoại, trường ca, dân ca, truyện thơ, truyền thuyết, thành
ngữ, ca dao, tục ngữ,…

kinh nghiệm truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác.
Chơi: Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm, khéo
léo như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay. Các trò chơi giải trí đều
mang ý nghĩa lành mạnh, mang tính chất giáo dục cho thế hệ trẻ.
Sinh đẻ: Phụ nữ Hà Nhì đẻ đứng. Để dễ đẻ, họ có tục đập vỡ ống bương
đựng nước cho nước tóe ra hoặc thả ống bương nước trong có cái đục từ trên đỉnh
nóc nhà xuống, đục bắn ra giống như đứa trẻ được đẻ ra. Có nơi sản phụ được
uống nước tro của ruột voi với mong muốn sản phụ có sức mạnh như voi. Nhau
thai được chôn ở ngay sau cửa ra vào hay cột cạnh bếp lò. Nhà có trẻ mới sinh
thường được báo hiệu bằng chiếc nón úp trên cọc ở trước cửa, nếu cọc ở phía bên
phải là con gái, phía bên trái là con trai. Ngày nay, người ta thường treo ngọn cỏ
xanh để báo hiệu nhà có trẻ được sinh ra, khi nhà có trẻ được người nhà không để
khách lạ vào nhà, không để người yếu vía vào nhà vì họ quan niệm khách đến nhà
đầu tiên và đến nhà nhiều nhất sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính cách của trẻ.

15
Với bề dày lịch sử và những bản sắc văn hoá riêng của họ, người Hà Nhì ở
huyện Mường Nhé - tỉnh Điện Biên đã góp phần làm phong phú thêm cho bức
tranh văn hoá chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ngày nay, cùng với
sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, Nhà nước, những tập quán cổ hủ, lạc hậu dần
được loại bỏ thay vào đó là những nếp sinh hoạt văn hoá lành mạnh, góp phần
xây dựng văn hoá huyện Mường Nhé nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung
ngày càng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


do tai nạn thì chết đuối được coi là cái chết sạch nhất, vì họ cho rằng nước đã
cuốn trôi toàn bộ những bụi trần.
Chết già: Nếu chết tại nhà do tuổi già sức yếu được coi là cái chết đẹp, đám
tang được tổ chức bình thường. Còn trường hợp chết ngoài nhà (do tai nạn, chết
trong bệnh viện,…) thì cũng không được tổ chức tang lễ.
Thông thường, những cái chết ngoài nhà thì con cháu ít được biết đến (vì
đó là cái chết xấu).
2.2. Tang phục và các điều kiêng kị của gia đình chịu tang
Tang phục: Người chết được mặc quần áo mới do con cái, họ hàng may
cho. Còn những người trong gia đình thì mặc trang phục truyền thống, đeo khăn
tang trên đầu.
Gia đình có người vừa mới chết phải kiêng kị những điều sau: Không được
đi ăn tết ở bản khác, trong tháng đó không được đi ăn uống linh đình cùng người
ngoài (cơ quan tổ chức), trong vòng 3 năm đi gặt lúa phải để lại một ít ở ruộng

17
gọi là phần của người chết, người thờ cúng người chết không được đi dự lễ cưới
hỏi, ăn uống ở nhà khác. Ngoài ra, trong đám tang của người Hà Nhì không
được sử dụng các loại nhạc cụ như: Trống, chiêng, kèn, cờ, lọng…
2.3. Các thủ tục của đám tang
Cuộc đời của con người được tính từ khi cất tiếng khóc chào đời đến lúc
trút hơi thở cuối cùng. Lúc ấy linh hồn người chết đã về với tổ tiên. Nhưng với
người sống thì cuộc sống mới của người chết mới bắt đầu. Cái chết của mỗi cá
nhân nhất là những bậc cao niên có nhiều đóng góp cho cộng đồng đều được
mọi người tôn kính, lòng tôn kính đó được thể hiện qua việc thực hiện những
nghi lễ truyền thống trong đám tang. Cũng vì thế mà người Hà Nhì chủ yếu tổ
chức đám tang cho những người già.
2.3.1. Thủ tục tại nhà gia chủ
Báo tin: Khi gia đình có người chết (bố hoặc mẹ), việc đầu tiên là người
trong nhà phải báo tin cho con cái, anh em họ hàng ruột thịt của người chết về

Tắm rửa cho người chết: Trước khi cho vào quan tài, con cái phải tắm rửa
trực tiếp cho bố (mẹ) bởi đây là trách nhiệm của con cái. Mục đích của công
việc này là tẩy hết bụi trần cho người chết để họ bắt đầu cuộc sống mới, đồng
thời đây cũng thể hiện tình cảm và sự hiếu thảo của con cái đối với cha, mẹ hoặc
anh, chị, em. Nước dùng để tắm rửa cho người chết phải là nước ấm hoặc nước
được nấu từ các loại lá thơm, họ kiêng dùng nước lã hoặc các loại nước khác.
Đối với họ, nước lã là loại nước còn bẩn chưa lọc tẩy các vi khuẩn và chỉ có
nước ấm đã qua đun sôi mới thể hiện tình cảm của người sống đối với người đã
chết.
Mặc quần áo cho người chết: Sau khi tắm rửa xong con cái sẽ mặc quần áo
mới cho bố (mẹ). Quần áo của người chết phải là mới chưa sử dụng lần nào, vì
theo họ chết nhưng chưa hết, chết ở kiếp này sang thế giới bên kia lại tái sinh và
tiếp tục kiếp sống ở đó, nếu người sống mang trang phục đã sử dụng ở trần gian
sang thì sẽ lưu luyến và không siêu thoát được. Quần áo phải do con cái, họ
hàng ruột thịt may cho và phải mặc số bộ lẻ (1,3,5,7 ) thường là 3 - 5 bộ, chứ
không mặc số bộ chẵn (2,4,6,8 ). Vì họ quan niệm số lẻ là thiếu thốn chưa đầy
đủ, nên sẽ được người chết phù hộ, được người chết cho phúc lộc cho sức khỏe

19
và phú quý sao cho đầy. Còn số chẵn nghĩa là đầy đủ, đủ đôi, đủ cặp thì người
chết sẽ không phù hộ nữa. Do người chết có thể được mặc nhiều bộ quần áo nên
quần áo làm cho người chết thường được may rất rộng. Có những đám tang
đông con cháu thì nhiều bộ quần áo, chính vì vậy con cháu phải lựa chọn ra
quần áo nào chất lượng vải tốt nhất, may đẹp nhất mặc cho người chết.
Nếu là bố, khi tắm rửa xong con cái sẽ mặc quần áo mới theo trình tự từ
chân lên đầu tức là phải đi giày trước rồi mặc quần, rồi mặc áo, đến quấn khăn,
sau đó cho bạc vào một chiếc túi nhỏ và đặt cạnh má phải. Họ quan niệm rằng
con trai chết từ chân lên đầu và trình tự mặc đồ cũng phải theo trình tự người
chết đi. Việc đặt túi bạc bên cạnh mà bên phải thể hiện quan niệm người chết
cũng cần tiền mang theo để làm vốn và với con trai chiều thuận là bên phải nên

thoát. Người Hà Nhì miết sáp ong ở những chỗ giáp ranh mặt ván chứ không dùng
đinh đóng lại, họ không cho bất cứ thứ gì khó phân hủy vào quan tài kể cả vải,
quàn áo đến giày dép phải là những thứ dễ phân hủy và nhiều gia đình tự làm, tự
dệt những đồ ấy. Sau đó, các con gái, con dâu dùng các sợi chỉ màu (chỉ dùng ba
màu là màu vàng, màu đỏ, màu tím) làm thành 3 bông hoa đặt ở đầu, giữa và cuối
quan tài (đặt trên bề mặt quan tài và được gắn cố định bằng xi măng). Rồi đặt
quan tài ở gian giữa nhà.
Những nghi lễ sau khi nhập quan: Sau khi nhập quan, gia đình có người
chết mới báo tin cho trưởng bản. Khi nghe 3 phát súng báo tin của trưởng bản,
mọi người trong bản ngừng lao động, tập trung ở nhà người quá cố để chia buồn
và giúp đỡ gia chủ làm tang lễ. Nếu nhà nghèo, gia đình không làm nổi tang lễ
cho người quá cố theo đúng nghi lễ quy định thì những người láng giềng sẽ góp
gạo, tiền, công sức để làm. Hành động này vừa mang tính giúp đỡ vừa mang tính
vay mượn nhưng không có hợp đồng, giấy nợ. Khi nào nhà ai trong số họ có
việc thì mình lại sang giúp đỡ, giá trị tình cảm tinh thần luôn được coi trọng hơn
giá trị vật chất.
Thăm hỏi, chia buồn và đồ cúng tang: Thông thường hàng xóm láng giềng
khi đến thăm hỏi, chia buồn với gia đình có người chết thường mang theo quà
viếng và giúp tang chủ tiếp khách. Còn người nhà tang chủ chỉ khóc và trực thi
hài. Quà viếng là tùy tâm, tùy điều kiện của mỗi người và mối quan hệ của họ đối
với người chết và gia đình người chết, gồm: Rượu, gạo, tiền, củi, gà, lợn, vải,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status